Từ ‘ở xa’ thành ‘đi gần’: Hạ tầng thay đổi cuộc chơi bất động sản

https://cafef.vn/tu-o-xa-thanh-di-gan-ha-tang-thay-doi-cuoc-choi-bat-dong-san-188260902071323026.chnTheo Châu Anh/VTC News | 02-09-2026 – 08:50 AM | Bất động sản
Từ 'ở xa' thành 'đi gần': Hạ tầng thay đổi cuộc chơi bất động sản

Nếu như trước đây, nhiều người ngại mua nhà ở các vùng ven đô thì vài năm trở lại đây, tâm lý này đã có sự thay đổi rõ ràng khi hạ tầng giao thông được mở rộng.

Những năm gần đây, thị trường bất động sản phát triển theo xu hướng mới, đó là hạ tầng mở rộng đến đâu, thị trường bất động sản sẽ dịch chuyển đến đó. Cũng chính vì vậy, nhiều khu vực ven đô ngày càng thu hút được sự chú ý của người mua.

Anh Nguyễn Tấn Phát, một nhà đầu tư tại Hà Nội, chia sẻ, hồi tháng 6/2025, anh mua căn hộ hơn 60 m² tại một siêu đô thị phía đông Hà Nội với giá gần 4 tỷ đồng. Lúc đầu vợ chồng anh khá lo lắng vì quãng đường đi làm ở trung tâm khá xa, nhưng khi về ở, thực tế quãng đường xa hơn 20km lại chỉ mất thời gian di chuyển khoảng 30 phút nhờ kết nối hạ tầng tốt.

Tôi cho rằng, vị trí của bất động sản cần được định nghĩa lại, đó là không phải quãng đường bao xa mà là đi mất bao nhiêu thời gian. Nhà tôi ở ven đô nhưng đi làm lại không lâu bằng nhiều khu vực nội đô nhưng thường xuyên tắc đường ”, anh Phát nêu quan điểm.

Từ 'ở xa' thành 'đi gần': Hạ tầng thay đổi cuộc chơi bất động sản- Ảnh 1.

Thị trường bất động sản đang có xu hướng dịch chuyển theo hạ tầng giao thông. (Ảnh minh họa: Minh Đức).

Ngoài ra, theo anh Phát, nhà ở khu đô thị ven đô còn có nhiều lợi thế hơn nhà đô thị. Đó là có không gian sống thoáng đãng, mát mẻ và vẫn đầy đủ các tiện ích như: siêu thị, trường học, bệnh viện…Đa số các sinh hoạt trong gia đình anh chỉ cần di chuyển trong khu đô thị là đáp ứng đầy đủ.

Nói chung cư dân về sinh sống tại các siêu đô thị ven đô không thiếu một dịch vụ gì. Thậm chí, nếu không phải đi làm thì người dân cũng không cần phải di chuyển ra khỏi khu đô thị ”, anh Phát cho hay.

Ông Nguyễn Văn Thắng (Hà Nội, 60 tuổi) chia sẻ, cách đây 2 năm, ông quyết định bán căn nhà cũ trong ngõ nhỏ ở trung tâm Thủ đô và chuyển về một siêu đô thị ở phía Tây Hà Nội.

Sau khi an cư tại siêu đô thị, lối sống của vợ chồng ông thay đổi hẳn. Sáng sớm, thay vì phải đi vài km mới đến công viên để dạo bộ thì giờ đây, ngày 2 lần, họ đi dạo ngay công viên dưới chân nhà, tâm sự với những người bạn đồng niên.

Ông Thắng cũng tìm thấy những phương pháp vận động giúp nâng cao sức khỏe thể chất lẫn tinh thần như tập dưỡng sinh, chơi cờ, câu cá… ngay tại nơi ở của mình. Những hoạt động cộng đồng đa dạng này đều nằm trong kế hoạch phát triển Câu lạc bộ Sống vui – khỏe và sống xanh – văn minh tại siêu đô thị.

Cũng theo ông, nhiều người yêu thích và lựa chọn các đại đô thị ven đô vì đủ tiện ích và môi trường sống vượt trội từ an ninh, an toàn đến vui chơi giải trí, mua sắm, y tế và chăm sóc khách hàng.

Từ ngày chuyển về đây sống, cả tháng tôi gần như không cần phải rời khỏi khu đô thị vì tất cả các dịch vụ, tiện ích đều đủ cả. Từ siêu thị, nhà hàng, công viên, khu vui chơi, quán cafe, bệnh viện, trường học… đều có. Tôi thậm chí có thể đi bộ đến các nơi này mà không cần phải đi xe máy ”, ông Thắng tâm sự.

Hạ tầng – động lực phát triển bất động sản

Theo ông David Jackson – Tổng giám đốc Avison Young Việt Nam, xu hướng mua nhà tại Hà Nội đang có sự dịch chuyển rõ rệt ra các khu đô thị ven đô nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng kết nối.

Đặc biệt, những khu vực nằm dọc tuyến đường huyết mạch như vành đai 3,5 (kết nối Hà Nội với huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) và vành đai 4 (đi qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh) đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với người mua nhà.

Hạ tầng giao thông ngày một hoàn thiện không chỉ giúp gia tăng tính kết nối liên vùng mà còn thúc đẩy sự phát triển của các khu đô thị vệ tinh, tạo ra những cơ hội mới cho thị trường địa ốc khu vực.

TS. Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) cũng cho rằng, đầu tư công, phát triển hạ tầng, đô thị hóa và công nghiệp đang trở thành những động lực quan trọng của thị trường bất động sản trong giai đoạn mới. Dòng tiền hiện có xu hướng lựa chọn những bất động sản gắn với cực tăng trưởng kinh tế và có khả năng tạo ra giá trị sử dụng thực.

Một khu vực cách trung tâm vài chục km trước đây có thể bị xem là xa, nhưng nếu thời gian di chuyển được rút xuống còn vài chục phút, lợi thế đó sẽ hoàn toàn khác.

Đây cũng là cơ chế từng xuất hiện tại nhiều nền kinh tế châu Á. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc…,các tuyến đường sắt, cao tốc và mạng lưới giao thông liên vùng đã góp phần mở rộng vùng đô thị, thúc đẩy sự hình thành các khu dân cư, thương mại và các cực kinh tế mới.

Việt Nam đang đứng trước một quá trình tương tự, khi hạ tầng ngày càng được đầu tư theo hướng liên kết vùng thay vì chỉ giải quyết giao thông nội đô.

Từ 'ở xa' thành 'đi gần': Hạ tầng thay đổi cuộc chơi bất động sản- Ảnh 2.

Hạ tầng kết nối tốt, bất động sản hút người ở.

Cùng góc nhìn, ông Bạch Dương, Tổng giám đốc PropertyGuru Việt Nam, cũng cho hay, xu hướng dịch chuyển ra các thành phố vệ tinh được dẫn dắt bởi quy hoạch Thủ đô tập trung phát triển liên kết vùng với các địa phương lân cận.

Việc hạ tầng được đầu tư đồng bộ với các tuyến đường vành đai 2, 3, các tuyến cao tốc và metro…giúp kết nối liên vùng trở nên thuận tiện hơn. Ngoài ra, mật độ dân số cao và tình trạng ô nhiễm không khí tại nội đô cũng là lý do khiến nhiều người quan tâm hơn đến các khu vực ngoại vi, nơi không khí trong lành và dân cư ít tập trung hơn.

Các địa phương như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam…đang trở thành điểm đến hấp dẫn nhờ quỹ đất rộng, hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện và chính sách phát triển đô thị bền vững.

Ông Dương cũng nhấn mạnh, thị trường bất động sản Thủ đô chuyển mình theo xu hướng “Hà Nội mở rộng” và nhiều chủ đầu tư lớn đã phát triển các dự án trọng điểm, bổ sung nguồn cung bất động sản tại các thành phố vệ tinh với sự ra đời của hàng loạt khu đô thị mới. Hầu hết các dự án này thu hút lượng lớn cư dân đến sinh sống, vui chơi và làm việc.

Đồng quan điểm, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA cho rằng, đầu tư công, phát triển hạ tầng giao thông tiếp tục tạo động lực dài hạn cho bất động sản, nhưng tác động quan trọng hơn là mở rộng không gian phát triển thay vì tạo ra những cơn sốt giá ngắn hạn. Trong giai đoạn mới, bất động sản gắn với khả năng khai thác, nhu cầu ở thực và các cực tăng trưởng kinh tế sẽ có lợi thế hơn những tài sản chỉ dựa vào kỳ vọng tăng giá.

Như vậy, hạ tầng là chất xúc tác cho một chu kỳ tăng trưởng mới, nhưng không phải mọi khu đất nằm gần một dự án giao thông đều tự động tăng giá.

Giá trị bền vững chỉ xuất hiện khi hạ tầng kéo theo hoạt động kinh tế, dân cư, việc làm và dịch vụ.

Đó cũng là điểm khác biệt của chu kỳ mới: Thay vì chạy theo những nơi có đường sắp đi qua, dòng tiền sẽ tìm đến những nơi hạ tầng thực sự có khả năng tạo ra một nền kinh tế mới.

TP.HCM vào giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay

https://cafef.vn/tphcm-vao-giai-doan-dau-tu-ha-tang-lon-nhat-tu-truoc-den-nay-188260901185952501.chnTheo Hà Linh/VTC News | 01-09-2026 – 20:42 PM | Bất động sản
Nhiều tuyến metro cùng loạt cầu, đường; công trình di dời nhà ven kênh, cải tạo môi trường, chỉnh trang đô thị đang được TP.HCM chạy đua hoàn tất thủ tục đầu tư.

Sau loạt dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, môi trường, nhà ở với tổng vốn đầu tư hơn 181.000 tỷ đồng khởi công dịp Quốc khánh 2/9, TP.HCM đang tiếp tục chuẩn bị khởi công một loạt dự án hạ tầng đặc biệt với vốn đầu tư lớn trong những tháng cuối năm 2026.

Loạt dự án giao thông, chỉnh trang đô thị vốn lớn

Theo Sở Xây dựng, dự kiến 9 công trình trọng điểm sẽ tiếp tục khởi công trong quý III và quý IV năm nay như nâng cấp đường trục Bắc – Nam, đoạn từ đường Nguyễn Văn Linh đến cao tốc Bến Lức – Long Thành; cầu Thủ Thiêm 4, đường liên cảng Cát Lái – Phú Hữu đến đường vành đai 3; dự án nút giao thông Gò Công và nhánh nối đường Xa lộ Hà Nội trên vành đai 3…

Nhiều dự án nạo vét, chỉnh trang đô thị, cải tạo môi trường là rạch Văn Thánh; rạch Ông Bé; rạch Bà Lớn…cũng sẽ khởi công từ nay đến cuối năm.

TP.HCM vào giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay- Ảnh 1.

Cầu Thủ Thiêm 4 với tổng vốn đầu tư khoảng 5.000 tỷ đồng dự kiến khởi công cuối năm 2026.

Đáng chú ý, nhiều tuyến metro kết nối các khu vực của TP, kết nối vùng cũng trong kế hoạch dự kiến khởi công cuối năm 2026, đó là các tuyến Thủ Thiêm – Long Thành gần 46,5km; tuyến metro Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên khoảng 32 km và giai đoạn 1 tuyến số 6 (từ sân bay Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu) khoảng 23 km; tuyến Thủ Dầu Một – Tao Đàn khoảng 35 km.

Trong các dự án này, metro kết nối Thủ Thiêm – sân bay Long Thành với vốn đầu tư lên đến 134.000 tỷ đồng vẫn là dự án được mong chờ nhất.

Tuyến metro này dài 47,7 km, đi qua TP.HCM và Đồng Nai. Trong đó, đoạn qua TP.HCM 11,5 km và TP Đồng Nai 36,2 km, đã được 2 địa phương thống nhất giao cơ quan có thẩm quyền thực hiện là UBND TP.HCM. Thời gian thực hiện từ năm 2026 và dự kiến hoàn thành năm 2030.

3 tuyến metro còn lại gồm metro thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên; metro Thủ Dầu Một – TP.HCM; metro số 6 có tổng vốn đầu tư hơn 260.100 tỷ đồng.

Trong đó, tuyến thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên vốn đầu tư dự kiến 55.000 tỷ đồng. Metro Thủ Dầu Một – TP.HCM kết nối khu vực Bình Dương với trung tâm TP.HCM, có tổng vốn khoảng 118.598 tỷ đồng và metro số 6 có tổng vốn hơn 86.529 tỷ đồng.

Các dự án cầu, đường bộ dự kiến khởi công dịp cuối năm nay cũng là những dự án có vai trò quan trọng kết nối cửa ngõ, giải tỏa ùn tắc giao thông.

Trong đó, dự án nút giao thông Gò Công được đầu tư 4 tầng, có tổng vốn đến hơn 12.440 tỷ đồng, đi qua 3 phường Tăng Nhơn Phú, Long Bình và Long Phước. Đây là dự án với mục tiêu tăng cường khả năng kết nối giữa Vành đai 3 và Vành đai 2 TP.HCM, giảm ùn tắc và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực cửa ngõ phía Đông thành phố.

TP.HCM vào giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay- Ảnh 2.

Loạt dự án chỉnh trang đô thị, giải tỏa nhà ven kênh với quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng tại TP.HCM đã có kế hoạch khởi công đến cuối 2026.

Cũng mục tiêu giảm bớt áp lực ùn tắc giao thông cho khu Đông thành phố, tạo trục vận tải chuyên dụng độc lập cho xe container, là đường liên cảng Cát Lái – Phú Hữu tổng mức đầu tư khoảng 8.782 tỷ đồng.

3 dự án cải tạo kênh rạch, chỉnh trang đô thị dự kiến khởi công từ nay đến cuối năm cũng có vốn đầu tư rất lớn, lên gần 25.570 tỷ đồng. Trong đó, dự án cải tạo rạch Văn Thánh với vốn khoảng 8.555 tỷ đồng đã có kế hoạch khởi công tháng 10 tới.

Giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay

Từ đầu năm đến nay, TP.HCM đã tổ chức 4 đợt khởi công quy mô lớn. Phần lớn các dự án khởi công từ đầu năm đến nay được triển khai bằng nguồn vốn tư nhân.

Khu vực tư nhân được xác định sẽ là nguồn lực chủ đạo, giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển của thành phố, trong khi vốn đầu tư công chủ yếu đóng vai trò dẫn dắt và tạo động lực.

Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho biết năm 2026 và thời gian tới, TP.HCM sẽ là đại công trường với rất nhiều công trình lớn, công trình trọng điểm, đột phá, giúp thành phố bứt phá.

Trong giai đoạn 2026 – 2030, TP.HCM cần khoảng 3,2 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển . Tuy nhiên, ngân sách chỉ tự cân đối khoảng 1 – 1,2 triệu tỷ đồng, khoảng 2 triệu tỷ đồng thành phố sẽ phải huy động từ các nguồn lực bên ngoài, trong đó nguồn lực tư nhân đóng vai trò quan trọng.

Ông Neil MacGregor, Tổng Giám đốc Savills Việt Nam, nhận định Việt Nam đang bước vào một trong những giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay. Làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn đang diễn ra rất mạnh tại TP.HCM và các tỉnh, thành phía Nam.

TP.HCM vào giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay- Ảnh 3.

Dự án chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng, chợ Gà – Gạo ngày 29/8 vừa qua được kỳ vọng sẽ làm thay đổi khu vực trung tâm TP.HCM sau nhiều năm vướng quy hoạch. (Ảnh: Khang Điền)

Ý nghĩa lớn nhất của các dự án này không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà ở khả năng thay đổi cấu trúc phát triển đô thị. Trong đó, hơn 181.000 tỷ đồng vừa được TP.HCM tung ra để khởi công các dự án giao thông, đô thị trọng điểm dịp 2/9, sẽ làm thay đổi rất nhiều diện mạo đô thị.

Khi mạng lưới giao thông được cải thiện, TP.HCM sẽ ngày càng được nhìn nhận như trung tâm của một hệ sinh thái kinh tế rộng lớn hơn, kết nối với các tỉnh lân cận và các hành lang kinh tế trọng điểm phía Nam.

Xu hướng này sẽ mở ra dư địa phát triển cho các khu đô thị mới, trung tâm logistics, hành lang công nghiệp và các điểm đến thương mại ngoài khu vực trung tâm truyền thống.

Chuyên gia Savills cũng cho rằng việc triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn đang làm gia tăng nhu cầu vốn trung và dài hạn tại Việt Nam. Bên cạnh đầu tư công và tín dụng ngân hàng, sự tham gia của khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế đang bổ sung thêm nguồn lực cho phát triển, thúc đẩy sự tham gia của nhiều nguồn lực khác nhau.

Và với tốc độ đầu tư hạ tầng như hiện tại, trong vài năm tới, những địa điểm sở hữu khả năng kết nối thuận lợi sẽ có lợi thế trong việc thu hút dân cư, doanh nghiệp và dòng vốn đầu tư. Đồng thời, sự hình thành của các hành lang kinh tế mới có thể thúc đẩy quá trình phát triển các cực đô thị và thương mại mới, góp phần thay đổi bản đồ giá trị bất động sản tại TP.HCM và khu vực phía Nam.

Trong danh mục các công trình, dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật trọng điểm trên địa bàn, với mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành cơ bản hạ tầng giao thông khung, kết nối vùng và ưu tiên các dự án đường sắt đô thị gắn với phát triển TOD, TP.HCM đưa ra 77 dự án với tổng vốn khoảng hơn 1,78 triệu tỷ đồng, bao gồm 11 tuyến metro, 51 dự án đường bộ, 14 dự án hạ tầng kỹ thuật và 1 dự án đường thủy.

Trong số này, có 11 dự án đang thi công với tổng vốn đầu tư khoảng 129.986 tỷ đồng.

Các dự án còn lại bao gồm nhóm đã phê duyệt chủ trương đầu tư và lập dự án; nhóm đang lập hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư và nhóm đang nghiên cứu, lập đề xuất đầu tư, với tổng vốn gần 1,6 triệu tỷ đồng.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng

https://cafef.vn/tao-dot-pha-trong-quan-ly-su-dung-nguon-luc-dat-daibai-cuoi-de-dat-dai-thuc-su-tro-thanh-nguon-luc-cho-tang-truong-188260901144954915.chnTheo Đình Hiệp | 01-09-2026 – 16:12 PM | Bất động sản
Thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, các đại biểu Quốc hội thống nhất yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý. Đặc biệt là đẩy nhanh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục và chuyển đổi số, đồng thời kiểm soát chặt quyền lực trong lĩnh vực đất đai nhằm tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai.

Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân”, qua đó giải quyết căn cơ các điểm nghẽn, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 1.

Luật Đất đai (sửa đổi) có nhiều điểm mới làm cơ sở pháp lý để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về quản lý và sử dụng đất đai trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Quang Thái

Từ quản lý hành chính sang giải phóng nguồn lực đất đai

Tại các phiên thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, nhiều đại biểu Quốc hội thống nhất cao với sự cần thiết và tính cấp bách của việc sửa đổi toàn diện luật.

Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai để khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Một trong những giải pháp quan trọng được nhiều đại biểu đề cập là phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho địa phương.

Dự thảo Luật định hướng giao địa phương thực hiện một số nội dung như giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc thẩm quyền. Điều này được đánh giá là phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 2.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) thảo luận tại kỳ họp Quốc hội. Ảnh: quochoi.vn

Phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) đề nghị, việc phân cấp phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Đặc biệt, những quyết định liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giá đất và nghĩa vụ tài chính cần có cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ để hạn chế nguy cơ lạm quyền, thất thoát hoặc vận dụng tùy tiện.

Cũng liên quan vấn đề này, đại biểu Quốc hội Nguyễn Đặng Ân (Đoàn Lạng Sơn) cho rằng, cần phân định cụ thể hơn thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời bảo đảm các điều kiện về nhân lực, dữ liệu, kinh phí và hỗ trợ chuyên môn cho cấp xã.

Nếu chỉ giao thêm thẩm quyền mà không đi kèm nguồn lực, phân cấp có thể trở thành áp lực, thậm chí làm gia tăng rủi ro pháp lý đối với cán bộ cơ sở.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 3.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) nêu ý kiến tại kỳ họp Quốc hội. Ảnh: quochoi.vn

Đó cũng là vấn đề được đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) lưu ý. Theo đại biểu, chưa nên vội giao trực tiếp cho cấp xã những thẩm quyền phức tạp như thu hồi đất, giao đất trong bối cảnh cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia đang tiếp tục hoàn thiện, còn năng lực chuyên môn và điều kiện thực thi giữa các địa bàn chưa đồng đều.

Để tránh tình trạng “mỗi nơi một kiểu”, các đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành khung trình tự, thủ tục hành chính thống nhất trên toàn quốc.

Địa phương có thể chủ động xây dựng cơ chế phối hợp nội bộ để rút ngắn thời gian xử lý, nhưng không đặt thêm thành phần hồ sơ, điều kiện hoặc thủ tục hành chính ngoài khung pháp luật. Cách tiếp cận này vừa tạo dư địa cho địa phương chủ động, vừa bảo đảm môi trường đầu tư thống nhất, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 4.

Đại biểu Quốc hội Hoàng Minh Hiếu (Đoàn Nghệ An) phát biểu thảo luận. Ảnh: quochoi.vn

Cùng với phân cấp, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai được xem là một điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý.

Đại biểu Quốc hội Hoàng Minh Hiếu (Đoàn Nghệ An) đề nghị xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thống nhất, dùng chung; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa Luật Đất đai với Luật Dữ liệu và các luật liên quan. Mọi hoạt động tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt, khai thác dữ liệu cần xác định rõ chủ thể thực hiện và phải lưu giữ lịch sử thay đổi để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết trách nhiệm.

Một điểm nghẽn khác được các đại biểu đặc biệt quan tâm là sự thiếu đồng bộ giữa Luật Đất đai với Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản.

Các đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát đến từng điều khoản có liên thông giữa các luật, bảo đảm một chính sách được mở ra ở luật này phải có đầy đủ cơ chế thực hiện ở luật khác, tránh tình trạng chính sách đúng nhưng không thể đi vào cuộc sống do vướng quy định liên quan.

Theo đại biểu Quốc hội Phạm Thu Xanh (Đoàn Hải Phòng), sửa Luật Đất đai lần này cần xử lý tận gốc mối quan hệ giữa Luật Đất đai với các nghị quyết chuyên đề của Quốc hội, trong đó có Nghị quyết số 254/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Những nội dung còn thiếu cần được bổ sung, đồng thời quy định rõ nguyên tắc áp dụng và cơ chế chuyển tiếp. Đây là cơ sở để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và đưa chính sách vào cuộc sống.

Tái thiết cuộc sống và xử lý những “điểm nghẽn” tồn đọng

Nếu phân cấp, chuyển đổi số và đồng bộ pháp luật tạo điều kiện để đất đai được vận hành hiệu quả hơn, thì cơ chế giá đất và thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là những vấn đề có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và tiến độ dự án.

Các đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm đến quy định về bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Đại biểu Hoàng Minh Hiếu cho biết, so với Luật Đất đai năm 2024, dự thảo lần này không còn quy định về cơ chế giá đất cụ thể. Vì vậy, bảng giá đất và hệ số K gần như trở thành cơ sở chủ yếu để xác định giá đất phục vụ nghĩa vụ tài chính và bồi thường, trừ trường hợp đấu giá đất.

Theo đại biểu, cách tiếp cận mới có ưu điểm là đơn giản hơn, nhưng đồng thời làm tăng đáng kể vai trò của bảng giá đất và hệ số K. Trong khi đó, dự thảo chưa quy định cụ thể tiêu chí, nguyên tắc, phương pháp xác định hệ số K cũng như chu kỳ điều chỉnh.

Do đó, đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị bổ sung các nguyên tắc bắt buộc như khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu và có khả năng kiểm chứng; đồng thời tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát, công khai phương pháp, nguồn dữ liệu và kết quả tính toán ở mức cần thiết, cũng như rà soát hệ số K định kỳ.

Đại biểu Nguyễn Đặng Ân cũng đề nghị quy định rõ nguyên tắc, trường hợp và thời điểm rà soát, điều chỉnh bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất, nhất là khi dữ liệu đầu vào hoặc tình hình thực tế có biến động. Theo đại biểu, đây là điều kiện để cơ chế mới thực sự đơn giản, minh bạch và thuận lợi khi triển khai.

Đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường. Theo đó, cần ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở, đất ở tái định cư; bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.

Quan trọng hơn, việc tái định cư không thể chỉ được đo bằng diện tích căn nhà hay giá trị khoản tiền bồi thường. Các tiêu chí cần được lượng hóa, có thể kiểm tra, giám sát, bao gồm vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận trường học, y tế, giao thông, dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 5.

Đại biểu Quốc hội Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) phát biểu. Ảnh: quochoi.vn

Cùng với đó, việc thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển và hiệu quả sử dụng đất.

Đại biểu Quốc hội Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) cho rằng, không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích đất cho công trình mà phải tính đến chất lượng không gian hình thành sau dự án. Dự thảo Luật cần có tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại. Nếu đất vẫn có thể sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân, còn nếu thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý, quy hoạch, dự án và phạm vi rõ ràng.

Từ những vấn đề trên, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW.

Trong đó, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cần hướng tới một quy hoạch thống nhất trên phạm vi một đơn vị hành chính, tích hợp và đồng bộ với hệ thống quy hoạch, không chồng lấn, không chẻ nhỏ các chỉ tiêu.

Về giá đất và tài chính đất đai, cần bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Tạo đột phá trong quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai:Bài cuối: Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 6.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên. Ảnh: quochoi.vn

Như vậy, yêu cầu sửa Luật Đất đai lần này không chỉ nằm ở việc “gỡ” từng thủ tục hay xử lý từng dự án đang vướng mắc. Cốt lõi là tạo dựng một cơ chế vận hành mới, trong đó đất đai được nhìn nhận đầy đủ như một nguồn lực phát triển; quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được bảo đảm.

Cùng với đó, doanh nghiệp có môi trường pháp lý minh bạch, ổn định; địa phương được trao quyền nhưng phải chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm soát; còn Nhà nước chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển.

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Tuấn (Đoàn Bắc Ninh) đề nghị nghiên cứu xác định khoản hỗ trợ ổn định đời sống theo tỷ lệ hoặc hệ số thống nhất trên giá trị bồi thường về đất hoặc diện tích đất bị thu hồi, với khung mức do Chính phủ quy định. Đối với hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, đề nghị chuyển hoàn toàn sang hỗ trợ bằng tiền để người dân chủ động lựa chọn phương án học nghề, tìm việc hoặc tổ chức lại sinh kế phù hợp.

Cách nào chặn găm đất chờ tăng giá, đầu cơ?

https://cafef.vn/cach-nao-chan-gam-dat-cho-tang-gia-dau-co-188260901142806859.chnTheo Phan Thiên | 01-09-2026 – 15:04 PM | Bất động sản

Đề xuất đánh thuế cao với đất bỏ hoang, mua bán bất động sản trong thời gian ngắn đang được đặt ra nhằm hạn chế đầu cơ, găm đất chờ tăng giá. Chuyên gia cho rằng, bên cạnh áp thuế, cần siết đòn bẩy tín dụng với người mua nhiều nhà đất…

Đánh thuế để đổi hướng dòng vốn

Theo tờ trình dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất áp dụng chính sách thuế đối với đất bỏ hoang, cũng như hoạt động mua bán bất động sản trong thời gian ngắn, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, hạn chế lãng phí và chống đầu cơ.

Về vấn đề này, luật sư Trương Anh Tuấn, Giám đốc Công ty Luật Trường Sơn, cho rằng vấn đề cốt lõi là phải đưa đất đai trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, thay vì trở thành nơi hút vốn vào hoạt động đầu cơ.

Cách nào chặn găm đất chờ tăng giá, đầu cơ?- Ảnh 1.

Đề xuất áp dụng chính sách thuế cao đối với đất bỏ hoang, cũng như hoạt động mua bán bất động sản trong thời gian ngắn… để chống đầu cơ.

Theo ông Tuấn, đất đai không chỉ là tài sản mà còn là tư liệu sản xuất, hàng hóa, tài sản bảo đảm tín dụng, nơi tích trữ của cải và một kênh phân phối địa tô trong xã hội. Vì vậy, cách thiết kế chính sách đất đai sẽ tác động trực tiếp đến việc phân bổ nguồn vốn của nền kinh tế.

Luật sư Trương Anh Tuấn phân tích, hiện có thể hình dung hai chu trình sử dụng vốn liên quan đến đất đai.

Một bên là chu trình phát triển: vốn được đưa vào đất để phát triển hạ tầng, khu công nghiệp, nhà máy, logistics, nhà ở…, từ đó tạo ra sản xuất, việc làm, năng suất, thu nhập và nguồn thu ngân sách.

Bên còn lại là chu trình đầu cơ: tiền được dùng để mua đất, chờ quy hoạch hoặc hạ tầng, kỳ vọng giá tăng; sau đó tài sản có thể được thế chấp để vay thêm vốn và tiếp tục mua đất.

“Nếu giữ đất có lợi hơn làm doanh nghiệp, vốn và năng lực xã hội có thể dịch chuyển từ sản xuất, kinh doanh và sáng tạo sang tìm đất, đón quy hoạch và chờ tăng giá”, ông Tuấn cảnh báo.

Theo vị luật sư, rủi ro đầu cơ còn có thể được khuếch đại bởi tín dụng. Khi giá đất tăng, giá trị tài sản bảo đảm tăng, khả năng vay vốn cũng tăng, tạo thêm dòng tiền quay trở lại thị trường bất động sản. Ngược lại, khi giá đất giảm, giá trị tài sản bảo đảm suy giảm, tín dụng có thể bị siết, khiến doanh nghiệp thiếu vốn và rủi ro lan sang hệ thống tài chính – ngân hàng.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp, logistics và nhà ở tiếp tục lớn. Do đó, theo ông Tuấn, đất đai cần được nhìn nhận là một yếu tố đầu vào sản xuất của nền kinh tế.

“Giá đất cao không đồng nghĩa với nền kinh tế phát triển mạnh”, ông nói, đồng thời phân tích chi phí đất đai tăng có thể được chuyển vào giá thuê nhà máy, logistics, nhà ở, tiền lương và cuối cùng là giá thành hàng hóa.

Từ góc nhìn này, ông Tuấn cho rằng, chính sách chống đầu cơ không nên tập trung vào việc hạn chế người dân sở hữu nhiều bất động sản, mà cần làm thay đổi lợi suất giữa việc giữ đất và đưa vốn vào sản xuất.

“Nếu đầu cơ đất đem lại lợi nhuận 15%, trong khi sản xuất chỉ đạt 10%, vốn sẽ có xu hướng chảy vào đất. Nhưng nếu thuế và chi phí nắm giữ khiến lợi suất của đất không sử dụng giảm xuống 5-6%, trong khi sản xuất vẫn đạt 10%, dòng vốn có thể đổi hướng”, ông phân tích.

Theo đó, thuế đất không chỉ đơn thuần là công cụ tăng thu ngân sách mà còn có thể trở thành công cụ điều tiết dòng vốn và hỗ trợ mục tiêu phát triển sản xuất.

Tuy nhiên, luật sư Trương Anh Tuấn lưu ý, chính sách cần tránh đánh đồng việc sở hữu nhiều bất động sản với đầu cơ. Việc xác định đối tượng chịu thuế nên dựa trên mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng, thời gian không sử dụng và nguyên nhân…

Siết đòn bẩy tín dụng

Bên cạnh thuế, tín dụng cũng được xem là một công cụ quan trọng để kiểm soát đầu cơ. Với người mua nhà, đất thứ hai, thứ ba trở lên, có thể nghiên cứu hạn chế việc sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao, qua đó giảm dòng tiền vay chảy vào hoạt động tích lũy, lướt sóng bất động sản.

“Đối với trường hợp có nhiều nhà đất cần đẩy thuế mua, thuế bán cao hơn; đưa nhiều công cụ để những người mua nhiều nhà đất khó dùng đòn bẩy tín dụng, hạn chế việc vay từ ngân hàng với số lượng, tỷ lệ thấp hơn. Nếu không giải quyết được những vấn đề căn bản đang tham gia vào các chu trình đầu cơ thì nội dung sửa đổi Luật Đất đai lần này cũng không giải quyết được căn bản vấn đề”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Đại biểu Lê Hoàng Anh – Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội mới đây cũng đề nghị thể chế hóa mạnh hơn yêu cầu chống đầu cơ, găm giữ và sử dụng đất kém hiệu quả bằng các công cụ kinh tế, thay vì chỉ dựa vào các biện pháp hành chính.

Tuy nhiên, ông lưu ý nên phân biệt rõ giữa đầu cơ, sử dụng đất lãng phí với nhu cầu chính đáng của người dân.

"Dự thảo luật phải định nghĩa rõ thế nào là đất hoang hóa hoặc không được đưa vào sử dụng. Đây sẽ là cơ sở xác định đối tượng chịu thuế và áp dụng các chế tài phù hợp", đại biểu Lê Hoàng Anh nêu quan điểm.

Ông cho rằng, Luật Đất đai khó có thể tự giải quyết toàn bộ vấn đề hiện nay. Thay vào đó, luật cần được thiết kế đồng bộ với pháp luật về thuế, quy hoạch và đầu tư.

Người dân chuộng mua, nhiều doanh nghiệp quay lại phân khúc căn hộ vừa túi tiền

https://cafef.vn/nguoi-dan-chuong-mua-nhieu-doanh-nghiep-quay-lai-phan-khuc-can-ho-vua-tui-tien-18826090114184181.chnTheo Châu Anh/VTC News | 01-09-2026 – 14:52 PM | Bất động sản
Nhiều doanh nghiệp bất động sản đang quay lại phân khúc nhà ở vừa túi tiền để đáp ứng nhu cầu cao của đại đa số người dân.

Mới đây, Nam Long ADC, đơn vị phát triển dòng EHome và EhomeS, vừa công bố hợp tác chiến lược với Nishi Nippon Railroad của Nhật Bản để phát triển giải pháp nhà ở vừa túi tiền. Doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 80% vào năm 2030 và bàn giao hơn 22.000 căn hộ vào năm 2035.

Hay Kim Oanh Land cũng mở rộng nguồn cung nhà ở xã hội tại Đồng Nai, dự kiến ra mắt hơn 4.000 căn hộ thuộc chuỗi K Home trong quý hai năm 2026 tại Hố Nai, Nhơn Trạch và Trảng Bom. Đây đều là các khu vực đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều khu công nghiệp và lực lượng lao động lớn.

Tại Dĩ An (Bình Dương cũ, nay là TP.HCM), Bcons Group tiếp tục khai thác nhóm khách hàng gia đình trẻ và người mua căn nhà đầu tiên với Bcons Center City, dự án quy mô 3 ha, được quy hoạch theo triết lý vừa túi tiền.

Theo dự báo của các chuyên gia, xu hướng doanh nghiệp bất động sản quay lại với phân khúc nhà ở vừa túi tiền sẽ ngày càng dồn dập. Nguyên nhân không phải vì biên lợi nhuận của phân khúc này hấp dẫn hơn nhà cao cấp, mà vì đây là nơi còn sức cầu bền vững nhất.

Sau một giai đoạn dài chạy theo sản phẩm cao cấp, hạng sang, đô thị nghỉ dưỡng và đất nền đầu cơ, người mua có xu hướng trở về với những phân khúc, dự án có chất lượng thực và không còn dễ bị thuyết phục bởi viễn cảnh tăng giá “nóng” hay đầu tư ngắn hạn.

Khi nhà đầu tư “lướt sóng” rút lui, người mua ở thật sẽ trở thành lực nâng chính của thị trường. Nhưng nhóm khách hàng này lại bị giới hạn bởi tiền tích lũy ban đầu, lãi vay, thu nhập hằng tháng và mức độ ổn định của công việc. Sản phẩm nào vượt quá khả năng chi trả của họ thì rất khó chuyển hóa thành giao dịch. Chính nhu cầu này đã thúc đẩy doanh nghiệp bất động sản quay về với phân khúc căn hộ vừa túi tiền.

Người dân chuộng mua, nhiều doanh nghiệp quay lại phân khúc căn hộ vừa túi tiền- Ảnh 1.

Phát triển nhà ở vừa túi tiền được nhiều doanh nghiệp quan tâm. (Ảnh minh họa: Công Hiếu).

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) nhận định, với doanh nghiệp, nhà ở vừa túi tiền trước hết là lựa chọn để tồn tại trong chu kỳ mới. Bất động sản là ngành cần vốn lớn, thời gian triển khai dài, phụ thuộc nhiều vào ngân hàng, trái phiếu, vốn khách hàng và năng lực bán hàng. Khi dòng vốn trở nên chọn lọc, dự án có pháp lý rõ, tổng giá vừa phải, khả năng hấp thụ tốt sẽ dễ thuyết phục ngân hàng và khách hàng hơn dự án xa xỉ nhưng thanh khoản chậm. Bài toán trọng tâm không còn là bán mỗi căn lời bao nhiêu mà là dòng tiền quay nhanh đến mức nào và hạn chế hàng tồn kho.

Ông Nguyễn Thanh Quyền, Tổng giám đốc Tập đoàn Thắng Lợi cũng cho biết, trong câu chuyện phát triển nhà ở vừa túi tiền, hiện có hai phân khúc chính gồm nhà ở thương mại giá rẻ và nhà ở xã hội. Ông tin rằng thời gian tới sẽ có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Riêng Thắng Lợi Group, doanh nghiệp đã đăng ký hai dự án nhà ở xã hội và đang chờ ba dự án khác.

Sở dĩ có sự chuyển động mạnh mẽ như vậy theo ông Quyền là bởi những điểm nghẽn lớn trước đây của nhà ở xã hội đã được tháo gỡ phần lớn.

Người dân chuộng mua, nhiều doanh nghiệp quay lại phân khúc căn hộ vừa túi tiền- Ảnh 2.

Xu hướng của thị trường thời gian tới là nhà ở vừa túi tiền.

Cụ thể, điểm nghẽn đầu tiên là chi phí đầu vào, nay đã được xác định rõ hơn, minh bạch hơn. Tiếp đến là đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, hiện cũng đã được mở rộng đáng kể nhờ điều kiện về thu nhập được tăng lên.

Những thay đổi này chắc chắn sẽ tạo ra một làn sóng mới, tạo động lực cho các chủ đầu tư tham gia phát triển nhà vừa túi tiền nói chung và nhà ở xã hội nói riêng. Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp chỉ cần lợi nhuận cao hơn lãi suất ngân hàng là đã có động lực để đầu tư ”, ông Quyền bộc bạch.

Những điểm nghẽn nào cần gỡ?

Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam chia sẻ, doanh nghiệp hoàn toàn nhận thấy tiềm năng rất lớn của phân khúc nhà ở vừa túi tiền. Tuy nhiên, việc phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp hiện gặp nhiều rào cản do chi phí đầu vào tăng mạnh.

Theo ông Hiệp, giá đất, tiền sử dụng đất, vật liệu xây dựng, nhân công cùng áp lực vốn đều tăng đáng kể trong những năm gần đây. Trong khi đó, để sản phẩm phù hợp với khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp buộc phải giữ giá bán ở mức hợp lý, khiến dư địa lợi nhuận ngày càng thu hẹp.

Doanh nghiệp muốn làm nhà ở giá phù hợp nhưng với mặt bằng chi phí hiện nay thì rất khó cân đối hiệu quả đầu tư. Nếu giá bán thấp quá sẽ không bảo đảm lợi nhuận, còn nếu tăng giá thì sản phẩm lại không còn phù hợp với nhóm khách hàng mục tiêu ”, ông Hiệp nói.

Điều đáng nói là phân khúc có nhu cầu lớn nhất trên thị trường lại chưa phải phân khúc mang lại hiệu quả đầu tư hấp dẫn nhất. Trong khi các dự án cao cấp có thể tạo biên lợi nhuận tốt hơn, nhà ở vừa túi tiền buộc doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chi phí nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, hạ tầng và tiện ích.

Không chỉ các chủ đầu tư, nhiều đơn vị nghiên cứu thị trường cũng nhìn nhận phân khúc này đang đối mặt với những rào cản mang tính hệ thống.

Ông Nguyễn Văn Đính – Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARS) – cho hay, một trong những nguyên nhân quan trọng là doanh nghiệp khó tìm được bài toán kinh doanh hiệu quả khi phát triển nhà ở giá phù hợp trong bối cảnh chi phí đầu vào liên tục gia tăng.

Theo ông Đính, ngoài áp lực về quỹ đất và giá đất, thời gian hoàn thiện thủ tục đầu tư kéo dài cũng làm gia tăng đáng kể chi phí vốn. Nhiều dự án mất nhiều năm để hoàn tất các bước pháp lý, khiến doanh nghiệp phải gánh thêm chi phí tài chính và chi phí cơ hội. Đây là yếu tố trực tiếp tác động đến giá thành sản phẩm khi đưa ra thị trường.

Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn vẫn là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp. Dù mặt bằng lãi suất đã ổn định hơn so với giai đoạn trước, chi phí vốn vẫn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư của các dự án nhà ở giá phù hợp.

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính – tiền tệ Quốc gia, cho hay, để phát triển nhà ở vừa túi tiền một cách bền vững cần đồng thời giải quyết cả bài toán cung và cầu. Bên cạnh việc đẩy nhanh thủ tục đầu tư và tạo lập quỹ đất phù hợp cần phát triển các nguồn vốn trung và dài hạn cho thị trường bất động sản, bao gồm tín dụng ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư bất động sản.

Tại nhiều quốc gia, phân khúc nhà ở giá phù hợp luôn nhận được sự hỗ trợ nhất định từ chính sách đất đai, tài chính hoặc thuế nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận nhà ở cho người dân. Trong khi đó, tại Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp vẫn phải tự cân đối toàn bộ chi phí đầu vào theo cơ chế thị trường.

Các chuyên gia cho rằng, bài toán nhà ở vừa túi tiền không đơn thuần là câu chuyện của doanh nghiệp hay người mua nhà mà còn liên quan đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững và bảo đảm an sinh xã hội. Chừng nào những điểm nghẽn về đất đai, nguồn vốn và thủ tục đầu tư chưa được tháo gỡ, phân khúc được kỳ vọng đáp ứng nhu cầu của số đông người dân vẫn sẽ tiếp tục đối mặt nghịch lý: cầu rất lớn nhưng nguồn cung khó cải thiện, còn doanh nghiệp vẫn mắc kẹt giữa nhu cầu thị trường và mục tiêu lợi nhuận.

Đề xuất quy định rõ về chính sách đền bù, thu hồi đất khi sửa Luật Đất đai

https://cafef.vn/de-xuat-quy-dinh-ro-ve-chinh-sach-den-bu-thu-hoi-dat-khi-sua-luat-dat-dai-188260831171028829.chnTheo An Nam | 31-08-2026 – 17:10 PM | Bất động sản

Chuyên gia pháp lý đề xuất cần tiếp tục rà soát, cân nhắc, làm rõ, quy định cụ thể một số nội dung về đền bù, thu hồi đất khi sửa Luật Đất đai 2024.

Ảnh minh họa

Thực tế cho thấy, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

Tham gia góp ý xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), mới đây, tại một Hội thảo do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, ThS Luật sư Phạm Thanh Tuấn, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho rằng, chính sách thu hồi đất cần hướng tới việc người dân sau khi bị thu hồi đất phải có nơi ở, điều kiện sống và khả năng tạo sinh kế được phục hồi, ít nhất phải bằng hoặc tốt hơn trước khi thu hồi đất.

“Một hộ gia đình bị thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh có thể được bồi thường đầy đủ về đất và nhà, đồng thời được bố trí một căn nhà tái định cư có chất lượng tốt. Tuy nhiên, nếu địa điểm tái định cư khiến hộ gia đình không thể tiếp tục kinh doanh và mất nguồn thu nhập chính thì xét về tài sản họ đã được bồi thường, nhưng xét về tái thiết cuộc sống và sinh kế thì mục tiêu chính sách vẫn chưa đạt được”, Luật sư Tuấn bày tỏ.

Cũng theo ông Tuấn, trong khi chủ trương mới đặt trọng tâm cao hơn vào việc ổn định và tái thiết cuộc sống, Dự thảo lại chưa xác định ngay trong Luật các nhóm hỗ trợ cơ bản như trong Điều 108 Luật Đất đai 2024 mà giao Chính phủ quy định – Đây là những chính sách tác động trực tiếp đến quyền lợi của người bị thu hồi đất, đặc biệt là khả năng phục hồi thu nhập, việc làm và sinh kế.

Vì vậy, Luật sư Tuấn đề nghị, nên xác định các loại hỗ trợ cơ bản và phạm vi quyền được hỗ trợ, còn Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng, điều kiện, mức, thời gian và phương thức thực hiện.

Với những lập luận nêu trên, Luật sư Tuấn kiến nghị sửa đổi, làm rõ Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo 2 hướng:

Thứ nhất , bổ sung tại Điều 42 nguyên tắc: “Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải bảo đảm người có đất thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn trước khi Nhà nước thu hồi đất”. Đồng thời, giao Chính phủ quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ phục hồi về nơi ở, điều kiện sống, việc làm và thu nhập, làm cơ sở tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả chính sách sau thu hồi đất.

Thứ hai , xem xét quy định ngay trong Luật các nhóm hỗ trợ cơ bản khi Nhà nước thu hồi đất (giống như Điều 108 Luật Đất đai 2024) như hỗ trợ ổn định đời sống; ổn định sản xuất, kinh doanh; đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ tái định cư và các hỗ trợ cần thiết khác. Trên cơ sở đó, giao Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, điều kiện, mức và phương thức hỗ trợ phù hợp với từng trường hợp và các biện pháp hỗ trợ khác.

Ngoài các nội dung trên, ông Tuấn cũng đề nghị, xem xét, cân nhắc một số nội dung liên quan đến hoàn thiện cơ chế về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hướng “tái thiết cuộc sống” cho người có đất bị thu hồi; bảo đảm tái định cư tại chỗ gắn với phục hồi sinh kế của người có đất bị thu hồi; làm rõ cơ chế công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất;…

Siêu dự án 11,9 tỷ USD giữa biển: Tham vọng biến gió ngoài khơi thành ‘mỏ năng lượng’ mới của Việt Nam

https://cafef.vn/sieu-du-an-119-ty-usd-giua-bien-tham-vong-bien-gio-ngoai-khoi-thanh-mo-nang-luong-moi-cua-viet-nam-188260902115818088.chnMinh Khang | 02-09-2026 – 11:58 AM | Doanh nghiệp
Siêu dự án 11,9 tỷ USD giữa biển: Tham vọng biến gió ngoài khơi thành 'mỏ năng lượng' mới của Việt Nam

Đó là siêu dự án gì?

Dự án được nhắc tới chính là: Thăng Long Wind.

Đây là dự án điện gió với công suất dự kiến 3.400 MW và tổng vốn đầu tư khoảng 11,9 tỷ USD từng được xem là một trong những dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn nhất được đề xuất tại Việt Nam.

Thăng Long Wind được Tập đoàn Enterprize Energy nghiên cứu tại vùng biển ngoài khơi mũi Kê Gà, Bình Thuận (cũ). Dự án nằm cách bờ khoảng 20-50 km, ở khu vực có độ sâu khoảng 20-50 m. Tổng diện tích khu vực phát triển dự kiến khoảng 2.000 km², trong khi diện tích khảo sát lên tới khoảng 2.800 km².

Quy mô công suất dự kiến của toàn dự án là 3.400 MW, với tổng vốn đầu tư khoảng 11,9 tỷ USD, chưa bao gồm chi phí đấu nối vào hệ thống điện quốc gia.Điểm đáng chú ý là vùng biển Bình Thuận (cũ) được đánh giá có điều kiện gió thuận lợi. Các thông tin khảo sát được công bố cho thấy tốc độ gió bình quân tại khu vực khoảng 9,5-10 m/s, tạo nền tảng cho việc phát triển các turbine công suất lớn.

Dự án Thăng Long Wind (ảnh pecc3)

Nếu hình dung theo quy mô một dự án năng lượng, con số 3.400 MW cho thấy Thăng Long Wind không phải một trang trại điện gió đơn lẻ mà là một tổ hợp điện gió ngoài khơi quy mô gigawatt.

Theo phương án được công bố, dự án được chia thành nhiều giai đoạn, với giai đoạn đầu dự kiến công suất 600 MW và các giai đoạn tiếp theo tiếp tục mở rộng cho tới khi đạt tổng công suất khoảng 3.400 MW. Các turbine ban đầu được tính toán ở mức khoảng 9,5 MW/turbine, sau đó có thể sử dụng các turbine 10-12 MW khi công nghệ phát triển.

Quá trình chuẩn bị dự án cũng cho thấy mức độ phức tạp của điện gió ngoài khơi. Nhà đầu tư từng thực hiện khảo sát gió, khảo sát địa chất, địa vật lý đáy biển, môi trường biển và hệ thống tuyến cáp truyền tải.

Thăng Long Wind gây chú ý không chỉ bởi số vốn gần 12 tỷ USD mà còn bởi quy mô công suất 3,4 GW. Đây là một trong những dự án điện gió ngoài khơi có quy mô rất lớn tại Việt Nam.

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của tổ hợp Thăng Long Wind nằm ở việc dự án không chỉ hướng tới phát điện cho hệ thống điện quốc gia. Giá trị của Thăng Long Wind còn nằm ở khả năng tạo ra một chuỗi công nghiệp mới.

Điện gió ngoài khơi đòi hỏi hàng loạt dịch vụ và ngành nghề từ khảo sát biển, thiết kế, chế tạo kết cấu, cảng biển, vận chuyển và lắp đặt turbine đến vận hành, bảo dưỡng và quản lý hệ thống truyền tải.

Ngay từ giai đoạn khảo sát, nhà đầu tư đã hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam. Việc này cho thấy điện gió ngoài khơi có thể tạo cơ hội để một phần năng lực kỹ thuật của ngành dầu khí, cơ khí biển và dịch vụ công trình ngoài khơi chuyển sang lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Nguồn điện được tạo ra từ gió ngoài khơi có thể góp phần giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải của hệ thống điện. Nhưng để trở thành một dự án ESG đúng nghĩa, bài toán môi trường không chỉ dừng ở lượng CO₂ tránh phát thải.

Các khảo sát của dự án đã bao gồm nghiên cứu chim biển, động vật có vú, sinh vật biển, địa chất đáy biển và môi trường biển. Nhà đầu tư cũng từng cam kết hạn chế xung đột với hoạt động đánh bắt thủy sản và các hoạt động khác trong khu vực.

Điều đó cho thấy một dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn phải đồng thời giải bài toán về năng lượng sạch, hệ sinh thái biển, sinh kế ngư dân, hạ tầng truyền tải và chuỗi cung ứng.

Với quy mô 3.400 MW, khoảng 11,9 tỷ USD và vùng phát triển khoảng 2.000 km², Thăng Long Wind cho thấy tham vọng của Việt Nam trong việc biến lợi thế gió ngoài khơi thành một nguồn lực mới cho an ninh năng lượng và chuyển dịch xanh.

  • Tư liệu pecc3

Loạt doanh nghiệp lên kế hoạch huy động trái phiếu để làm gì?

https://cafef.vn/loat-doanh-nghiep-len-ke-hoach-huy-dong-trai-phieu-de-lam-gi-188260901091407924.chnKhánh Hân | 01-09-2026 – 10:20 AM | Doanh nghiệp
Các doanh nghiệp bất động sản, hạ tầng như CII, Becamex Group, Kinh Bắc đang lên kế hoạch huy động vốn qua kênh trái phiếu với mục đích khác nhau, từ đầu tư dự án đến cơ cấu lại các khoản nợ.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng, nhiều doanh nghiệp đang lên kế hoạch huy động qua kênh trái phiếu với những mục đích khác nhau, từ bổ sung nguồn lực cho các dự án đến cơ cấu nợ và phục vụ hoạt động kinh doanh.

Đầu tiên phải kể đến CTCP Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM (MCK: CII, sàn HoSE), doanh nghiệp này chào bán gần 67,2 triệu trái phiếu chuyển đổi thành cổ phần phổ thông, không kèm chứng quyền và không tài sản bảo đảm cho cổ đông hiện hữu.

Tỷ lệ thực hiện quyền mua là 10:1, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phần phổ thông sẽ có 1 quyền mua và cứ 10 quyền mua sẽ được mua 1 trái phiếu. Ngày đăng ký cuối cùng là 27/8/2026.

Quyền mua trái phiếu được chuyển nhượng 1 lần, thời gian chuyển nhượng từ ngày 10/9/2026 đến ngày 6/10/2026. Thời gian đăng ký mua và nộp tiền mua trái phiếu từ ngày 10/9/2026 đến ngày 9/10/2026.

Trái phiếu có kỳ hạn 25 năm, trả lãi định kỳ 3 tháng/lần, lãi suất 0%/năm được áp dụng đối với 12 kỳ tính lãi đầu tiên, tuy nhiên đối với các kỳ tính lãi tiếp theo là 14,5%/năm.

Loạt doanh nghiệp lên kế hoạch huy động trái phiếu để làm gì? - Ảnh 1.

Ảnh minh họa: Báo Chính phủ

Với giá chào bán 100.000 đồng/trái phiếu, CII dự kiến huy động gần 6.720 tỷ đồng từ đợt chào bán trái phiếu lần này. Số tiền thu được sẽ sử dụng để hợp tác kinh doanh (BCC) với Công ty TNHH BOT Cao tốc Sài Gòn – Mỹ Thuận để thực hiện đầu tư Dự án đầu tư xây dựng mở rộng đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận.

Đáng chú ý, CII huy động trái phiếu trong bối cảnh tính đến cuối quý II/2026, tổng nợ phải trả của doanh nghiệp ở mức hơn 30.518 tỷ đồng, tăng 19,4% so với đầu năm.

Cùng chiều diễn biến, Tập đoàn Đầu tư và Phát triển công nghiệp – CTCP (Becamex Group, mã: BCM, sàn HoSE) cũng vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 7.100 trái phiếu riêng lẻ. Tổng giá trị phát hành tối đa 710 tỷ đồng.

Đây là không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, có bảo đảm bằng tài sản, và chào bán tại thị trường trong nước. Ngày phát hành dự kiến trong quý III/2026.

Trái phiếu có kỳ hạn 3 năm, lãi suất được xác định theo phương thức kết hợp giữa lãi suất cố định và lãi suất thả nổi. Trong đó, lãi suất 02 kỳ thanh toán lãi đầu tiên là 11%/năm; lãi suất áp dụng cho các kỳ thanh toán lãi tiếp theo bằng Lãi Suất Tham Chiếu cộng (+) biên độ 4,0%/năm. Thanh toán lãi định kỳ 6 tháng/lần.

Tài sản bảo đảm là các quyền sử dụng đất ở tại đô thị và toàn bộ các quyền và lợi ích liên quan đến các quyền sử dụng đất có tổng diện tích 80.959,9 m2 do tổ chức phát hành sở hữu. Tổng giá trị tài sản thế chấp được định giá hơn 1.016 tỷ đồng.

Số tiền thu được từ đợt chào bán sẽ được dùng để cơ cấu lại khoản nợ của tổ chức phát hành. Trong đó, 110 tỷ đồng để thanh toán gốc khoản vay ngắn hạn tai BIDV chi nhánh Bình Dương và 600 tỷ đồng để thanh toán gốc khoản vay ngắn hạn tại Vietcombank chi nhánh Đồng Nai.

Trong khi đó, Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc-CTCP (MCK: KBC, sàn HoSE) cũng dự kiến chào bán chào bán tối đa 700 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 3 năm.

Đây là trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, được bảo đảm bằng tài sản, có lãi suất kết hợp giữa lãi suất cố định và lãi suất thả nổi, không phải nợ thứ cấp và xác lập nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Tổ chức phát hành.

Số tiền thu thu được từ phát hành trái phiếu sẽ được dùng để cơ cấu lại nợ của tổ chức phát hành. Tài sản bảo đảm gồm: tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Tổ chức phát hành và/hoặc tài sản hợp pháp của bên thứ ba (nếu có).

Tính đến ngày 30/6/2026, tổng nợ phải trả của Kinh Bắc đang ở mức hơn 47.106 tỷ đồng, tăng 10% so với đầu năm. Trong đó, tổng nợ vay ngắn hạn và dài ghi nhận hơn 32.676 tỷ đồng, chiếm 69,4% tổng nợ.

Như vậy, cùng lựa chọn kênh trái phiếu để huy động vốn, song mục đích sử dụng nguồn tiền của các doanh nghiệp có sự khác biệt. Nếu CII hướng nguồn tiền vào triển khai dự án mở rộng cao tốc, thì Becamex Group và Kinh Bắc tập trung cơ cấu lại các khoản nợ, qua đó giảm áp lực từ các nghĩa vụ tài chính hiện hữu.

Động thái này cho thấy trái phiếu vẫn là một trong những kênh huy động vốn được doanh nghiệp bất động sản, hạ tầng quan tâm, vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư, vừa góp phần tái cơ cấu nguồn vốn và chủ động hơn trong bài toán tài chính.

Thị trường công nghiệp đường sắt 2,3 triệu tỷ đồng ở Việt Nam: Hãy nhìn cách Hàn Qu ốc “ràng buộc” DN Đức

https://cafef.vn/thi-truong-cong-nghiep-duong-sat-23-trieu-ty-dong-o-viet-nam-hay-nhin-cach-han-quoc-rang-buoc-dn-duc-188260901080813409.chnTheo Hoàng Hạnh | 01-09-2026 – 08:08 AM | Doanh nghiệp

Hoà Phát, THACO, VinGroup… đều đã tham gia vào chuỗi cung ứng nguyên vật liệu và thiết bị cho công nghiệp đường sắt. Đâu là động lực để họ tiến thêm một bước dài?

Thị trường công nghiệp đường sắt 2,3 triệu tỷ đồng ở Việt Nam: Hãy nhìn cách Hàn Quốc "ràng buộc" DN Đức- Ảnh 1.

Doanh nghiệp tư nhân có thể làm chủ nhiều công nghệ trong đường sắt tốc độ cao.

Thị trường 2,3 triệu tỷ đồng

Đường sắt Việt Nam đang trong bước ngoặt hiện đại hoá toàn diện. Với đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam, các tuyến đường sắt tốc độ cao liên vùng và đường sắt đô thị, ngành công nghiệp này sẽ có một diện mạo mới.

Đi cùng với đó là những khoản đầu tư khổng lồ và đương nhiên, cả cơ hội để các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực mới mẻ đầy tiềm năng này. Vingroup và Hoà Phát đều đã triển khai các dự án cung ứng đường ray, THACO tham gia sản xuất toa xe, đặt mục tiêu làm được đầu máy cho đường sắt tốc độ cao…

Theo tính toán của Bộ Công thương, giá trị thị trường công nghiệp đường sắt có thể lên tới 2,3 triệu tỷ đồng từ nay tới năm 2050.

Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, theo một tính toán, tổng mức đầu tư 67,34 tỷ USD sẽ tạo ra thị trường xây dựng giá trị khoảng 33,5 tỷ USD. Cơ hội lớn sẽ đến với các lĩnh vực cơ khí, chế tạo, tự động hóa, sản xuất thép, vật liệu xây dựng và linh, phụ kiện: bê tông, thép; các cấu kiện hạ tầng như cầu, cống, đường hầm…

Nhìn vào số liệu chi tiết hơn, theo Bộ Xây dựng, tổng nhu cầu thép ray cho các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam ước tính đạt 28,7 triệu mét (tương đương khoảng 4 triệu tấn). Nếu tính cả lượng thép sử dụng cho các mục đích khác và cho đường sắt đô thị, con số sẽ còn cao hơn nhiều.

Còn về số toa xe, theo Tập đoàn Đường sắt Vệt Nam, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam dự kiến cần 1.100 toa xe EMU (Electric Multiple Unit – Tàu điện nhiều toa tự hành).

Với một quốc gia có ngành công nghiệp đường sắt còn tương đối lạc hậu như Việt Nam, thách thức nhiều mà cơ hội lại càng lớn. Nội địa hoá chuỗi cung ứng đường sắt, thực sự làm chủ từ công nghệ vật liệu cho tới điện tử chế tạo, thậm chí, còn là một lựa chọn bắt buộc.

Dẫn chứng việc một số quốc gia làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao muốn “khoá” người mua vào hệ sinh thái của họ, TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế cho rằng, nếu chúng ta không kích hoạt được chuyển giao công nghệ, có thể từ việc bảo trì, bảo dưỡng đến mọi linh kiện thay thế đều phải phụ thuộc vào họ.

Điều này có nghĩa là chúng ta sở hữu đường sắt còn họ vẫn nắm giữ việc làm, công nghệ, thu nhập.

Chọn làm từ ngọn hay xây nhà từ móng

Khẳng định vai trò của khu vực tư nhân trong hiện đại hoá công nghiệp đường sắt Việt Nam nói chung và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam nói riêng, TS Bùi Ngọc Sơn đặt ra vấn đề tiếp theo. Đó là chúng ta muốn lựa chọn cách thức nào để đóng góp vào dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam?

“Muốn làm đường ray cho đường sắt tốc độ cao, doanh nghiệp hoàn toàn có thể nhập nguyên liệu từ nước ngoài để gia công tại Việt Nam. Với toa xe, doanh nghiệp có thể chỉ tham gia dập khung và trang bị các thiết bị đơn giản trên đó.

Doanh nghiệp chỉ cần có hợp đồng, có vốn là ngay lập tức tham gia và thu được phần lợi nhuận tương đương gia công từ đại dự án. Tất nhiên, lựa chọn phương án này, chắc chắn sẽ khó bàn tới chuyện doanh nghiệp Việt tự chủ là đầu máy, các thiết bị điện tử trong hệ thống thông tin, tín hiệu…”, vị chuyên gia chỉ rõ.

Thị trường công nghiệp đường sắt 2,3 triệu tỷ đồng ở Việt Nam: Hãy nhìn cách Hàn Quốc "ràng buộc" DN Đức- Ảnh 2.

Hoà Phát giới thiệu một số sản phẩm thép đặc thù phục vụ các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị. Ảnh Báo Đầu tư

Phương án thứ 2 là tự chủ ở mức cao, xây ngôi nhà cho công nghiệp đường sắt Việt Nam từ một nền móng vững chắc. TS Bùi Ngọc Sơn dẫn chứng, chẳng hạn, nếu doanh nghiệp nhận làm ray cho đường sắt tốc độ cao, họ sẽ phải tự phát triển thông qua chuyển giao công nghệ để làm chủ công nghệ luyện kim, công nghệ vật liệu. Doanh nghiệp làm đầu máy, toa xe thì sẽ cần làm chủ làm động cơ, các thiết bị điện tử đi kèm.

“Nghĩa là, doanh nghiệp cần xây dựng nguồn nhân lực để học hỏi và tiếp thu công nghệ, có vốn dài hạn để đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp và được đảm bảo sự ổn định về mặt chính sách để an tâm đầu tư và kiên trì thu hồi vốn”, chuyên gia Bùi Ngọc Sơn nêu quan điểm.

Lúc này, bài toán đặt ra là làm sao để doanh nghiệp tư nhân góp tay xây dựng ngành công nghiệp đường sắt của Việt Nam theo hướng tự chủ toàn diện. Theo ông Bùi Ngọc Sơn, điều này phụ thuộc vào năng lực quản lý và điều phối của các cơ quan có thẩm quyền. Theo kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Nhật Bản cơ quan thẩm quyền này có nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân để họ thành công chứ không phải để “quản lý họ”.

Thứ nhất, phải đưa ra một chiến lược tổng thể để phát triển ngành công nghiệp đường sắt với nòng cốt là doanh nghiệp tư nhân. Chiến lược này phải cụ thể, chi tiết theo từng đầu việc, thời gian, nguồn vốn, người đảm nhiệm, đơn vị hỗ trợ giám sát…

Thứ hai, xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về tìm nguồn vốn, đào tạo nhân lực, tiếp cận đất đai, hạ tầng nghiên cứu…

Thứ ba, xây dựng các tiêu chuẩn để lựa chọn doanh nghiệp tham gia, các yêu cầu về đầu ra sản phẩm khi nhận hỗ trợ của nhà nước cùng cơ chế thưởng phạt minh bạch, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi doanh nghiệp muốn tham gia.

“Tạo dựng ngành công nghiệp đường sắt sẽ là nhiệm vụ không tính theo nhiệm kỳ. Tinh thần kiến tạo phải được áp dụng ngay từ phía quản lý, để tạo động lực, hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp thành công”, TS Bùi Ngọc Sơn nhận định.

Hệ sinh thái đường sắt và bài học chuyển giao công nghệ

Bước theo con đường tự chủ cao, đồng nghĩa, các doanh nghiệp phải liên kết cùng tạo dựng một hệ sinh thái cho đường sắt tốc độ cao. Vị chuyên gia đưa ra một số dẫn chứng: thanh tà vẹt cho đường sắt tốc độ cao phải là tà vẹt liền, loại bê tông sử dụng để xây đường ray phải là loại đặc chủng.

“Doanh nghiệp xây lắp phải làm phối hợp với doanh nghiệp vật liệu. Ngành luyện kim phải làm việc với ngành điện tử để tạo ra được các sản phẩm tương thích với nhau để tạo ra linh kiện đáp ứng điều kiện vận chuyển tốc độ cao”, TS Bùi Ngọc Sơn chia sẻ.

Dù vậy, điều quan trọng nhất vẫn đảm bảo quá trình chuyển giao công nghệ. Về vấn đề này, theo ông Bùi Ngọc Sơn, doanh nghiệp nên học theo cách làm của Hàn Quốc. Khi hợp tác với doanh nghiệp Đức, trong hợp đồng của họ quy định rõ ràng về việc đào tạo nhân sự, chuyển giao công nghệ, lập nhà máy tại Hàn Quốc. Trong chuyển giao công nghệ, phía doanh nghiệp Đức buộc phải chuyển giao bản thiết kế gốc và mã code, để phía nhận chuyển giao có thể tự vận hành nhà máy sản xuất của họ.

“Khối tư nhân dùng tiền của họ, có động lực tối đa hoá lợi nhuận. Họ buộc phải nhìn xa hơn, khi việc xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam hoàn thành, công nhân và nhà máy của họ sẽ làm gì?

Như vậy, họ sẽ có động lực làm tốt nhất để có thể gia nhập chuỗi cung ứng ngành công nghiệp đường sắt thế giới, cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và năng lực sáng tạo công nghệ. Đó mới là cái đích cần hướng tới”, TS Bùi Ngọc Sơn kết luận.

Việt Nam có 63 DN tỷ USD trên sàn chứng khoán, giá trị hơn 8,5 triệu tỷ đồng: 1 năm có th êm 6 tân binh trị giá hơn 500.000 tỷ

https://cafef.vn/viet-nam-co-63-dn-ty-usd-tren-san-chung-khoan-gia-tri-hon-85-trieu-ty-dong-1-nam-co-them-6-tan-binh-tri-gia-hon-500000-ty-188260831230006973.chnAnh Khôi | 01-09-2026 – 00:02 AM | Doanh nghiệp
Việt Nam có 63 DN tỷ USD trên sàn chứng khoán, giá trị hơn 8,5 triệu tỷ đồng: 1 năm có thêm 6 tân binh trị giá hơn 500.000 tỷ

Từ ngân hàng, bất động sản đến viễn thông, năng lượng, bán lẻ, hàng không và du lịch, bản đồ doanh nghiệp tỷ USD trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng đa dạng hơn.

Theo dữ liệu vốn hóa tại ngày 28/8, nếu lấy ngưỡng quy đổi khoảng 26.000 tỷ đồng tương đương 1 tỷ USD, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 63 doanh nghiệp đạt quy mô tỷ USD.

Tổng vốn hóa của nhóm này đạt hơn 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 327 tỷ USD.

Đáng chú ý, chỉ trong khoảng một năm trở lại đây, thị trường đã đón thêm 6 “tân binh” có vốn hóa trên 1 tỷ USD, gồm Vinpearl, TCBS, VPS, VPBankS, Điện Máy Xanh và Chứng khoán LPBank. Tổng vốn hóa của 6 doanh nghiệp này tại cuối tháng 8 đạt gần 514.000 tỷ đồng, tương đương gần 20 tỷ USD.

Trong đó, riêng 4 doanh nghiệp chứng khoán gồm TCBS, VPS, VPBankS và Chứng khoán LPBank đã có tổng vốn hóa khoảng 273.000 tỷ đồng, tương đương hơn 10 tỷ USD.

Hai đại diện còn lại đến từ những lĩnh vực khác. Vinpearl hiện có vốn hóa gần 140.000 tỷ đồng, đưa du lịch – nghỉ dưỡng xuất hiện một đại diện quy mô hơn 5 tỷ USD trên sàn. Điện Máy Xanh cũng nhanh chóng đạt vốn hóa hơn 100.000 tỷ đồng sau khi lên sàn, bổ sung thêm một tên tuổi lớn cho nhóm bán lẻ.

Không còn chỉ là câu chuyện ngân hàng và bất động sản

Trong nhiều năm, nhóm doanh nghiệp vốn hóa lớn trên thị trường chứng khoán thường gắn với ngân hàng và bất động sản. Đến cuối tháng 8/2026, hai nhóm này vẫn giữ vai trò rất lớn.

Ngân hàng hiện là nhóm có số lượng doanh nghiệp tỷ USD đông nhất, với 19 cái tên, tổng vốn hóa hơn 2,6 triệu tỷ đồng. Dẫn đầu là Vietcombank với hơn 502.000 tỷ đồng, tiếp đến là BIDV, VietinBank, Techcombank, VPBank và MB, đều nằm trong nhóm doanh nghiệp lớn nhất toàn thị trường.

Ở bất động sản và các tập đoàn đa ngành, Vingroup và Vinhomes tiếp tục tạo khoảng cách lớn về quy mô. Vingroup hiện có vốn hóa hơn 1,8 triệu tỷ đồng, còn Vinhomes gần 600.000 tỷ đồng. Phía sau còn có Sunshine Group, Vincom Retail, Becamex IDC và Novaland.

Tuy nhiên, phần còn lại của bản đồ doanh nghiệp tỷ USD đã trở nên đa dạng hơn đáng kể.

Nếu loại nhóm tài chính và bất động sản, vẫn còn 27 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác có tổng vốn hóa hơn 2,6 triệu tỷ đồng, tương đương trên 100 tỷ USD.

Năng lượng – tài nguyên là một trong những trụ lớn nhất, với tổng vốn hóa khoảng 639.000 tỷ đồng. PV GAS dẫn đầu nhóm với hơn 203.000 tỷ đồng, tiếp đến là Lọc hóa dầu Bình Sơn với hơn 133.000 tỷ đồng và Tập đoàn Cao su Việt Nam gần 130.000 tỷ đồng. Petrolimex, PV Power, Masan High-Tech Materials và Vimico cũng đều đã vượt ngưỡng tỷ USD.

Tiêu dùng – bán lẻ có tổng vốn hóa hơn 600.000 tỷ đồng. Masan Consumer hiện lớn nhất nhóm với khoảng 187.000 tỷ đồng, theo sau là Vinamilk với hơn 130.000 tỷ đồng và Thế Giới Di Động khoảng 110.000 tỷ đồng. Điện Máy Xanh sau khi lên sàn cũng đã đạt trên 100.000 tỷ đồng, trong khi Sabeco và FPT Retail tiếp tục góp mặt trong câu lạc bộ tỷ USD.

Công nghệ – viễn thông hiện có ba đại diện lớn với tổng vốn hóa khoảng 442.000 tỷ đồng. Viettel Global dẫn đầu với khoảng 268.000 tỷ đồng và đã vươn lên nhóm doanh nghiệp lớn nhất toàn thị trường. FPT đứng sau với hơn 125.000 tỷ đồng, còn FPT Telecom đạt gần 48.000 tỷ đồng.

Hạ tầng, hàng không, vận tải và logistics cũng hình thành một nhóm quy mô gần 440.000 tỷ đồng. ACV đứng đầu với hơn 151.000 tỷ đồng, tiếp đến là Vietjet khoảng 96.000 tỷ đồng, VIMC hơn 84.000 tỷ đồng và Vietnam Airlines hơn 71.000 tỷ đồng. Gemadept cũng đã có vốn hóa trên 1 tỷ USD.

Ở nhóm công nghiệp – vật liệu, Hòa Phát là đại diện lớn nhất với vốn hóa gần 187.000 tỷ đồng. Phía sau là VEAM, GELEX Electric, GELEX và REE. Tổng vốn hóa nhóm này đạt khoảng 338.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, du lịch – nghỉ dưỡng cũng đã có đại diện quy mô lớn với Vinpearl, vốn hóa gần 140.000 tỷ đồng, tương đương hơn 5 tỷ USD.

Cùng với làn sóng IPO và niêm yết mới trong khoảng hơn một năm qua, bản đồ doanh nghiệp tỷ USD vì thế không chỉ tăng về quy mô mà còn mở rộng đáng kể về ngành nghề.