Gỡ điểm nghẽn tín dụng, giảm chi phí để hỗ trợ doanh nghiệp

https://dttc.sggp.org.vn/go-diem-nghen-tin-dung-giam-chi-phi-de-ho-tro-doanh-nghiep-post138929.html31/10/2026 11:01

(ĐTTCO) – Sáng 31-10, Quốc hội họp phiên toàn thể, tiếp tục thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách năm 2027.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp Quốc hội, sáng 31-10. Ảnh: QUANG PHÚCPhó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp Quốc hội, sáng 31-10. Ảnh: QUANG PHÚC

Đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp

Bàn về động lực tăng trưởng kinh tế, đại biểu (ĐB) Trịnh Xuân An (Đồng Nai) đề nghị Chính phủ tập trung giảm lãi suất cho vay thực tế, điều tiết thanh khoản và giảm chi phí hoạt động ngân hàng. Đồng thời, cần minh bạch lãi suất, phí vay; đổi mới bảo lãnh tín dụng, cho vay theo dòng tiền, đơn hàng, chuỗi cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn thông qua cơ cấu thời hạn trả nợ, khoanh nợ khi đủ điều kiện.

c-1-965-4431.jpeg.webp

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp Quốc hội, sáng 31-10. Ảnh: QUANG PHÚC

ĐB Trịnh Xuân An nhấn mạnh, Chính phủ cần đánh giá chất lượng tăng trưởng dựa trên thu nhập thực, việc làm bền vững, khả năng tích lũy của người dân và năng lực tái đầu tư của doanh nghiệp trong nước, bởi các chỉ số tăng trưởng chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng chi tiêu thực tế.

Theo ĐB, mặc dù thu nhập bình quân của người lao động trong 9 tháng tăng khoảng 9%, nhưng do Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,52% nên thu nhập thực tế chỉ tăng khoảng 4,3%. “Người dân phải được thụ hưởng thành quả phát triển ngay trong quá trình tăng trưởng, vì đây vừa là mục tiêu, vừa tạo ra sức mua, niềm tin và động lực để nền kinh tế phát triển bền vững”, ĐB bình luận.

an-8159-5166.jpg.webp

ĐB Trịnh Xuân An (Đồng Nai). Ảnh: QUANG PHÚC

Đồng quan điểm về gánh nặng của cộng đồng doanh nghiệp, ĐB Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ), Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề nghị mở rộng quy mô, đối tượng chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người mua nhà ở xã hội; cắt giảm các khoản phí bảo lãnh dự thầu và phí thực hiện hợp đồng…

Đối với các khó khăn về đầu tư và chi phí đầu vào, ĐB Nguyễn Cao Sơn đề xuất ban hành cơ chế điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây lắp đầu tư công ký trước ngày 1-1-2026; sửa đổi quy định về khoáng sản theo hướng đưa đất thông thường làm vật liệu san lấp ra khỏi danh mục khoáng sản nhóm 4; giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, kéo dài thời hạn hỗ trợ thuế bảo vệ môi trường và thuế GTGT đối với dầu diesel; giảm giá điện, ưu đãi vốn vay cho thiết bị nhập khẩu năng lượng tái tạo và nâng cấp lưới điện trung, hạ áp phục vụ sản xuất…

ĐB Trần Thị Vân (Bắc Ninh) nhìn nhận, những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải do thiếu luật, mà nằm ở độ trễ chính sách và năng lực tổ chức thực thi.

bi-thu-5796-2743.jpeg.webp

Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang và các đại biểu dự họp. Ảnh: QUANG PHÚC

ĐB kiến nghị một số giải pháp trọng tâm, nhấn mạnh yếu tố đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ quản lý quy trình thủ tục sang quản lý theo mục tiêu và kết quả; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

"Thuận thiên" không có nghĩa là thụ động chấp nhận

Lo ngại trước những vấn đề nghiêm trọng đặt ra cho vùng đồng bằng sông Cửu Long do biến đổi khí hậu, ĐB Nguyễn Bình Tân (Cà Mau) nêu quan điểm phát triển "thuận thiên" không có nghĩa là thụ động chấp nhận sống chung với ngập úng, triều cường, sạt lở hay xâm nhập mặn.

nguyen-binh-tan-3907-1826.jpg.webp

ĐB Nguyễn Bình Tân (Cà Mau). Ảnh: QUANG PHÚC

ĐB Nguyễn Bình Tân nhận định, "thuận thiên" là lựa chọn mô hình phát triển phù hợp sinh thái nhưng phải chủ động đầu tư hệ thống thủy lợi, đê biển, cống kiểm soát triều và hạ tầng giao thông thích ứng.

Phản ánh tiến độ thực tế nhiều dự án trọng điểm còn chậm, ĐB Nguyễn Bình Tân đề nghị Chính phủ khẩn trương hoàn thiện thủ tục, bố trí vốn trung hạn triển khai đồng bộ 8 dự án trọng điểm chống biến đổi khí hậu (như hệ thống kiểm soát điều tiết nguồn nước phía nam quốc lộ 1A tại Cà Mau, vùng bờ nam sông Hậu). ĐB cũng kiến nghị tích hợp quy hoạch tuyến đường giao thông ven biển với hệ thống đê, cống kiểm soát triều cường và xây dựng danh mục ưu tiên đầu tư phân bổ vốn theo mức độ rủi ro, quy mô dân cư được bảo vệ.

Cùng hướng tới phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, theo ĐB Tạ Thị Yên (Điện Biên), cần ghi nhận đầy đủ đóng góp sinh thái của rừng đầu nguồn đối với an ninh nguồn nước; triển khai hiệu quả các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon rừng.

ĐB đề xuất ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở sơ chế, chế biến, kho lạnh và logistics để giảm chi phí vận chuyển, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp miền núi.

ANH PHƯƠNG

Vì sao doanh nghiệp Việt chỉ ưu tiên vay ngân hàng?

https://znews.vn/vi-sao-doanh-nghiep-viet-chi-uu-tien-vay-ngan-hang-post1693258.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 16:15 (GMT+7)
    Quy trình, thủ tục và thời gian phê duyệt khoản vay ngân hàng thuận lợi hơn so với các kênh huy động vốn khác khiến các doanh nghiệp Việt phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng.
    Chia sẻ tại phiên tọa đàm "Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp Việt trong chu kỳ vốn mới", trong khuôn khổ Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) tổ chức mới đây, ông Johan Nyvene, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), nhận định sự chuẩn bị của doanh nghiệp Việt Nam khi huy động vốn trên thị trường quốc tế còn hạn chế, kể cả ở những doanh nghiệp quy mô lớn.

    Chỉ ưu tiên huy động vốn qua ngân hàng

    Theo ông, phần lớn doanh nghiệp trong nước đã quen với phương thức huy động vốn truyền thống qua ngân hàng.

    Với phương thức này, doanh nghiệp thường chỉ cần cung cấp báo cáo tài chính quá khứ và tài sản bảo đảm để chứng minh khả năng trả nợ, đồng thời quy trình có thể hoàn tất trong vài tháng.

    vay ngân hàng ảnh 1
    Ông Johan Nyvene, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: BTC.

    Tuy nhiên, khi thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, yêu cầu hoàn toàn khác. Doanh nghiệp phải tổ chức các buổi roadshow, trực tiếp gặp gỡ nhà đầu tư, trình bày chiến lược kinh doanh, triển vọng tăng trưởng cũng như khả năng tạo dòng tiền trong tương lai.

    Quá trình này đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao hay giám đốc tài chính. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp chưa có đội ngũ đủ năng lực và kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc này. Thậm chí, ông dẫn trường hợp chủ tịch HĐQT hoặc tổng giám đốc không trực tiếp tham gia các buổi làm việc với nhà đầu tư.

    Điều này khiến doanh nghiệp khó tạo dựng niềm tin, trong khi nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi mức độ minh bạch và khả năng giải trình cao trước khi quyết định rót vốn.

    Một điểm yếu khác của doanh nghiệp Việt nằm ở dữ liệu tài chính. Báo cáo đã được kiểm toán chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu thẩm định chuyên sâu. Nhà đầu tư có thể hỏi chi tiết về cơ cấu doanh thu, nguồn đóng góp doanh thu, nhóm khách hàng, tỷ trọng khách hàng mới và khách hàng hiện hữu cùng khả năng duy trì quan hệ với khách hàng dài hạn.

    Đơn cử, khi doanh nghiệp công bố doanh thu tăng trưởng qua từng năm, ngoài việc quan tâm đến kết quả trước đây, nhà đầu tư còn muốn biết triển vọng 2 năm tiếp theo, bao gồm doanh thu đến từ nhóm khách hàng nào, bao nhiêu phần đến từ khách hàng dài hạn, khách hàng quay lại hay khách hàng mới.

    Ông Nyvene nhận định nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu và phương án giải trình đủ sâu để trả lời những câu hỏi này. Đây là hạn chế khiến việc thuyết phục nhà đầu tư quốc tế gặp khó khăn, ngay cả khi kết quả kinh doanh tích cực.

    Bên cạnh năng lực tiếp cận nhà đầu tư, chi phí chuẩn bị cũng là rào cản mà doanh nghiệp cần phải cân nhắc.

    Theo ông Nyvene, huy động vốn qua ngân hàng thường không đòi hỏi nhiều chi phí tư vấn, chuẩn bị hồ sơ. Ngược lại, để phát hành cổ phiếu hoặc huy động vốn từ các tổ chức đầu tư quốc tế, doanh nghiệp cần nhiều đơn vị chuyên nghiệp tham gia, từ tư vấn tài chính, pháp lý, kiểm toán quốc tế đến bảo lãnh phát hành.

    Các tổ chức kiểm toán quốc tế như PwC và những đơn vị tư vấn hàng đầu sẽ hỗ trợ rà soát, chuẩn hóa thông tin, giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn của nhà đầu tư nước ngoài. Tổng chi phí chuẩn bị cho một thương vụ có thể lên tới vài triệu USD, tùy quy mô và tính chất.

    "Vấn đề là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có kế hoạch dài hạn cho việc huy động vốn quốc tế mà thường chỉ tìm kiếm phương án gọi vốn khi nhu cầu tài chính trở nên cấp thiết", ông Nyvene chia sẻ.

    Khi lãi suất ngân hàng tăng cao, doanh nghiệp mới tính đến chuyện chuyển sang huy động vốn quốc tế hoặc phát hành trái phiếu. Trong khi đó, chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ tài chính và xây dựng đội ngũ có khả năng làm việc với nhà đầu tư đều cần thời gian.

    Vì vậy, ông khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho quá trình chuẩn bị ngay từ trước, thay vì chỉ tìm đến thị trường vốn quốc tế khi kênh tín dụng ngân hàng trở nên đắt đỏ hoặc khó tiếp cận.

    Ngân hàng khó có thể tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn

    Liên quan đến vấn đề gọi vốn từ ngân hàng, ông Đinh Đức Minh, Giám đốc đầu tư cấp cao VinaCapital, cho biết Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng. Đáng chú ý, đầu tư cơ sở hạ tầng được định hướng tăng mạnh, từ mức khoảng 4-5% GDP trước đây lên khoảng 7% GDP trong giai đoạn tới.

    Những yếu tố này tạo ra nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế. Tổng vốn đầu tư giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi giai đoạn 2021-2025.

    Trong đó, đầu tư công dự kiến tăng mạnh, tập trung vào các lĩnh vực như đường sắt, đường cao tốc và sân bay. Khu vực tư nhân cũng cần nguồn vốn lớn để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

    vay ngân hàng ảnh 2
    Ông Đinh Đức Minh, Giám đốc đầu tư cấp cao VinaCapital, chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: BTC.

    Theo lãnh đạo VinaCapital, hệ thống ngân hàng khó có thể tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế như trước. Hiện, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Trong khi đó, hệ số an toàn vốn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế.

    Ngoài ra, chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay cũng là điểm nghẽn đáng lưu ý. Nguồn tiền gửi dài hạn còn hạn chế, trong khi nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế lớn hơn. Điều này tạo áp lực lên khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng.

    Vì vậy, đại diện VinaCapital nhìn nhận phát triển thị trường vốn vừa bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, vừa giúp giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, qua đó tạo thêm kênh dẫn vốn trung và dài hạn.

Chứng khoán èo uột, chuyên gia chỉ ra cơ hội thời gian tới

https://znews.vn/chung-khoan-eo-uot-chuyen-gia-chi-ra-co-hoi-thoi-gian-toi-post1693274.html

  • Chủ nhật, 1/11/2026 06:04 (GMT+7)

    Thị trường Việt Nam vẫn được hưởng lợi bởi nhiều yếu tố. Nếu giá dầu và lãi suất hạ nhiệt, dòng vốn có thể quay trở lại, nhất là khi giới đầu tư đang chốt lời cổ phiếu AI.
    Chia sẻ bên lề phiên tọa đàm "Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp Việt trong chu kỳ vốn mới", trong khuôn khổ Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) tổ chức mới đây, ông Trần Hoàng Sơn, Giám đốc Chiến lược Thị trường CTCP Chứng khoán VPBank (VPBankS), nhận định thị trường chứng khoán Việt Nam đang chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có lãi suất, tỷ giá và thanh khoản. Đây là những yếu tố dẫn đến biến động lớn trên thị trường trong giai đoạn hiện tại.

    doanh nghiệp Việt ảnh 1
    Ông Trần Hoàng Sơn, Giám đốc Chiến lược Thị trường CTCP Chứng khoán VPBank (VPBankS), cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đang chịu tác động từ nhiều yếu tố. Ảnh: BTC.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam hưởng lợi từ nhiều yếu tố

    Tuy nhiên, theo ông, thị trường vẫn sẽ được hỗ trợ trong thời gian tới. Đơn cử là việc Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng, cùng với 4 đợt giải ngân trong năm 2026 có thể thu hút lượng vốn thụ động đáng kể, ước tính khoảng 2-2,5 tỷ USD.

    Bên cạnh đó, nếu tình hình trên thị trường quốc tế hạ nhiệt, đặc biệt là xu hướng giá dầu và lãi suất, dòng vốn chủ động có thể quay trở lại các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.

    Ông Sơn cho rằng việc các nhà đầu tư quốc tế đang chốt lời tại nhóm cổ phiếu AI cũng có thể tạo cơ hội cho dòng vốn dịch chuyển sang những thị trường khác. Theo ông, dòng vốn hiện nay đang có sự cạnh tranh rất lớn giữa các thị trường. Xu hướng AI tiếp tục đóng vai trò là yếu tố hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, khi yếu tố này "nguội" dần, Việt Nam sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh.

    Ông phân tích lợi thế của Việt Nam nằm ở tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp. Đây là những yếu tố quan trọng giúp thị trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

    Lấy ví dụ thực tế từ hoạt động huy động vốn của VPBank, ông Sơn cho biết ngân hàng đã huy động thành công hơn 1,4 tỷ USD vốn cổ phần từ nhà đầu tư Nhật Bản trong giai đoạn khó khăn, nhờ cam kết về tốc độ tăng trưởng cao và khả năng thực hiện đúng những cam kết đó.

    Theo ông Sơn, điều này cho thấy nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, tiếp đến là hiệu quả sử dụng vốn và sau cùng mới là yếu tố minh bạch.

    Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ diễn đàn, bà Wanming Du, Giám đốc chính sách chỉ số khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại FTSE Russell, cho rằng để duy trì sức hấp dẫn với dòng vốn toàn cầu, Việt Nam cần tập trung tháo gỡ các rào cản về sở hữu nước ngoài, đồng thời nâng chiều sâu thị trường.

    doanh nghiệp Việt ảnh 2
    Bà Wanming Du, Giám đốc chính sách chỉ số khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại FTSE Russell, chia sẻ tại phiên thảo luận. Ảnh: BTC.

    Theo bà, việc hạn chế sở hữu nước ngoài đang ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế và tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam trong danh mục thị trường mới nổi. Về dài hạn, thị trường cần gia tăng số lượng doanh nghiệp niêm yết chất lượng, đa dạng hóa ngành nghề và phát triển thêm lực lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước.

    Trong đó, các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và cơ chế tiết kiệm đầu tư vào chứng khoán có thể tạo nguồn vốn ổn định, dài hạn.

    Ngoài ra, Việt Nam cần bảo đảm công bố thông tin minh bạch, nâng cao hiệu quả thực thi quy định và tăng tính dự báo của chính sách để củng cố niềm tin nhà đầu tư.

    Trả lời câu hỏi về khả năng duy trì dòng vốn sau nâng hạng, bà Wanming Du cho biết các quỹ đầu tư thụ động phân bổ vốn vào Việt Nam dựa trên tỷ trọng của thị trường trong bộ chỉ số các thị trường mới nổi (EM). Dòng vốn này sẽ tiếp tục được duy trì nếu Việt Nam giữ được tỷ trọng và số lượng doanh nghiệp trong danh mục.

    Để gia tăng tỷ trọng, Việt Nam cần có thêm nhiều doanh nghiệp được đưa vào bộ chỉ số thông qua các đợt IPO, đồng thời mở rộng nguồn cung cổ phiếu ở nhiều ngành nghề, thay vì chỉ tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn.

    "Việc tăng số lượng doanh nghiệp trong bộ chỉ số và giải quyết các hạn chế về sở hữu nước ngoài sẽ góp phần cải thiện tỷ trọng của Việt Nam trong danh mục thị trường mới nổi, qua đó tăng khả năng thu hút dòng vốn quốc tế", bà nhấn mạnh.

    10 doanh nghiệp IPO từ cuối năm 2025 đến nay

    Theo chia sẻ của Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trước Quốc hội sáng 31/10, thị trường chứng khoán, huy động vốn trong 9 tháng đầu năm đã tăng 15% so với cùng kỳ. Phát hành cổ phiếu ra công chúng tăng 60%, phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80%.

    Từ cuối năm 2025 đến nay, có 10 doanh nghiệp thực hiện IPO, huy động hơn 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần tổng giá trị huy động của cả giai đoạn 2021-2024.

    Đến năm 2030, Bộ Tài chính đặt mục tiêu vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, so với mức hiện tại khoảng 90% GDP. Quy mô thị trường trái phiếu hướng tới 58% GDP và thị trường sản phẩm phái sinh đạt 20-30% GDP.

    Là một trong những doanh nghiệp dự kiến niêm yết cổ phiếu trên sàn trong thời gian tới, ông Dương Trọng Đoàn, Phó tổng giám đốc tài chính Tập đoàn KLC, cho biết công ty đã xây dựng lộ trình chuẩn bị niêm yết cụ thể, thậm chí có thể sớm hơn mốc 2028 đã đề ra trước đó.

    Dù vậy, doanh nghiệp vẫn muốn dành thêm thời gian để hoàn thiện các quy trình, bảo đảm số liệu tài chính thực chất và xây dựng cơ cấu hoạt động bền vững trước khi đưa cổ phiếu lên sàn.

    Hiện, đây là doanh nghiệp xuất khẩu tôm hùm lớn của Việt Nam sang Trung Quốc, với thị phần chiếm khoảng 34%. Doanh thu 9 tháng đầu năm của tập đoàn đạt khoảng 6.300 tỷ đồng, hướng đến mục tiêu vượt 10.000 tỷ đồng trong năm nay.

    Đến thời điểm dự kiến niêm yết năm 2028, doanh nghiệp kỳ vọng có thể đạt mức doanh thu gần 20.000 tỷ đồng, cùng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đạt mức tối thiểu 15-20%/năm.

    "Chủ trương chung của Nhà nước hiện nay đang tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp. Các công ty chứng khoán cũng đang hỗ trợ chúng tôi trong quá trình chuẩn bị", ông Đoàn nói thêm.

    Vị lãnh đạo khẳng định việc huy động vốn là mục tiêu khi lên sàn, nhưng điều quan trọng hơn nằm ở mong muốn đưa cổ phiếu KLC niêm yết theo các chuẩn mực của Việt Nam và quốc tế, hướng tới những nguồn vốn có kỳ hạn dài hơn.

    Theo ông, huy động vốn là nhu cầu của mọi doanh nghiệp, nhưng với KLC, việc này cần được thực hiện đúng thời điểm, đúng quy mô và phù hợp với cấu trúc nguồn vốn.

    Doanh nghiệp hiện có các dự án ngắn và dài hạn, do đó nguồn vốn cũng cần được phân bổ tương ứng. Ngoài ra, tỷ lệ dư nợ tín dụng của doanh nghiệp hiện ở mức khá cao nên KLC đang cân nhắc cơ cấu nguồn vốn nhằm hạn chế rủi ro tài chính trong dài hạn.

Vì sao doanh nghiệp Việt chỉ ưu tiên vay ngân hàng?

https://znews.vn/vi-sao-doanh-nghiep-viet-chi-uu-tien-vay-ngan-hang-post1693258.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 16:15 (GMT+7)
    Quy trình, thủ tục và thời gian phê duyệt khoản vay ngân hàng thuận lợi hơn so với các kênh huy động vốn khác khiến các doanh nghiệp Việt phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng.
    Chia sẻ tại phiên tọa đàm "Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp Việt trong chu kỳ vốn mới", trong khuôn khổ Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) tổ chức mới đây, ông Johan Nyvene, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), nhận định sự chuẩn bị của doanh nghiệp Việt Nam khi huy động vốn trên thị trường quốc tế còn hạn chế, kể cả ở những doanh nghiệp quy mô lớn.

    Chỉ ưu tiên huy động vốn qua ngân hàng

    Theo ông, phần lớn doanh nghiệp trong nước đã quen với phương thức huy động vốn truyền thống qua ngân hàng.

    Với phương thức này, doanh nghiệp thường chỉ cần cung cấp báo cáo tài chính quá khứ và tài sản bảo đảm để chứng minh khả năng trả nợ, đồng thời quy trình có thể hoàn tất trong vài tháng.

    vay ngân hàng ảnh 1
    Ông Johan Nyvene, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: BTC.

    Tuy nhiên, khi thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, yêu cầu hoàn toàn khác. Doanh nghiệp phải tổ chức các buổi roadshow, trực tiếp gặp gỡ nhà đầu tư, trình bày chiến lược kinh doanh, triển vọng tăng trưởng cũng như khả năng tạo dòng tiền trong tương lai.

    Quá trình này đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao hay giám đốc tài chính. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp chưa có đội ngũ đủ năng lực và kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc này. Thậm chí, ông dẫn trường hợp chủ tịch HĐQT hoặc tổng giám đốc không trực tiếp tham gia các buổi làm việc với nhà đầu tư.

    Điều này khiến doanh nghiệp khó tạo dựng niềm tin, trong khi nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi mức độ minh bạch và khả năng giải trình cao trước khi quyết định rót vốn.

    Một điểm yếu khác của doanh nghiệp Việt nằm ở dữ liệu tài chính. Báo cáo đã được kiểm toán chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu thẩm định chuyên sâu. Nhà đầu tư có thể hỏi chi tiết về cơ cấu doanh thu, nguồn đóng góp doanh thu, nhóm khách hàng, tỷ trọng khách hàng mới và khách hàng hiện hữu cùng khả năng duy trì quan hệ với khách hàng dài hạn.

    Đơn cử, khi doanh nghiệp công bố doanh thu tăng trưởng qua từng năm, ngoài việc quan tâm đến kết quả trước đây, nhà đầu tư còn muốn biết triển vọng 2 năm tiếp theo, bao gồm doanh thu đến từ nhóm khách hàng nào, bao nhiêu phần đến từ khách hàng dài hạn, khách hàng quay lại hay khách hàng mới.

    Ông Nyvene nhận định nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu và phương án giải trình đủ sâu để trả lời những câu hỏi này. Đây là hạn chế khiến việc thuyết phục nhà đầu tư quốc tế gặp khó khăn, ngay cả khi kết quả kinh doanh tích cực.

    Bên cạnh năng lực tiếp cận nhà đầu tư, chi phí chuẩn bị cũng là rào cản mà doanh nghiệp cần phải cân nhắc.

    Theo ông Nyvene, huy động vốn qua ngân hàng thường không đòi hỏi nhiều chi phí tư vấn, chuẩn bị hồ sơ. Ngược lại, để phát hành cổ phiếu hoặc huy động vốn từ các tổ chức đầu tư quốc tế, doanh nghiệp cần nhiều đơn vị chuyên nghiệp tham gia, từ tư vấn tài chính, pháp lý, kiểm toán quốc tế đến bảo lãnh phát hành.

    Các tổ chức kiểm toán quốc tế như PwC và những đơn vị tư vấn hàng đầu sẽ hỗ trợ rà soát, chuẩn hóa thông tin, giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn của nhà đầu tư nước ngoài. Tổng chi phí chuẩn bị cho một thương vụ có thể lên tới vài triệu USD, tùy quy mô và tính chất.

    "Vấn đề là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có kế hoạch dài hạn cho việc huy động vốn quốc tế mà thường chỉ tìm kiếm phương án gọi vốn khi nhu cầu tài chính trở nên cấp thiết", ông Nyvene chia sẻ.

    Khi lãi suất ngân hàng tăng cao, doanh nghiệp mới tính đến chuyện chuyển sang huy động vốn quốc tế hoặc phát hành trái phiếu. Trong khi đó, chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ tài chính và xây dựng đội ngũ có khả năng làm việc với nhà đầu tư đều cần thời gian.

    Vì vậy, ông khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho quá trình chuẩn bị ngay từ trước, thay vì chỉ tìm đến thị trường vốn quốc tế khi kênh tín dụng ngân hàng trở nên đắt đỏ hoặc khó tiếp cận.

    Ngân hàng khó có thể tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn

    Liên quan đến vấn đề gọi vốn từ ngân hàng, ông Đinh Đức Minh, Giám đốc đầu tư cấp cao VinaCapital, cho biết Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng. Đáng chú ý, đầu tư cơ sở hạ tầng được định hướng tăng mạnh, từ mức khoảng 4-5% GDP trước đây lên khoảng 7% GDP trong giai đoạn tới.

    Những yếu tố này tạo ra nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế. Tổng vốn đầu tư giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi giai đoạn 2021-2025.

    Trong đó, đầu tư công dự kiến tăng mạnh, tập trung vào các lĩnh vực như đường sắt, đường cao tốc và sân bay. Khu vực tư nhân cũng cần nguồn vốn lớn để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

    vay ngân hàng ảnh 2
    Ông Đinh Đức Minh, Giám đốc đầu tư cấp cao VinaCapital, chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: BTC.

    Theo lãnh đạo VinaCapital, hệ thống ngân hàng khó có thể tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế như trước. Hiện, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Trong khi đó, hệ số an toàn vốn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế.

    Ngoài ra, chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay cũng là điểm nghẽn đáng lưu ý. Nguồn tiền gửi dài hạn còn hạn chế, trong khi nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế lớn hơn. Điều này tạo áp lực lên khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng.

    Vì vậy, đại diện VinaCapital nhìn nhận phát triển thị trường vốn vừa bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, vừa giúp giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, qua đó tạo thêm kênh dẫn vốn trung và dài hạn.

Giảm 30% thuế năm 2026-2027: Hướng dẫn cá nhân, doanh nghiệp kê khai

https://znews.vn/giam-30-thue-nam-2026-2027-huong-dan-ca-nhan-doanh-nghiep-ke-khai-post1693252.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 14:41 (GMT+7)
    Chính phủ vừa ban hành hướng dẫn về điều kiện, cách kê khai và xác định số thuế thu nhập được giảm 30% đối với cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp trong hai năm 2026-2027.
    Thay mặt Chính phủ, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Nghị định số 398/2026/NĐ-CP, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).

    Nghị định có hiệu lực từ ngày 29/10, áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.

    Cá nhân kinh doanh doanh thu không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% thuế

    Theo Điều 2 Nghị định, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền đại diện hộ kinh doanh, được giảm 30% số thuế TNCN phải nộp nếu doanh thu hàng năm không quá 10 tỷ đồng.

    Mức giảm áp dụng đối với toàn bộ số thuế TNCN phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, không phân biệt phương pháp tính thuế.

    Doanh thu năm làm căn cứ xác định đối tượng được giảm thuế thực hiện theo Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.

    Về thủ tục, cá nhân kinh doanh dự kiến doanh thu năm 2026 hoặc 2027 không quá 10 tỷ đồng được kê khai giảm thuế theo Mẫu số 01 ban hành kèm Nghị định và nộp cùng hồ sơ khai thuế theo quy định.

    Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay hoặc nộp thay thuế TNCN cho cá nhân kinh doanh, nếu đáp ứng điều kiện về doanh thu thuộc phạm vi khấu trừ, khai thay, nộp thay thì được giảm 30% số thuế tương ứng. Việc kê khai thực hiện theo Mẫu số 02, nộp cùng tờ khai thuế theo quy định.

    Trường hợp tổng doanh thu thực tế từ toàn bộ hoạt động kinh doanh trong năm vượt 10 tỷ đồng, cá nhân sẽ không còn thuộc diện được giảm thuế và phải nộp bổ sung toàn bộ số thuế đã được giảm trước đó.

    Trong trường hợp này, cá nhân phải kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03, nộp cùng hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế từ đầu năm vượt ngưỡng 10 tỷ đồng.

    Khoản thuế phải nộp bổ sung do không còn đáp ứng điều kiện giảm thuế sẽ không bị tính tiền chậm nộp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu vượt ngưỡng.

    Đối với cá nhân đã kê khai thuế nhưng chưa áp dụng chính sách giảm thuế, Nghị định cho phép khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ hoặc xác định số thuế được giảm khi quyết toán thuế năm. Nếu phát sinh số thuế nộp thừa, cá nhân được bù trừ hoặc hoàn trả theo quy định.

    Ngoài ra, trường hợp việc khai bổ sung hoặc kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán làm thay đổi số thuế phải nộp, số thuế được giảm cũng được điều chỉnh tương ứng. Nếu số thuế phải nộp tăng thêm, phần tăng thêm vẫn được giảm 30% khi cá nhân tiếp tục đáp ứng đầy đủ điều kiện.

    Doanh nghiệp được giảm thêm 30% thuế sau khi trừ ưu đãi

    Đối với doanh nghiệp, Điều 3 Nghị định quy định giảm 30% số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có doanh thu hàng năm không quá 10 tỷ đồng.

    Đối tượng áp dụng bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác được thành lập theo quy định có hoạt động sản xuất, kinh doanh phát sinh thu nhập.

    Tuy nhiên, chính sách không áp dụng đối với doanh nghiệp hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết số 43/2026/QH16 có hiệu lực, nếu tổng doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp sau chia, tách vượt 10 tỷ đồng.

    Theo quy định, mức giảm 30% được tính trên số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và 2027, áp dụng đối với toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp có kỳ tính thuế theo năm, không phân biệt phương pháp tính thuế.

    Trường hợp doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế theo Luật Thuế TNDN hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội, mức giảm 30% được tính trên số thuế còn phải nộp sau khi đã trừ các khoản ưu đãi.

    Về điều kiện doanh thu, Nghị định xác định tổng doanh thu hàng năm bao gồm doanh thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác.

    giảm 30% thuế ảnh 1
    Doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế vẫn có thể được giảm thêm 30% trên số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp nếu đáp ứng điều kiện. Ảnh: Nam Khánh.

    Đối với doanh nghiệp có đơn vị phụ thuộc hoặc địa điểm kinh doanh, doanh thu làm căn cứ xét giảm thuế phải bao gồm cả doanh thu của các đơn vị này được thể hiện trên báo cáo tài chính tổng hợp năm.

    Riêng doanh nghiệp hình thành sau chia, tách, tổng doanh thu được xác định bằng doanh thu cộng gộp của tất cả doanh nghiệp hình thành từ quá trình chia, tách doanh nghiệp ban đầu trong kỳ tính thuế tương ứng.

    Về kê khai, doanh nghiệp dự kiến doanh thu năm 2026 hoặc 2027 không quá 10 tỷ đồng được tự xác định số thuế giảm khi tạm nộp thuế TNDN hàng quý.

    Tuy nhiên, nếu doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt 10 tỷ đồng, doanh nghiệp phải kê khai và nộp đủ số thuế còn thiếu. Việc xử lý tiền chậm nộp thực hiện theo quy định tại Nghị định số 252/2026/NĐ-CP.

    Tương tự cá nhân kinh doanh, trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung hồ sơ hoặc có kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán làm tăng số thuế phải nộp, phần thuế tăng thêm vẫn được giảm 30% nếu tiếp tục đáp ứng điều kiện. Ngược lại, nếu số thuế phải nộp giảm, doanh nghiệp phải điều chỉnh số thuế được giảm và xử lý khoản nộp thừa theo quy định.

Tăng trưởng cao phải chuyển hóa thành thu nhập, việc làm

https://znews.vn/tang-truong-cao-phai-chuyen-hoa-thanh-thu-nhap-viec-lam-post1693251.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 10:15 (GMT+7)

Các đại biểu Quốc hội cho rằng vấn đề cần quan tâm không chỉ là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, mà là tăng trưởng từ đâu, chất lượng ra sao, tăng trưởng có bền vững không…

Đại biểu Lê Hữu Trí đặt vấn đề về động lực, chất lượng, tính bền vững của mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao. Ảnh: Quochoi.vn.

Sáng 31/10, Quốc hội tiếp tục phiên thảo luận ở hội trường về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách Nhà nước. Mở đầu thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội đã đặt vấn đề liên quan mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong quý IV cũng như năm 2027.

Trong đó, hầu hết ý kiến đều cho rằng tăng trưởng kinh tế cao cần chuyển hóa thành thu nhập, việc làm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Cần có giải pháp cụ thể nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước

Đại biểu Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa) cho biết bên cạnh việc đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, vấn đề cần quan tâm là “tăng trưởng từ đâu, chất lượng ra sao, có bền vững không và thành quả tăng trưởng được chuyển hóa thành thu nhập, việc làm, năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân thế nào”.

Đại biểu cho rằng cần nhìn thẳng vào tính khả thi, chất lượng của mục tiêu tăng trưởng. Theo báo cáo thẩm tra, GDP 9 tháng năm nay tăng 9,01%, là kết quả tích cực ghi nhận nỗ lực lớn của Chính phủ, các bộ ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, tăng trưởng quý IV cần đạt khoảng 12,5%. Theo đại biểu, đây là thách thức rất lớn, đòi hỏi đánh giá đầy đủ các điều kiện để thực hiện.

“Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao phải đi liền với luận chứng đầy đủ về nguồn lực, năng lực hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực”, đại biểu Trí nêu quan điểm.

Theo ông, cần phân tích kỹ sự đóng góp của tiêu dùng trong nước, đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và năng suất lao động. Đây là cơ sở để xác định động lực nào đang thực sự dẫn dắt tăng trưởng, động lực nào còn yếu và cần phải khơi thông.

tăng trưởng ảnh 1
tăng trưởng ảnh 2
tăng trưởng ảnh 3
tăng trưởng ảnh 4
Quốc hội thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách nhà nước. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu cũng kiến nghị chuyển mạnh từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước.

Báo cáo cho thấy xuất khẩu 9 tháng tăng 24,5%, vốn FDI thực hiện 21,1 tỷ USD, tăng hơn 12%. Tuy nhiên, ông Trí cho rằng cần đánh giá sâu hơn hiệu quả mà những kết quả này tạo ra đối với nền kinh tế.

“Xuất khẩu tăng nhanh là tín hiệu tích cực, nhưng phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam là bao nhiêu, doanh nghiệp trong nước tham gia được đến đâu trong chuỗi cung ứng, năng suất lao động, trình độ công nghệ và thu nhập của người lao động tăng như thế nào?”, đại biểu đặt câu hỏi.

Đồng thời, ông cho biết nếu sản xuất và xuất khẩu tăng nhưng phần lớn nhiên liệu, linh kiện và công nghệ vẫn phụ thuộc bên ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu thực hiện những công đoạn có giá trị gia tăng thấp thì khả năng lan tỏa của tăng trưởng còn hạn chế.

Do đó, cần có giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đại biểu đoàn Khánh Hòa cũng kiến nghị có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp FDI liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam thay vì chỉ đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư bằng tổng số vốn đăng ký hoặc vốn giải ngân. Đồng thời, phải tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng hơn với đất đai, vốn, công nghệ và cơ hội tham gia các dự án lớn, giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ vướng mắc pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Đại biểu cũng kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư, khơi thông nguồn lực. Trong đó, đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài đều có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng.

Tăng trưởng kinh tế phải tạo ra việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, cơ hội phát triển rộng hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn

Đại biểu Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa)

Ông Trí cũng cho rằng hiện nguồn vốn trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, áp lực lãi suất và hạn chế của thị trường vốn, có thể làm tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.

Vì vậy, cần phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn, đồng thời kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và rủi ro trên những lĩnh vực có mức độ liên thông cao như ngân hàng, trái phiếu, bất động sản.

Đặc biệt, đại biểu Quốc hội nhấn mạnh thành quả tăng trưởng phải được chuyển hóa rõ ràng thành lợi ích của người dân.

“Tăng trưởng kinh tế phải tạo ra việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, cơ hội phát triển rộng hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn”, ông nhấn mạnh.

Giảm chi phí vốn, thời gian cho doanh nghiệp

Tương tự, đại biểu Lê Văn Thế (đoàn Ninh Bình) cũng cho rằng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên năm 2027, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm vốn mà phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và lợi ích cho người dân, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Đại biểu cho rằng cần nâng cao hiệu quả chuyển hóa vốn đầu tư thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng.

Theo phương án dự toán Chính phủ trình Quốc hội, chi đầu tư phát triển năm 2027 dự kiến khoảng 1,76 triệu tỷ đồng, tăng gần 57% so với dự toán năm 2026. Cùng vốn tín dụng, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, đây là nguồn lực lớn cho tăng trưởng.

Chính phủ đã xác định chuyển trọng tâm đánh giá đầu tư từ tỷ lệ giải ngân sang công trình đưa vào khai thác và năng lực sản xuất mới. Đại biểu đề nghị cụ thể hóa việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư theo từng loại dự án, kể cả tác động đến việc làm và đời sống của nhân dân.

tăng trưởng ảnh 5
Đại biểu Lê Văn Thế đề xuất cần giảm chi phí vốn và chi phí thời gian cho doanh nghiệp. Ảnh: Quochoi.vn.

Ông Thế cũng cho rằng cần quan tâm đúng mức đến chi phí thời gian của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí vốn mà còn chịu chi phí thời gian.

“Lãi suất là chi phí nhìn thấy nhưng thời gian chờ quy hoạch, thủ tục đất đai, xây dựng và phối hợp giữa các cơ quan cũng là chi phí thực của doanh nghiệp”, ông nói, đồng thời đề xuất cần rút ngắn khoảng chờ không cần thiết cho doanh nghiệp.

Để đảm bảo hiệu quả tăng trưởng, đại biểu Lê Văn Thế đề xuất cụ thể hóa các chỉ tiêu kế hoạch điều hành năm 2027 về chất lượng, chuyển hóa nguồn lực, năng suất, năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng, mức độ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước và kết quả thương mại hóa khoa học công nghệ.

Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Bộ Tài chính điều hành đồng bộ chính sách tiền tệ và tài khóa. Tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay phù hợp với kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và an toàn hệ thống, khuyến khích các tổ chức tín dụng đánh giá khả năng trả nợ trên cơ sở dòng tiền, dữ liệu và hiệu quả phương án kinh doanh đối với khách hàng đủ điều kiện gắn với kiểm soát rủi ro.

Thành quả tăng trưởng phải được chuyển hóa thành việc làm có chất lượng, thu nhập tốt hơn và đời sống nhân dân càng được cải thiện

Đại biểu Lê Văn Thế (đoàn Ninh Bình)

Về chi phí thời gian, đại biểu đề nghị theo dõi tổng thời gian giải quyết các quy trình liên thông về đầu tư, đất đai, xây dựng, xác định rõ trách nhiệm phối hợp, khắc phục tình trạng bổ sung hồ sơ điều lệ.

Đại biểu cũng đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, tăng cường tiếp nhận và làm chủ công nghệ.

“Tăng trưởng từ 10% trở lên phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô, sử dụng vốn hiệu quả và giảm chi phí thời gian. Quan trọng nhất, thành quả tăng trưởng phải được chuyển hóa thành việc làm có chất lượng, thu nhập tốt hơn và đời sống nhân dân càng được cải thiện”, đại biểu Lê Văn Thế nhấn mạnh.

Phó thủ tướng: Tăng trưởng 12,5% quý IV không phải nhiệm vụ bất khả thi

https://znews.vn/pho-thu-tuong-tang-truong-12-5-quy-iv-khong-phai-nhiem-vu-bat-kha-thi-post1693295.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 14:22 (GMT+7)
    Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định để quý IV đạt tăng trưởng 12,5% không phải nhiệm vụ bất khả thi khi nền kinh tế vẫn còn nhiều động lực để tăng tốc.

    Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định nền kinh tế vẫn còn nhiều động lực để tăng tốc. Ảnh: Quochoi.vn.

    Sáng 31/10, sau khi nghe ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã đại diện Chính phủ giải trình, làm rõ các nội dung đại biểu quan tâm về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách Nhà nước.

    Nội dung giải trình của Phó thủ tướng tập trung vào 3 vấn đề gồm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững; tình hình giải ngân vốn đầu tư công; và khả năng kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu Quốc hội giao.

    Riêng về mục tiêu tăng trưởng kinh tế quý IV và cả năm 2026, dù thừa nhận thách thức, Phó thủ tướng vẫn tự tin làm rõ các nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm.

    Không phải nhiệm vụ bất khả thi

    Cụ thể, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết 2026 là năm rất khó khăn, thách thức với kinh tế toàn cầu cũng như Việt Nam, khi diễn biến xung đột địa chính trị, quân sự ở Trung Đông, Nga – Ukraine tạo ra rất nhiều khó khăn, đặc biệt là giá xăng dầu tăng, kéo theo giá nhiều mặt hàng, dịch vụ tăng cao.

    Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng kinh tế 9 tháng của Việt Nam vẫn đạt thành công lớn, đạt 9,01%, thuộc nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất toàn cầu. Kết quả cũng gắn với việc cải thiện đời sống người dân, chính sách an sinh xã hội và tháo gỡ nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

    “Điều này thể hiện tăng trưởng của chúng ta là thực chất”, Phó thủ tướng nói và dẫn ví dụ về con số miễn giảm 360.000 tỷ đồng thuế, phí cho người dân, doanh nghiệp; cùng hơn 200.000 tỷ đồng triển khai các chương trình an sinh xã hội cho người dân về y tế, giáo dục.

    Lãnh đạo Chính phủ cho biết muốn đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay từ 10% trở lên, tăng trưởng quý IV phải đạt 12,5%.

    Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay từ 10%, tăng trưởng quý IV phải đạt 12,5%. Đây là thách thức rất lớn, nhưng không phải nhiệm vụ bất khả thi

    Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng

    “Đây là thách thức rất lớn nhưng không phải nhiệm vụ bất khả thi, khi nền kinh tế còn nhiều động lực để tăng tốc”, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định.

    Theo ông, dư địa tăng trưởng của nền kinh tế nước ta còn khá lớn, đặc biệt với sự quyết tâm rất cao của Chính phủ, các bộ ngành và địa phương.

    Trong quý IV, Chính phủ đang tập trung bám sát kịch bản tăng trưởng để chỉ đạo tháo gỡ ngay những vướng mắc về thể chế; đất đai; thủ tục hành chính; vật liệu xây dựng; đặc biệt là vốn và thị trường cho các doanh nghiệp.

    Đồng thời, thúc đẩy các dự án đủ điều kiện để sớm đi vào sản xuất kinh doanh, phát huy các động lực về đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp giữ vững và đa dạng hóa thị trường, mở rộng đơn hàng và nâng cao giá trị gia tăng.

    Chính phủ cũng đang quyết liệt chỉ đạo và hỗ trợ các địa phương, đặc biệt với địa phương là cực tăng trưởng để hoàn thành mục tiêu đặt ra.

    Phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công

    Liên quan nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm về phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công, Phó thủ tướng cho biết đầu tư công có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược cũng như thúc đẩy tăng trưởng và dẫn dắt đầu tư toàn xã hội.

    Lãnh đạo Chính phủ cho biết Quốc hội vừa qua đã phê chuẩn tổng nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn khoảng 3,42 triệu tỷ đồng. Đến nay, Chính phủ đã thông qua phương án phân bổ 3,15 triệu tỷ đồng, tức chiếm 92% số vốn Quốc hội cho phép phân bổ.

    Bên cạnh đó, Chính phủ, Thủ tướng đã phân bổ và giao chi tiết 1,98 triệu tỷ, gấp 1,5 lần so với nhiệm kỳ trước. Số vốn còn lại hiện nay là hơn 1 triệu tỷ đồng cũng đã có địa chỉ và chương trình thực hiện cụ thể.

    tăng trưởng ảnh 1
    Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách Nhà nước sáng 31/10. Ảnh: Quochoi.vn.

    Về vấn đề giải ngân, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết đến cuối tháng 9, cả nước đã giải ngân được 63% kế hoạch vốn, tăng 203.000 tỷ về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm ngoái. Cập nhật của Chính phủ đến ngày 29/10, số vốn đầu tư công đã giải ngân đạt trên 720.000 tỷ đồng, tương đương hơn 75% kế hoạch.

    Tuy nhiên, lãnh đạo Chính phủ thừa nhận vẫn còn một số bộ ngành Trung ương và địa phương có tỷ lệ giải ngân vốn chưa đạt yêu cầu.

    Dù vậy, Chính phủ vẫn đang tập trung đảm bảo giải ngân 100% kế hoạch đầu tư công trung hạn, từ đó sẽ đóng góp vào khoảng 2,5 điểm % vào tăng trưởng của quý IV, tương đương 1,7 điểm % tăng trưởng cả năm.

    Sẽ giảm giá điện, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho xăng

    Về nội dung kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đặt ra là 4,5%, theo Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng, Chính phủ đã nỗ lực kiểm soát chỉ tiêu này trước rất nhiều sức ép từ quốc tế đến trong nước.

    Trong đó, Chính phủ đã chủ động tạm ứng ngân sách cho quỹ bình ổn giá xăng dầu, đồng thời triển khai quyết liệt các giải pháp giảm thuế, phí đối với xăng dầu, qua đó duy trì được mặt bằng giá xăng dầu trong nước thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

    Đồng thời, Chính phủ đã thực hiện giảm 2% thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2026, kiểm soát giá cả hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo hướng giữ ổn định, không tăng.

    “Qua đó, chúng ta đã duy trì được chỉ số CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, trong ngưỡng cho phép”, Phó thủ tướng nói.

    Chính phủ đang chỉ đạo EVN khẩn trương rà soát, tiết kiệm tối đa chi phí để giảm giá bán lẻ điện khoảng 2% từ nay đến hết 31/3/2027

    Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng

    Để đạt mục tiêu Quốc hội đặt ra cho cả năm, ông cho biết từ đầu năm, Chính phủ đã phải dành trên 64.000 tỷ đồng thực hiện các chính sách giảm thuế phí cho xăng dầu.

    Dự kiến từ tháng 11 đến hết năm sẽ tiếp tục dành ra khoảng 4.000 tỷ đồng để đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với mặt hàng xăng từ 7% về 0%.

    “Chính phủ đang chỉ đạo EVN khẩn trương rà soát, tiết kiệm tối đa chi phí để giảm giá bán lẻ điện khoảng 2% từ nay đến hết 31/3/2027”, Phó thủ tướng nói.

    Việc thực hiện đồng thời hai giải pháp này sẽ tạo dư địa giảm 0,07 điểm % để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đề ra.

    Ngoài ra, Chính phủ sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách quản lý giá, đồng thời tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách miễn giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí phù hợp.

Thống đốc NHNN nói lý do người dân gửi nhiều tiền vào ngân hàng

https://znews.vn/thong-doc-nhnn-noi-ly-do-nguoi-dan-gui-nhieu-tien-vao-ngan-hang-post1693272.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 12:20 (GMT+7)
    Thống đốc NHNN cho biết dòng tiền chảy nhiều vào kênh gửi ngân hàng bởi người dân vẫn tin vào hệ thống ngân hàng. Sau này, khi thị trường vốn phát triển, dòng tiền sẽ cân bằng hơn.

    Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn giải trình các nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm liên quan lĩnh vực ngân hàng. Ảnh: Quochoi.vn.

    Sáng 31/10, tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đã có báo cáo giải trình, làm rõ các nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm.

    Một số nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là tỷ lệ tín dụng/GDP, tỷ lệ tiền gửi ngắn hạn cho vay trung dài hạn, cũng như vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng…

    Lý do người dân vẫn gửi nhiều tiền vào ngân hàng

    Thống đốc cho biết thị trường Việt Nam có những nét riêng so với các quốc gia khác. Ông dẫn ví dụ, hiện tiền gửi ngắn hạn của người dân chiếm tới 80% tổng số dư tiền gửi.

    Thông thường khi nói tới tiền gửi ngắn hạn sẽ hiểu đây là tiền gửi không ổn định. Tuy nhiên, tiền gửi ngắn hạn của người dân hiện nay lại rất ổn định, được đáo hạn liên tục, nên trên thực tế số dư tiền gửi này lại mang tính dài hạn và ổn định.

    Thậm chí, việc người dân duy trì số dư tiền gửi ổn định này ở kỳ hạn ngắn lại giúp các ngân hàng huy động vốn với lãi suất thấp hơn, từ đó cũng hỗ trợ giảm lãi suất cho vay.

    “Đây là một nét rất riêng của tiền gửi thị trường Việt Nam”, Thống đốc Phạm Đức Ấn chia sẻ.

    Tiền gửi người dân vẫn chảy nhiều vào ngân hàng bởi người dân vẫn tin vào hệ thống ngân hàng

    Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn

    Đồng thời, người đứng đầu ngành ngân hàng cũng lý giải nguyên nhân dòng tiền của người dân vẫn chảy nhiều vào kênh gửi ngân hàng, bởi người dân vẫn tin vào hệ thống ngân hàng.

    Theo ông, sau này, khi thị trường vốn phát triển, có sức hấp dẫn hơn, đảm bảo tính an toàn, người dân có thể đầu tư vào, chắc chắn mức độ cân bằng giữa tiền gửi ngân hàng – thị trường vốn sẽ khác đi.

    Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng cho biết thực tế điều hành chính sách tiền tệ thời gian qua, NHNN vẫn theo đuổi mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, hỗ trợ tăng trưởng…

    Các đại biểu Quốc hội cũng quan tâm vấn đề tái cấp vốn, giao dịch thị trường mở hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng… Về nội dung này, Thống đốc cho biết nhà điều hành vẫn đang hỗ trợ rất tốt các tổ chức tín dụng. Đặc biệt trong thời gian tới, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, NHNN đang thiết kế một gói tái cấp vốn cho vay nhà ở xã hội.

    Chênh lệch lãi suất huy động – cho vay thu hẹp

    Với việc kiểm soát cho vay theo lĩnh vực, người đứng đầu ngành ngân hàng cũng cho biết NHNN vẫn đang kiểm soát tốt. Trong đó, tăng trưởng tín dụng đến nay đạt khoảng 12,27%.

    Đặc biệt, Thống đốc cho biết hiện tốc độ tăng lãi suất cho vay đang được kiểm soát thấp hơn mức tăng của lãi suất huy động, lần lượt là 0,99% và 1,42%.

    Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay đang được thu hẹp

    Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn

    “Như vậy là chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay đang được thu hẹp”, Thống đốc nói.

    Với lĩnh vực bất động sản, ông Ấn cho biết hiện tăng trưởng lĩnh vực này vào khoảng 9,84%, thấp hơn so với mức tăng chung của nền kinh tế.

    Ngoài ra, trong tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế hơn 20,8 triệu tỷ đồng, hơn 77% cũng là dành cho sản xuất kinh doanh, riêng với doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm hơn 4 triệu tỷ đồng dư nợ.

    Thời gian qua, ngành ngân hàng đã tích cực làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa để tìm giải pháp giảm lãi suất, tăng khả năng tiếp cận vốn cho vay, đặc biệt là cho vay thông qua năng lực thực tế, dòng tiền của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, Thống đốc NHNN cho rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế như quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, khả năng kinh doanh, phương án kinh doanh thường xuyên biến động, thông tin tín dụng, thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch.

    thống đốc nhnn ảnh 1
    Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự phiên thảo luận ở hội trường về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách Nhà nước sáng 31/10. Ảnh: Quochoi.vn.

    Ông cho rằng muốn vay được vốn ngân hàng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải hoạt động minh bạch hơn. “Không thể có chuyện một doanh nghiệp hai bảng cân đối kế toán. Một bảng cân đối dùng để thanh toán thuế, một bảng cân đối dùng để đi vay ngân hàng”, Thống đốc nói.

    Theo ông, khi các thông tin đã được minh bạch, ngân hàng sẽ có điều kiện để xem xét cụ thể về sức khỏe doanh nghiệp, từ đó tiến hành tổ chức cho vay.

    Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn

    Trước đó, đại biểu Phạm Ngọc Lâm (đoàn Gia Lai) đã đặt vấn đề về rủi ro của hệ thống ngân hàng khi tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP ngày càng cao.

    Cụ thể, theo ông Lâm, tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng liên tục qua các năm, năm 2022 là 124%, năm 2025 là 145% và 2026 dự kiến khoảng 155%. Trong bối cảnh năm 2026 và 2027 đều đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2027 có thể lên khoảng 160-165%.

    “Đây là phép tính kịch bản, không phải chỉ tiêu điều hành nhưng là con số cần được lưu tâm”, đại biểu đặt vấn đề.

    Theo ông, tỷ lệ tín dụng/GDP cao không đồng nghĩa với rủi ro cao, nhưng khi tăng trưởng tín dụng vượt khả năng hấp thụ vốn, hiệu quả nguồn vốn dài hạn chưa đáp ứng nhu cầu, chất lượng tài sản ngân hàng có thể suy giảm. Nếu vốn mở rộng liên tục mà năng suất dòng tiền, khả năng trả nợ không tăng tương xứng thì rủi ro có thể xuất hiện.

    Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ kịch bản vốn cho tăng trưởng 2027, mức tăng tín dụng dự kiến, vốn huy động thực chất từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các kênh khác. Trên cơ sở đó, tính toán tỷ lệ tín dụng/GDP tương ứng để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%.

    Đồng thời, đại biểu cũng đề xuất minh bạch hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, lượng hóa nguồn vốn trung dài hạn huy động được cho sản xuất kinh doanh và phát triển hạ tầng.

    thống đốc nhnn ảnh 2
    thống đốc nhnn ảnh 3
    Đại biểu Phạm Ngọc Lâm (ảnh trái) và đại biểu Bùi Thanh Nam (ảnh phải) góp ý về lĩnh vực ngân hàng. Ảnh: Quochoi.vn.

    Đưa ý kiến về tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Bùi Thanh Nam (đoàn Phú Thọ) đồng tình với chỉ đạo của Chính phủ và NHNN về việc giảm lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh 1,5-2%/năm vừa qua.

    Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo thẩm tra, năm nay chỉ khoảng 8% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được nguồn vay, trong khi doanh nghiệp lớn là 47,1%.

    “Lãi suất có giảm, nhưng doanh nghiệp nhỏ vẫn khó vay vì thiếu tài sản đảm bảo và minh bạch về tài chính”, ông Nam nói và đề xuất Chính phủ, NHNN chuyển trọng tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa từ giảm lãi suất sang giúp vay được vốn, áp dụng phương pháp bảo lãnh tín dụng, cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng khoản phải thu thay vì chỉ dựa trên tài sản đảm bảo là bất động sản.

Người ôm vàng SJC ở đỉnh lỗ hơn 55 triệu đồng mỗi lượng

https://znews.vn/nguoi-om-vang-sjc-o-dinh-lo-hon-55-trieu-dong-moi-luong-post1693250.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 10:00 (GMT+7)
    Vàng miếng SJC chính thức đánh mất mốc 140 triệu đồng/lượng (bán ra) khiến người mua ở vùng đỉnh của năm 2026 đang phải chịu khoản lỗ hơn 55 triệu đồng mỗi lượng.
    Trong phiên giao dịch sáng nay (31/10), Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng ở mức 136 – 139 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm tới 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với giá chốt phiên liền trước (30/10).

    Đáng chú ý, giá bán ra của mặt hàng này đã chính thức rơi xuống dưới mốc 140 triệu đồng/lượng, ngưỡng giá từng được xem là vùng hỗ trợ quan trọng của vàng miếng tại thị trường trong nước.

    Vàng miếng SJC mất mốc 140 triệu đồng/lượng

    Đà giảm không chỉ diễn ra tại SJC. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn như CTCP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn DOJI, Tập đoàn Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải… cũng đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh, đưa giá bán vàng miếng về ngang bằng mức niêm yết của SJC.

    Diễn biến này nối dài chuỗi ngày suy yếu của vàng miếng trong tháng 10, đưa giá mặt hàng này tiến sát vùng đáy thấp nhất kể từ đầu năm. Trước đó, vào giữa tháng 6, vàng miếng SJC từng lùi về 136 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra để thiết lập vùng đáy của năm. Như vậy, với mức giá hiện tại, mặt hàng này chỉ còn cách đáy năm khoảng 3 triệu đồng/lượng.

    Đáng chú ý, khoảng cách giữa vùng đỉnh và mặt bằng giá hiện tại đang ngày càng nới rộng. Trong năm 2026, vàng miếng SJC từng lập đỉnh lịch sử 191,3 triệu đồng/lượng vào phiên giao dịch cuối tháng 1. So với mức giá này, giá bán ra hiện đã giảm 52,3 triệu đồng/lượng, tương đương mức giảm ròng hơn 27%.

    Với những người xuống tiền mua vàng miếng SJC đúng vùng đỉnh, khoản thua lỗ còn lớn hơn do phải chịu thêm chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra. Tính theo mức giá SJC niêm yết hiện tại, người mua ở vùng đỉnh đang đối mặt khoản lỗ hơn 55 triệu đồng mỗi lượng, tương đương khoảng 29% số vốn bỏ ra.

    Không chỉ vàng miếng, vàng nhẫn cũng chịu áp lực bán mạnh trong phiên sáng nay. Hầu hết doanh nghiệp lớn đồng loạt giảm giá hơn 2 triệu đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch xuống đáng kể so với những phiên trước.

    SJC niêm yết vàng nhẫn loại 1-5 chỉ ở mức 131,8 – 135,8 triệu đồng/lượng. PNJ giao dịch quanh 133,6 – 137,6 triệu đồng/lượng; DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng niêm yết ở mức 133,8 – 137,8 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, Phú Quý đưa giá vàng nhẫn về 134,5 – 137,5 triệu đồng/lượng.

    Riêng tại Mi Hồng, doanh nghiệp này giảm 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán đối với vàng miếng SJC và vàng nhẫn, đưa giá giao dịch cả hai sản phẩm về 137,5 – 139 triệu đồng/lượng.

    Tương tự vàng miếng, vàng nhẫn cũng từng xác lập mức đỉnh trên 191 triệu đồng/lượng trong năm nay. Sau khoảng 9 tháng, giá mặt hàng này đã giảm 52-55 triệu đồng/lượng, tùy thương hiệu. Người mua ở vùng giá cao hiện phải đối mặt khoản lỗ 56-59 triệu đồng/lượng, trong bối cảnh chênh lệch giá mua – bán vàng nhẫn tại nhiều doanh nghiệp lên tới 4 triệu đồng/lượng.

    Nguyên nhân chính kéo giá vàng trong nước giảm sâu

    Giá vàng trong nước giảm sâu chủ yếu do giá vàng thế giới tác động. Trên thị trường quốc tế, áp lực bán tháo gia tăng mạnh khiến giá vàng giao ngay rơi xuống 3.874 USD/ounce, thấp hơn khoảng 146 USD, tương đương 3,6% so với giá mở cửa. Đây cũng là vùng giá thấp nhất của kim loại quý trong vòng một năm qua.

    Theo nhà giao dịch kim loại độc lập Tai Wong, phát biểu trên Kitco News, thị trường kim loại quý đang rơi vào tình trạng hỗn loạn khi không thể đứng ngoài sức ép từ đợt điều chỉnh mạnh của thị trường chứng khoán. Ông cho rằng những dấu hiệu rạn nứt trong triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp, vốn là nền tảng cho đà tăng của nhóm cổ phiếu trí tuệ nhân tạo (AI), đang khiến tâm lý nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn.

    Chứng khoán Mỹ vừa trải qua một phiên giao dịch tiêu cực. Chỉ số Nasdaq Composite giảm 2,86% xuống 25.437 điểm, ghi nhận phiên giảm mạnh nhất kể từ tháng 6 và hiện thấp hơn khoảng 8% so với đỉnh gần đây. Chỉ số Dow Jones mất 572 điểm, tương đương 1,09%, xuống 51.770 điểm, trong khi S&P 500 giảm 1,82%, còn 7.580 điểm.

    Đáng chú ý, dù vàng thường được xem là tài sản trú ẩn an toàn mỗi khi thị trường tài chính biến động, kim loại quý vẫn không tránh khỏi làn sóng bán tháo lần này. Một số nhà phân tích quốc tế nhận định đợt giảm mạnh của cổ phiếu công nghệ có thể đã kích hoạt hoạt động bán tài sản trên diện rộng, bao gồm cả vàng, khi nhà đầu tư cần tiền mặt để đáp ứng các yêu cầu bổ sung ký quỹ.

    Tuy nhiên, lực cầu từ các ngân hàng trung ương có thể trở thành yếu tố hỗ trợ thị trường khi giá vàng lùi xuống dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce. Hoạt động mua vào của nhóm tổ chức này thường có xu hướng gia tăng khi giá kim loại quý điều chỉnh sâu, qua đó phần nào hạn chế áp lực giảm.

    Hiện giá vàng thế giới quy đổi ra tiền Việt (chưa thuế, phí) tương đương khoảng 121,5 triệu đồng/lượng. Như vậy, vàng trong nước vẫn đang cao hơn giá thế giới khoảng 14-17,5 triệu đồng/lượng, cho thấy khoảng cách lớn giữa hai thị trường.

Giá vàng, bạc rớt mạnh, về mức thấp nhất năm

https://znews.vn/gia-vang-bac-rot-manh-ve-muc-thap-nhat-nam-post1693218.html

  • Thứ bảy, 31/10/2026 08:54 (GMT+7)
    Giá vàng, bạc thế giới giảm về mức thấp nhất trong một năm qua khi áp lực bán tháo trên thị trường ngày càng gia tăng.
    Chốt phiên giao dịch cuối tuần này, giá vàng thế giới "bốc hơi" 146,3 USD xuống thẳng 3.874,4 USD/ounce, vùng đáy thấp nhất trong một năm qua.

    Hợp đồng vàng tương lai giao tháng 12 của Mỹ cũng chốt phiên giảm 3,3% xuống 3.898,9 USD/ounce.

    Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng đã giảm 30% kể từ khi lập đỉnh lịch sử 5.595 USD/ounce vào tháng 1, do kỳ vọng lãi suất sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn và sức ép từ nhu cầu ảm đạm tại châu Á.

    giá vàng thế giới ảnh 1
    Giá vàng thế giới lao dốc trong phiên giao dịch ngày 30/10. Biểu đồ: Kitco.

    Ông Tai Wong, nhà giao dịch kim loại độc lập, cho rằng "bầu trời đang sụp đổ". Các kim loại sẽ không thể thoát khỏi sức ép từ một đợt điều chỉnh mạnh trên thị trường chứng khoán. Lợi nhuận doanh nghiệp là nền tảng cho đà tăng của cổ phiếu AI và hiện tại, nền tảng đó đang xuất hiện những vết nứt, theo Reuters.

    Theo các nhà phân tích của Commerzbank, đà lao dốc mạnh của cổ phiếu công nghệ có thể đã khiến nhà đầu tư buộc phải bán các tài sản trú ẩn an toàn như vàng, đồng thời đối mặt với các yêu cầu bổ sung ký quỹ. Tuy nhiên, ngân hàng này kỳ vọng kim loại quý sẽ phục hồi trong thời gian tới.

    Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng nhu cầu mua vàng của ngân hàng trung ương thường có xu hướng gia tăng khi giá vàng xuống dưới 4.000 USD/ounce.

    Trong khi đó, 3 kim loại quý khác gồm bạc, bạch kim và palladium không nhận được sự hỗ trợ từ hoạt động mua vào của các ngân hàng trung ương và nhu cầu đầu tư trú ẩn an toàn như vàng trong những năm gần đây.

    Đà giảm 7-9% của bạc, bạch kim và palladium trong tuần này, so với mức giảm 2,9% của vàng, đã đẩy chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) của các kim loại này xuống sâu trong vùng "quá bán" lần đầu tiên trong 3 năm qua. Diễn biến này cho thấy lực bán đang chiếm ưu thế mạnh mẽ.

    Giá bạc giảm 6,5%, xuống 49 USD/ounce, lần đầu xuyên thủng ngưỡng 50 USD trong 11 tháng, trong khi palladium rơi xuống dưới 1.000 USD/ounce. Riêng bạch kim giảm 4,2%, xuống 1.425,02 USD/ounce do các lo ngại về nhu cầu từ ngành ôtô.

    Hiện tại, để mua một ounce vàng, nhà đầu tư cần 79 ounce bạc, mức cao nhất trong 11 tháng. So với hồi tháng 1, tỷ lệ này chỉ ở mức 46 ounce, thời điểm giá bạc lập đỉnh lịch sử 122 USD/ounce.

    Trong khi đó, tỷ lệ giá vàng/bạch kim tăng lên 2,7 và đây cũng là mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.

    Trái ngược hoàn toàn với xu hướng trên thị trường kim loại, giá dầu thô chốt phiên 31/10 ở mức cao nhất kể từ cuối tháng 4, khi các nhà giao dịch chuẩn bị cho khả năng xung đột Iran leo thang sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ. Vụ tấn công nhằm vào một tàu chở dầu tại eo biển Hormuz cũng gây thêm rủi ro đối với nguồn cung.

    Cụ thể, dầu Brent chuẩn toàn cầu tăng mạnh 2,37% lên 113,4 USD/thùng, còn dầu WTI tại Mỹ nhích hơn 2% lên quanh 104 USD/thùng. Tính chung cả tháng qua, giá dầu Brent tăng 13,6%, trong khi dầu WTI tăng 15,2%.

    Theo cập nhật trên thị trường chứng khoán Mỹ, chỉ số Nasdaq Composite lao dốc trong phiên giao dịch ngày 30/10 (giờ Mỹ), trong khi Dow Jones diễn biến tốt hơn khi các nhà đầu tư chuyển vốn khỏi những cổ phiếu chủ chốt liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) sang các nhóm cổ phiếu có tính phòng thủ cao hơn, theo CNBC.

    Nasdaq Composite, chỉ số có tỷ trọng lớn các cổ phiếu công nghệ, giảm 2,86% và chốt phiên ở mức 25.437 điểm. Đây là phiên giảm mạnh nhất kể từ tháng 6, đồng thời chỉ số này cũng đang thấp hơn khoảng 8% so với mức đỉnh gần đây.

    Chỉ số Dow Jones giảm 572,25 điểm (-1,09%) xuống 51.770,31 điểm. Trong khi đó, S&P 500 mất 1,82% còn 7.580,07 điểm.

    Áp lực bán càng gia tăng trong phiên giao dịch buổi chiều khi các nhà đầu tư chốt lời vào thời điểm cuối tháng và trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đầy căng thẳng vào tuần tới.