Lãi suất tiết kiệm có thực sự ‘hạ nhiệt’?

https://thanhnien.vn/lai-suat-tiet-kiem-co-thuc-su-ha-nhiet-185261028110314861.htm28/10/2026 13:44 GMT+7
Gần 30 ngân hàng đã hạ lãi suất tiết kiệm trên biểu niêm yết song thực tế khách hàng vẫn được tư vấn mức lãi suất cao hơn từ 1 – 3%, có ngân hàng có mức lãi suất trên 9%/năm.

Ngày 27.10, anh T. D. (trú phường Từ Liêm, Hà Nội) có khoản tiết kiệm 500 triệu đồng đáo hạn. Do chưa có nhu cầu sử dụng, anh D. quyết định tiếp tục gửi tiết kiệm. Nhưng khi xem bảng lãi suất tiết kiệm của ngân hàng mà anh đang sử dụng, anh D. thấy mức lãi suất đã giảm chỉ còn hơn 6% (kỳ hạn 6 tháng), thấp hơn nhiều so với lần gửi trước.

Khi hỏi nhân viên tư vấn của ngân hàng Techcombank, anh D. được nhân viên tư vấn của ngân hàng giải thích biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng đang được điều chỉnh giảm sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, nhân viên này cũng tư vấn anh D. vẫn có thể gửi tiền với mức lãi suất 8,3% – cao hơn 2 điểm %, cho khoản tiền 500 triệu nếu anh D. gửi tiền tại quầy hoặc thông qua một "hợp đồng" điều chỉnh lãi suất sau 7 ngày kể từ ngày gửi.

Mức lãi suất còn có thể cao hơn nếu số tiền gửi lớn hơn, theo các chính sách ưu đãi của ngân hàng.

Lãi suất tiết kiệm có thực sự 'hạ nhiệt'?- Ảnh 1.

Trên nhiều hội nhóm tư vấn lãi suất tiết kiệm, mức lãi suất từ 9 – 10% được giới thiệu rất phổ biến

ẢNH CHỤP MÀN HÌNH

Anh D. không phải trường hợp duy nhất. Biểu lãi suất niêm yết của hơn 30 ngân hàng phổ biến vào ngày 28.10, ở các kỳ hạn từ 1 – 6 tháng, mức lãi suất niêm yết của các ngân hàng cao nhất chỉ là 6,6%. Trong khi ở các kỳ hạn dài hơn, từ 12 tháng trở lên, mức lãi suất niêm yết cao nhất cũng chỉ 7%.

Tuy nhiên, trên nhiều hội nhóm tư vấn lãi suất ngân hàng, khách hàng vẫn được tư vấn, giới thiệu mức lãi suất ưu đãi cao hơn từ 1 – 3%. Nhiều nhân viên tư vấn của các ngân hàng giới thiệu mức lãi suất thực tế sau ưu đãi cao vượt 9%.

Mức lãi suất này hầu như không giảm so với mức lãi suất 9,5% – 10% được một số ngân hàng tư nhân nhỏ đưa ra để huy động tiền gửi, trước khi có chỉ đạo giảm mặt bằng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.

Để có lãi suất cao hơn biểu lãi suất niêm yết, khách hàng thường được giới thiệu gửi tiết kiệm tại quầy theo hình thức sổ giấy để hưởng các mã ưu đãi của nhân viên nhà băng. Với các khách hàng muốn gửi online, các ngân hàng vẫn có thể nâng mức lãi suất sau khi gửi như với trường hợp của anh T. D.

‘Làn sóng’ giảm lãi suất chỉ trên biểu niêm yết

Tới nay, dù gần 30 ngân hàng đã thông báo giảm lãi suất huy động, phổ biến ở mức 0,5% đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, theo đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, cuộc đua lãi suất huy động dường như chưa thực sự "hạ nhiệt" như trên bảng niêm yết.
Lãi suất tiết kiệm có thực sự 'hạ nhiệt'?- Ảnh 2.

Nhiều ngân hàng vẫn tìm cách lách để neo mức lãi suất huy động ở mức cao hơn từ 1 – 3% so với biểu lãi suất niêm yết

ẢNH: NGỌC THẮNG

Trong hơn 1 tuần qua, Ngân hàng Nhà nước liên tục có công văn thúc các ngân hàng giảm mặt bằng lãi suất. Theo đó, ngày 18.10, tại văn bản số 9608, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cầu các ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Công văn của Ngân hàng Nhà nước cũng nhấn mạnh: tuyệt đối không đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn đến an ninh tài chính – tiền tệ.

Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5 – 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Để tránh tình trạng giảm trên biểu lãi suất nhưng hiệu quả thực tế không tương xứng, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ theo dõi số liệu bình quân của các giao dịch phát sinh mới thông qua hệ thống báo cáo thống kê.

Trường hợp không thực hiện chỉ đạo, ngân hàng có thể bị áp dụng biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Thực tế, việc giảm lãi suất huy động sẽ gây áp lực lớn tới các ngân hàng khi chênh lệch giữa cho vay và huy động vẫn ở mức cao, và ngân hàng vẫn rất khát vốn. Điều này cũng khiến các ngân hàng có thể tìm nhiều cách để "lách" chỉ đạo thông qua các hình thức khuyến mãi hoặc điều chỉnh lãi suất thực tế sau khi khách hàng gửi tiết kiệm theo biểu lãi suất niêm yết.

Giá vàng giảm sau tăng mạnh, chênh thế giới 16 triệu/lượng

https://thanhnien.vn/gia-vang-giam-sau-tang-manh-chenh-the-gioi-16-trieu-luong-185261028114001707.htm28/10/2026 12:12 GMT+7
Sau khi tăng mạnh đầu giờ sáng nay 28.10, giá vàng miếng SJC có nhịp giảm 300.000 đồng/lượng. Giá vàng trong nước đang cao hơn giá vàng thế giới quy đổi 14 – 16 triệu đồng/lượng, tùy thương hiệu.

Tại thời điểm sát 12 giờ hôm nay 28.10, giá vàng miếng SJCđược Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra 139,7 – 142,7 triệu đồng, giảm 300.000 đồng/lượng so với đầu giờ sáng, song tăng 700.000 đồng/lượng so với chốt ngày 27.10.

So với mức đỉnh bán ra 191,3 triệu đồng ghi nhận ngày 29.1, đến nay, giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 48,6 triệu đồng.

Hiện, Phú Quý niêm yết giá mua – bán mỗi lượng vàng ở 138,2 – 141,2 triệu đồng; DOJI niêm yết 138 – 142 triệu đồng/lượng.

Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải mua vào và bán ra ở mức 137,4 – 141,4 triệu đồng/lượng và 137,6 – 141,6 triệu đồng/lượng.

Giá vàng giảm sau tăng mạnh, chênh thế giới 16 triệu/lượng - Ảnh 1.

Giá vàng trong nước đang chênh với giá vàng thế giới 14 – 16 triệu đồng/lượng, tùy thương hiệu

ẢNH: ĐAN THANH

Giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng thế giới quy đổi 16 triệu đồng/lượng.

Vàng Phú Quý, DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải lần lượt chênh giá vàng thế giới quy đổi như sau: 14,5 triệu đồng/lượng; 15,3 triệu đồng/lượng; 14,7 triệu đồng/lượng; 14,9 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới giao ngay lúc 11 giờ 36 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.040,3 USD/ounce, giảm 19 USD (tương đương 0,47%) so với đóng cửa phiên trước.

Trao đổi với Thanh Niên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân cho rằng, giá vàng đã giảm rất sâu so với mức đỉnh lập đầu năm nay không đồng nghĩa với việc đây là thời điểm mua vào an toàn.

Rủi ro lớn nhất hiện nay là chênh lệch giá trong nước và thế giới. Nếu nguồn cung được cải thiện và chênh lệch thu hẹp, giá vàng trong nước có thể giảm ngay cả khi giá thế giới đi ngang.

Ông Nhân khuyến cáo nhà đầu tư chỉ mua vàng khi thực sự có tiền nhàn rỗi, sau khi đã bảo đảm quỹ dự phòng và các nghĩa vụ tài chính. Tuyệt đối không vay tiền để mua vàng.

Cạnh đó, không mua toàn bộ trong một thời điểm. Nếu quyết

Công bố 12 dự án có tổng vốn đầu tư đến 13 tỉ USD

https://thanhnien.vn/cong-bo-12-du-an-co-tong-von-dau-tu-den-13-ti-usd-185261028104555473.htm28/10/2026 11:19 GMT+7
Trong khuôn khổ phiên toàn thể lãnh đạo cấp cao của Diễn đàn Kinh tế mùa thu 2026 (AEF 2026), UBND TP.HCM đã công bố 12 dự án đầu tư với tổng vốn dự kiến khoảng 13 tỉ USD.

Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã trao các quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 12 dự án thuộc các lĩnh vực hạ tầng cảng biển, logistics, phát triển đô thị, sản xuất công nghiệp và công nghệ cao.

Các dự án này được kỳ vọng góp phần mở rộng không gian phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư cho thành phố.

Trong số các dự án được công bố, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có tổng vốn đầu tư khoảng 4,923 tỉ USD; Khu phức hợp thông minh tại khu chức năng số 2A, Khu đô thị mới Thủ Thiêm có vốn đầu tư khoảng 2,292 tỉ USD. Dự án Khu đô thị Đại học Quốc tế có tổng vốn đầu tư sau điều chỉnh khoảng 6,612 tỉ USD.

Công bố 12 dự án có tổng vốn đầu tư đến 13 tỉ USD - Ảnh 1.

TP.HCM trao các quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 12 dự án hạ tầng, công nghệ… lớn

ẢNH: NHẬT THỊNH

Ở lĩnh vực logistics, dự án Swilf Logistics có vốn đầu tư khoảng 987,4 triệu USD, trong khi dự án Cảng Cái Mép Terminal Link có vốn đầu tư khoảng 770 triệu USD. Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Vĩnh Lập, giai đoạn 1 có vốn đăng ký khoảng 379,69 triệu USD.

Bên cạnh các dự án quy mô lớn về cảng biển, logistics và đô thị, danh mục đầu tư còn có các dự án sản xuất kính tiết kiệm năng lượng, cáp điện công nghệ cao, vật liệu nhiệt điện, gia công kim loại và cơ khí, cũng như sản xuất máy tự động hóa, robot, cảm biến và các giải pháp quản lý dữ liệu.

Nhóm dự án công nghiệp, công nghệ cao gồm Nhà máy sản xuất cáp điện công nghệ cao GL Cables, Xinyi Glass Việt Nam, Chang Yue Technology Việt Nam, Ito Automation Technologies Việt Nam và dự án sản xuất vật liệu bán dẫn nhiệt điện, bộ làm mát nhiệt điện.

Theo Ban tổ chức, các dự án trên đã được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Việc công bố tại diễn đàn nhằm giới thiệu các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, tăng cường kết nối nhà đầu tư với đối tác công nghệ và tổ chức tài chính.

Công bố 12 dự án có tổng vốn đầu tư đến 13 tỉ USD - Ảnh 3.

Thủ tướng Chính phủ chứng kiến công bố Tuyên bố chung về định hướng hợp tác giữa WEF và TP.HCM

ẢNH: NHẬT THỊNH

Cùng với đó, UBND TP.HCM và WEF cũng công bố Tuyên bố chung về định hướng hợp tác, tạo cơ sở tăng cường kết nối thành phố với mạng lưới chuyên gia, tổ chức và đối tác quốc tế của WEF.

Lãnh đạo TP.HCM đã chúc mừng các nhà đầu tư, bày tỏ kỳ vọng các dự án sớm được triển khai, đóng góp vào phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố.

Kinh tế Việt Nam quý IV giữa hai lực kéo toàn cầu

https://nhadautu.vn/kinh-te-viet-nam-quy-iv-giua-hai-luc-keo-toan-cau-d108476.htmlQUANG MINH
07:00 28/10/2026

Kinh tế Việt Nam quý IV đứng giữa lực đỡ từ công nghệ, AI và sức ép từ năng lượng, thương mại với Mỹ cùng dòng vốn quốc tế.

Với độ mở kinh tế lớn, Việt Nam bước vào quý IV/2026 trong trạng thái vừa hưởng lợi từ làn sóng đầu tư AI, vừa chịu sức ép từ giá năng lượng, chính sách thương mại Mỹ và điều kiện tài chính quốc tế.

Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 10/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 3,1% năm 2026 và 3,4% năm 2027, lạm phát lần lượt ở mức 4,7% và 4,1%.

Tại Hội nghị thường niên IMF-WB ở Bangkok từ ngày 12-18/10, IMF cho rằng kinh tế thế giới đang chịu hai lực tác động trái chiều: cú sốc cung tiêu cực từ giá năng lượng và cú sốc cầu tích cực từ đầu tư AI. Kinh tế toàn cầu vẫn tăng trưởng, nhưng sức chống chịu bị thử thách bởi xung đột, nợ công, chi phí vay và bất định tài chính.

Với châu Á, ba biến số chính là năng lượng, chu kỳ AI và tái cấu trúc thương mại. ADB dự báo các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực tăng 5% năm nay, với xuất khẩu công nghệ là lực đỡ nhưng năng lượng và bất định thương mại là lực cản.

Thỏa thuận diesel Mỹ – Nga chưa đủ đảo chiều giá nhiên liệu

Một biến số mới là thỏa thuận giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc đưa diesel của Nga trở lại thị trường. Theo thông báo ngày 9/10, Nga dự kiến cung cấp ngay hơn 300.000 tấn, sau đó xuất thêm 500.000 tấn trong tháng 11 và 1 triệu tấn trong giai đoạn tiếp theo. Đổi lại, Mỹ tạm nới một phần hạn chế liên quan.

Ảnh minh họa: tks.ru

Tác động đối với giá nhiên liệu có thể hạn chế bởi lượng ban đầu thấp hơn nhu cầu diesel trong một ngày của lĩnh vực vận tải Mỹ. Theo Kpler và Baringa, nguồn cung phải tăng mạnh hơn mới có thể giúp thị trường hạ nhiệt, hoạt động xuất khẩu còn phụ thuộc tình trạng nhà máy lọc dầu, cước vận tải và các lệnh trừng phạt.

Kết thúc phiên 23/10, giá dầu Brent tương lai tăng 3,14%, lên 116,72 USD/thùng, còn giá dầu WTI tăng 3,8%, lên 103,27 USD/thùng, cho thấy lo ngại về nguồn cung Trung Đông chưa được giải tỏa.

Đối với Việt Nam, kênh tác động có thể quan sát rõ nhất hiện nay là gián tiếp. Việc Nga nối lại xuất khẩu có thể làm thay đổi cán cân cung-cầu và giá diesel trên thị trường quốc tế, qua đó ảnh hưởng đến giá xăng dầu nhập khẩu cũng như chi phí vận tải và sản xuất trong nước.

Lượng diesel Nga xuất khẩu tăng thêm có thể bổ sung một phần nguồn cung cho thị trường quốc tế, nhưng chưa đủ để kỳ vọng giá nhiên liệu ở Việt Nam giảm mạnh, nhất là khi giá dầu thô và cước vận tải vẫn ở mức cao. Ngoài ra, chưa có thông báo nào cho thấy Việt Nam nhập trực tiếp diesel trong khuôn khổ thỏa thuận Mỹ–Nga.

Chu kỳ AI: Lực đỡ đi cùng rủi ro

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tổng đầu tư của năm tập đoàn điện toán đám mây lớn nhất Mỹ trong hai năm 2025-2026 dự kiến vượt 1.000 tỷ USD, tạo nhu cầu lớn đối với chip, máy chủ, thiết bị mạng và trung tâm dữ liệu.

Trong 12 tháng kết thúc vào tháng 4/2026, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam xuất khẩu khoảng 1.400 tỷ USD hàng hóa liên quan đến AI. Mỹ nhập khẩu khoảng 739 tỷ USD nhóm hàng này, trong đó khoảng một phần ba đến từ Đông Á và Thái Bình Dương.

Xuất khẩu hàng hóa liên quan đến AI của Việt Nam đã tăng lên ít nhất gấp đôi so với mức bình quân giai đoạn 2020-2022. Thiết bị lắp ráp như máy tính, máy chủ và bộ định tuyến chiếm khoảng 60% kim ngạch nhóm hàng này, tỷ trọng hướng tới nhu cầu cuối cùng tại Mỹ tương đối lớn, dù WB không công bố con số riêng cho Việt Nam.

Lao động làm việc tại nhà máy lắp ráp và thử nghiệm vi mạch điện tử của Công ty TNHH Intel Products Việt Nam. Ảnh: Intel Products Việt Nam

Đà tăng xuất khẩu kéo theo nhu cầu nhập linh kiện. Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, giá một số chip và ổ SSD đã tăng 300-500%; thời gian dự trữ nguyên liệu tại một số doanh nghiệp tăng từ 6 tuần lên 12 tuần.

Bà Franziska Ohnsorge, Chuyên gia Kinh tế trưởng khu vực châu Á của WB, nhận định Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng liên quan đến AI. Nhu cầu tiếp tục tăng sẽ hỗ trợ xuất khẩu, nhưng sự đảo chiều của chu kỳ đầu tư công nghệ có thể tác động trực tiếp đến sản xuất.

VinaCapital thận trọng hơn. Kinh tế trưởng Michael Kokalari cho biết chỉ số đơn hàng xuất khẩu mới trong PMI đi xuống trong tháng 8 và 9, còn tồn kho thành phẩm của doanh nghiệp FDI giảm mạnh. Ông coi đây là dấu hiệu ban đầu về khả năng đơn hàng yếu đi. Theo VinaCapital, thặng dư thương mại 1,27 tỷ USD trong tháng 9 cũng có thể phản ánh làn sóng nhập linh kiện đang chậm lại.

Mỹ, Trung Quốc và cấu trúc thương mại của Việt Nam

IMF dự báo kinh tế Mỹ tăng 2,3% trong cả năm 2026 và 2027, còn Trung Quốc giảm từ 4,5% xuống 4%. Mỹ vẫn tạo sức cầu lớn đối với hàng Việt Nam, trong khi Trung Quốc là nguồn đầu vào quan trọng nhưng cầu nội địa còn yếu.

Trả lời Nhadautu.vn, NCS. Nguyễn Thị Ngọc Hà, nguyên chuyên gia Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, lưu ý Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, còn Trung Quốc là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong 9 tháng, xuất khẩu sang Mỹ đạt 140 tỷ USD, còn nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 187,34 tỷ USD.

NCS. Nguyễn Thị Ngọc Hà, nguyên chuyên gia Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Ảnh: Minh Tuấn

Cấu trúc này vừa hỗ trợ sản xuất, vừa làm tăng rủi ro về xuất xứ. Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2026 đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%, nhưng nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%, khiến Việt Nam nhập siêu 19,42 tỷ USD. Khu vực FDI chiếm 80,7% kim ngạch xuất khẩu, cho thấy yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa.

Ngày 14/10, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết Việt Nam đã gửi văn bản cuối cùng của Hiệp định thương mại đối ứng tới Mỹ và kỳ vọng đàm phán sớm hoàn tất.

Bà Hà đánh giá nếu thỏa thuận thương mại Việt – Mỹ được ký kết, lợi ích trước mắt sẽ là giảm bất định, giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư xây dựng kế hoạch dài hạn, chứ chưa chắc tạo ra cú hích kim ngạch ngay lập tức. Việt Nam đồng thời cần chuẩn bị cho khả năng tăng nhập khẩu năng lượng, nông sản, máy bay và công nghệ từ Mỹ. Quy tắc xuất xứ, chống trung chuyển và yêu cầu về hồ sơ chuỗi cung ứng cũng có thể chặt chẽ hơn.

Trong khi đó, một cuộc điều tra theo Mục 301 đã dẫn tới mức thuế bổ sung 12,5% đối với một số hàng hóa từ Việt Nam. Hai cuộc điều tra về dư thừa công suất công nghiệp và bảo hộ sở hữu trí tuệ vẫn đang diễn ra.

VinaCapital đánh giá trong kịch bản cơ sở, vấn đề trung chuyển và các cuộc điều tra theo Mục 301 là rủi ro có thể kiểm soát, nhưng tác động sẽ đáng kể hơn nếu Mỹ mở rộng biện pháp sang điện tử, máy móc, đồ gỗ hoặc dệt may.

Lãi suất cao toàn cầu thu hẹp dư địa chính sách

Ngày 16/9, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, đưa biên độ mục tiêu lên 3,75–4%. Số liệu công bố sau đó cho thấy CPI Mỹ tháng 9 tăng 3,7% so với cùng kỳ, từ mức 3,4% của tháng 8, thể hiện áp lực lạm phát chưa hoàn toàn lắng xuống.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hà, động thái của Fed có thể mang tính "bảo hiểm", nhằm giữ kỳ vọng lạm phát trong tầm kiểm soát, thay vì mở đầu một chu kỳ thắt chặt dài và mạnh như giai đoạn 2022–2023.

IMF dự báo chính sách tiền tệ Mỹ còn tiếp tục thắt chặt trong năm nay. Việc lãi suất tăng trong khi áp lực tài khóa tại các nền kinh tế phát triển vẫn lớn có thể giữ lợi suất dài hạn ở mức cao và lan truyền sang thị trường châu Á.

Với Việt Nam, lãi suất và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao có thể làm giảm sức hấp dẫn tương đối của tài sản bằng VND, đẩy chi phí huy động vốn bằng ngoại tệ lên và tạo thêm áp lực đối với tỷ giá.

Một điểm đáng chú ý khác là lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm ở mức 5,15% ngày 19/10, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam cùng kỳ hạn khoảng 4,58%. Chênh lệch lợi suất vì thế âm gần 60 điểm cơ bản.

Theo thống kê của bà Hà trong 10 năm qua, những giai đoạn chênh lệch lợi suất này chuyển sang âm thường đi kèm áp lực giảm giá khoảng 3% mỗi năm đối với VND và xu hướng ngoại tệ rời khỏi hệ thống và không gian hạ lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng trong nước bị thu hẹp.

Như vậy, trong quý IV, bài toán chính sách của Việt Nam vì thế không chỉ nằm ở lãi suất, mà còn là khả năng hấp thụ đồng thời các cú sốc từ giá năng lượng, nhu cầu đối với sản phẩm AI, chính sách thương mại của Mỹ và biến động dòng vốn quốc tế.

Cơ hội từ chuỗi cung ứng AI chỉ có thể chuyển thành tăng trưởng bền vững nếu Việt Nam nâng được giá trị gia tăng trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng FDI.

Để năng lượng sạch thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững

https://nhadautu.vn/de-nang-luong-sach-thuc-day-phat-trien-kinh-te-ben-vung-d108515.htmlTHANH THANH
18:14 27/10/2026

Nhu cầu năng lượng tăng nhanh khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu phát triển điện nền đủ ổn định, đồng thời mở rộng các nguồn năng lượng sạch với chi phí hợp lý. Từ điện hạt nhân, hydrogen sạch đến hệ thống lưu trữ năng lượng, việc phát triển và kết nối đồng bộ các giải pháp sẽ quyết định khả năng bảo đảm cung ứng điện tin cậy, linh hoạt trong dài hạn.

Nhu cầu điện tăng nhanh, cơ cấu nguồn đứng trước yêu cầu mới

Tại Diễn đàn “Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới” ngày 27/10, các ý kiến chuyên gia đánh giá bài toán năng lượng của Việt Nam đang thay đổi cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hóa và sự xuất hiện của những phụ tải mới như trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và giao thông điện hóa.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương, giai đoạn 2016–2025, sản lượng điện thương phẩm của Việt Nam tăng bình quân 7,6% mỗi năm, trong khi công suất cực đại tăng 6,9% mỗi năm. Năm 2025, điện thương phẩm đạt khoảng 288 tỷ kWh, công suất cực đại khoảng 54 GW.

Theo các kịch bản được đưa ra, nhu cầu năng lượng sơ cấp được dự báo tiếp tục tăng mạnh, lên khoảng 110–122 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030 và 186–207 triệu tấn vào năm 2050.

Trong cơ cấu nguồn điện, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng trên 30%. Trong khi đó, điện mặt trời và điện gió tăng nhanh, lần lượt chiếm khoảng 19% và 7% sản lượng điện năm 2025. Xu hướng này mở ra dư địa giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với lưới truyền tải, điều độ và khả năng cân bằng cung – cầu điện.

Điều đáng chú ý là phát triển nguồn điện không thể tách rời khả năng vận hành của toàn hệ thống. Khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng, sản lượng điện phụ thuộc nhiều hơn vào điều kiện thời tiết và thời điểm phát. Nếu hạ tầng truyền tải, lưu trữ và các nguồn điện linh hoạt không theo kịp, công suất lắp đặt chưa chắc đã chuyển hóa đầy đủ thành nguồn điện có thể huy động đúng lúc, đúng nơi.

Các chuyên gia chia sẻ tại Diễn đàn “Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới”. Ảnh: Thanh Thanh

Trước đó, tại hội thảo “An ninh năng lượng cho chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” ngày 23/10, TS. Nguyễn Huy Hoạch, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) cũng cho rằng yêu cầu bảo đảm điện không thể chỉ được đánh giá qua quy mô nguồn cung. Ông nhấn mạnh: “Đủ điện không chỉ là sản xuất được bao nhiêu điện, mà là điện có đến đúng nơi, đúng thời điểm, với chất lượng và chi phí phù hợp hay không"

Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ từ nguồn phát, lưới truyền tải đến các giải pháp lưu trữ và điều tiết, nhằm bảo đảm điện được cung ứng ổn định, đáp ứng nhu cầu thực tế với chi phí hợp lý.

Bên cạnh đa dạng hóa nguồn cung, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp cũng là một hướng đi cần được chú trọng. Các giải pháp như kiểm toán năng lượng, cải tiến thiết bị, tối ưu dây chuyền, thu hồi nhiệt thải và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng có thể giúp doanh nghiệp giảm tiêu hao, kiểm soát chi phí, qua đó hạn chế áp lực gia tăng nguồn cung do nhu cầu sử dụng điện ngày càng lớn.

“Một doanh nghiệp có thể chấp nhận giá điện cao hơn trong một thời gian nhất định, nhưng khó có thể chấp nhận nguồn điện thiếu ổn định.”

TS. Nguyễn Huy Hoạch, VEA

Ở góc độ phát triển nguồn năng lượng mới, PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA), phân tích cơ hội phát triển hydrogen sạch trong bối cảnh Việt Nam vừa theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, vừa phải giảm phát thải.

Theo chuyên gia, thị trường hydrogen trong nước hiện chủ yếu gắn với các tổ hợp sản xuất phân bón và lọc hóa dầu. Hydrogen phần lớn được sản xuất và tiêu thụ tại chỗ, trong khi hoạt động lưu trữ, vận chuyển giữa các cơ sở còn hạn chế. Nhu cầu từ những ngành khác như thép, xi măng, điện tử và chế biến thực phẩm vẫn ở quy mô nhỏ.

Đáng chú ý, Việt Nam chưa có dự án hydrogen xanh hoặc hydrogen xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành. Một số sáng kiến đã được triển khai hoặc lên kế hoạch, nhưng thị trường vẫn chưa hình thành được nguồn cung hydrogen sạch đáng kể.

Hydrogen sạch được xem là hướng đi tiềm năng đối với những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, khó giảm phát thải và một số lĩnh vực vận tải khó điện khí hóa. Tuy nhiên, theo phân tích của PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, quá trình phát triển lĩnh vực này đang đối mặt với nhiều rào cản: chi phí hydrogen sạch vẫn cao hơn đáng kể so với hydrogen có nguồn gốc hóa thạch; khung pháp lý còn phân tán, cơ chế điều phối chưa đủ mạnh, trong khi hạ tầng lưu trữ và vận chuyển chưa phát triển…

Do đó, phát triển hydrogen sạch không chỉ phụ thuộc vào tiềm năng năng lượng tái tạo hay khả năng thu hút đầu tư. Việt Nam còn cần xác định nhu cầu tiêu thụ, phát triển hạ tầng phù hợp và xây dựng cơ chế hỗ trợ các dự án tiên phong. Nếu thiếu những điều kiện này, các dự án sản xuất có thể gặp khó khăn trong tìm kiếm đầu ra và phương án vận chuyển hiệu quả.

Đại diện Viện Năng lượng chia sẻ dự báo nhu cầu năng lượng quốc gia. Ảnh: Thanh Thanh

Quy hoạch nguồn điện phải đi cùng hiệu quả sử dụng năng lượng

Nếu hydrogen sạch mở ra hướng phát triển nhiên liệu và nguyên liệu công nghiệp ít phát thải, lưu trữ năng lượng lại là giải pháp giúp hệ thống điện khai thác hiệu quả hơn các nguồn năng lượng tái tạo đang gia tăng.

Nhấn mạnh vai trò của hệ thống lưu trữ trong việc nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện, ông Nguyễn Văn Thiện, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp GG (GG Power), cho rằng hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) không thay thế nguồn phát hay lưới điện, mà bổ sung khả năng cân bằng và điều tiết cung – cầu.

Điện mặt trời và điện gió có thể tạo ra sản lượng lớn vào những thời điểm nhất định, nhưng thời điểm phát điện không phải lúc nào cũng trùng với nhu cầu tiêu thụ. Hệ thống lưu trữ có thể hấp thụ phần điện dư thừa và cung cấp trở lại khi nhu cầu tăng, qua đó góp phần giảm cắt giảm công suất nguồn tái tạo, hỗ trợ cân bằng lưới và hạn chế phụ tải đỉnh.

BESS còn có thể được ứng dụng tại nhà máy, cơ sở thương mại và hộ gia đình để tối ưu chi phí điện, tăng khả năng tự sử dụng điện mặt trời tại chỗ và hỗ trợ cấp điện dự phòng khi được thiết kế phù hợp. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào đặc điểm phụ tải, phương án đấu nối, thiết kế và điều khiển hệ thống, yêu cầu an toàn cũng như chi phí vận hành trong suốt vòng đời.

Theo ông Thiện, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển 10.000–16.300 MW pin lưu trữ đến năm 2030. Tuy nhiên, mục tiêu quy hoạch mới là điều kiện định hướng, chưa đồng nghĩa các dự án có thể triển khai hiệu quả trên thực tế. Để thị trường lưu trữ phát triển bền vững, cần làm rõ cơ chế doanh thu và thanh toán dịch vụ, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn, phương án huy động vốn và cách thức phân bổ rủi ro. Nếu giá trị kỹ thuật của hệ thống chưa được chuyển hóa thành dòng tiền đủ rõ ràng, việc thu hút đầu tư và mở rộng quy mô sẽ gặp khó khăn.

Cơ hội và thách thức phát triển Hydrogen sạch ở Việt Nam. Nguồn: Nguyễn Văn Thiện

Ở một hướng tiếp cận khác, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, đề cập đến điện hạt nhân với vai trò là nền tảng năng lượng cho các ngành công nghệ chiến lược. Đây là góc nhìn bổ sung cho bài toán cơ cấu nguồn, khi hệ thống điện cần tính đến khả năng cung cấp ổn định, liên tục trong dài hạn bên cạnh việc phát triển năng lượng tái tạo.

Đặt điện hạt nhân bên cạnh hydrogen sạch và lưu trữ năng lượng cho thấy chuyển dịch năng lượng không phải là sự lựa chọn đơn lẻ giữa các công nghệ. Mỗi giải pháp đảm nhiệm một vai trò khác nhau: điện hạt nhân được xem xét trong bài toán nguồn cung dài hạn; hydrogen sạch hướng tới những lĩnh vực khó giảm phát thải; còn lưu trữ giúp tăng khả năng tích hợp và khai thác các nguồn điện có sản lượng biến động.

Theo các chuyên gua, việc lựa chọn và triển khai từng giải pháp cần dựa trên yêu cầu của hệ thống, tính khả thi về công nghệ, vốn đầu tư và cơ chế vận hành.

Thách thức vì thế không chỉ nằm ở việc huy động vốn để xây dựng thêm nhà máy điện. Quy hoạch cần tính toán đồng bộ nguồn phát, lưới truyền tải, lưu trữ, khả năng điều độ và nhu cầu tiêu thụ; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, sử dụng điện sạch và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng.

Đối với doanh nghiệp, khả năng tiếp cận nguồn điện ổn định với chi phí hợp lý ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh, nhất là khi các thị trường quốc tế chú trọng hơn đến tiêu chuẩn môi trường và phát thải carbon. Vì vậy, đầu tư năng lượng sạch chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi đi cùng hiệu quả sử dụng năng lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế.

Trong giai đoạn tăng trưởng mới, hiệu quả phát triển năng lượng cần được đánh giá trên toàn hệ thống, thay vì chỉ dựa vào công suất nguồn được bổ sung. Khi nguồn điện, hạ tầng, công nghệ lưu trữ và nhu cầu sử dụng được kết nối đồng bộ, năng lượng sạch mới có thể đóng góp thiết thực vào bảo đảm an ninh năng lượng, hỗ trợ tăng trưởng và thúc đẩy phát triển bền vững.

Đất nền vùng ven ế khách, căn hộ TP.HCM vẫn vượt tầm với

https://nhadautu.vn/dat-nen-vung-ven-e-khach-can-ho-tphcm-van-vuot-tam-voi-d108489.htmlVŨ PHẠM
16:41 27/10/2026

Thanh khoản đất nền vùng ven TP.HCM tiếp tục cho thấy đà lao dốc dù giá bán đã có sự điều chỉnh. Trong khi, căn hộ tiếp tục đối mặt nghịch lý nguồn cung nghiêng về phân khúc cao cấp, còn người mua chịu sức ép từ lãi suất và khả năng chi trả.

Thị trường bất động sản nhà ở TP.HCM và vùng phụ cận vẫn đang bộc lộ nghịch lý đáng chú ý, đó là đất nền vùng ven ngày càng khó tìm người mua dù giá bán có phần hạ nhiệt, còn căn hộ đáp ứng nhu cầu an cư lại chịu áp lực từ mặt bằng giá và chi phí vay vốn.

Báo cáo thị trường quý III của DKRA Consulting cho thấy, phân khúc đất nền có nguồn cung sơ cấp 8.324 nền, tăng nhẹ 1% so với quý trước, nhưng lượng tiêu thụ chỉ đạt 119 nền, giảm 66%. Tỷ lệ tiêu thụ toàn thị trường ở mức khoảng 1%.

Đối với phân khúc căn hộ, thị trường ghi nhận 13.215 căn nguồn cung sơ cấp, giảm 31% theo quý; lượng tiêu thụ đạt 3.471 căn, giảm 66%. Tỷ lệ tiêu thụ đạt 26%, cao hơn đáng kể so với đất nền nhưng vẫn cho thấy sức mua suy yếu.

Nguồn cung, tỷ lệ tiêu thụ và giá bán sơ cấp phân khúc đất nền. Ảnh: DKRA

Người mua đứng ngoài "cuộc chơi"

Một trong những điểm đáng chú ý của thị trường đất nền quý III là nguồn cung không giảm mạnh, nhưng phần lớn hàng hóa vẫn đến từ các dự án đã mở bán trước đó. Nhóm này chiếm khoảng 95% tổng nguồn cung sơ cấp, trong khi nguồn cung mới giảm 30% so với quý trước.

Điều đó chỉ ra thị trường chưa thực sự xuất hiện một chu kỳ cung mới đủ mạnh để tạo thêm động lực giao dịch. Các chủ đầu tư thận trọng hơn với kế hoạch mở bán, còn người mua cũng cân nhắc kỹ trước khi xuống tiền.

DKRA Consulting cho biết, Tây Ninh tiếp tục là địa phương chủ lực về sức cầu, chiếm khoảng 76% tổng lượng tiêu thụ sơ cấp đất nền trong phạm vi khảo sát. Tuy nhiên, kết quả này không làm thay đổi bức tranh chung khi lượng giao dịch toàn thị trường giảm mạnh.

Về giá, mặt bằng sơ cấp ít biến động so với quý trước và tiếp tục neo cao dưới tác động của chi phí đầu vào. Ngược lại, giá thứ cấp giảm trung bình khoảng 2%, chủ yếu tại nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính và chịu áp lực thu hồi dòng tiền.

Nghịch lý nằm ở chỗ người bán vẫn kỳ vọng giá trị đất sẽ tăng theo tiến độ phát triển hạ tầng và đô thị hóa, trong khi người mua ngày càng đòi hỏi bằng chứng rõ ràng hơn về khả năng khai thác, tốc độ hình thành dân cư và triển vọng thanh khoản.

Hạ tầng giao thông tiếp tục là yếu tố được thị trường quan tâm. Trong quý III, nhiều dự án giao thông quan trọng được khởi công hoặc triển khai, gồm cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, các đoạn Vành đai 4, cầu Cát Lái và cầu Long Hưng. Những công trình này có thể cải thiện khả năng kết nối giữa TP.HCM với các địa bàn lân cận, nhưng tác động đến giá trị từng khu đất còn phụ thuộc vị trí, tiến độ thực hiện và mức độ hình thành hoạt động kinh tế thực tế.

Anh Nguyễn Tùng, một môi giới bất động sản ở khu vực quận 9 cũ TP.HCM chia sẻ, các nhà đầu tư và khách hàng ngày càng khó xuống tiền hơn trước áp lực về lãi suất. Nếu họ mua đất tại khu vực ven đô với kỳ vọng giá tăng khi tuyến đường kết nối được triển khai có thể không gặp vấn đề lớn khi sử dụng vốn tự có và sẵn sàng nắm giữ dài hạn. Nhưng hiện nay, phần lớn vốn đầu tư đến từ khoản vay, thời gian chờ đợi kéo dài sẽ làm tăng chi phí cơ hội và áp lực trả lãi. Thực tế, khi cần bán để thu hồi vốn, nhiều khách hàng đã phải giảm giá, nhưng cũng kén người mua.

Trong quý IV, DKRA dự báo nguồn cung đất nền mới chỉ khoảng 200-300 sản phẩm, chủ yếu tại các dự án hoàn thiện pháp lý và hạ tầng. Sức cầu khó phục hồi nhanh khi lãi suất chưa có chuyển biến tích cực, còn giá thứ cấp tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh.

Nhu cầu luôn hiện hữu song vẫn thiếu căn hộ vừa túi tiền

Nếu đất nền vùng ven chịu sức ép từ thanh khoản đầu tư, thị trường căn hộ lại đối diện với bài toán nhu cầu an cư không biến mất, nhưng khả năng chuyển nhu cầu thành giao dịch đang suy yếu.

Ông Võ Hồng Thắng, Giám đốc đầu tư của DKRA Group cho biết, nguồn cung sơ cấp căn hộ tại TP.HCM và vùng phụ cận trong quý III đạt 13.215 căn, trong đó TP.HCM chiếm khoảng 94%. Lượng tiêu thụ đạt 3.471 căn, giảm 66% so với quý trước. Giá thứ cấp tại các dự án giảm phổ biến 4-7%, tập trung ở những giao dịch mà người bán chịu áp lực từ đòn bẩy tài chính và lãi vay.

Nguồn cung, tỷ lệ tiêu thụ và giá bán sơ cấp phân khúc căn hộ. Ảnh: DKRA

Trong khi đó, Savills Việt Nam ghi nhận, thị trường TP.HCM theo địa giới trước sáp nhập ghi nhận khoảng 1.900 căn hộ mở bán mới trong quý, đưa nguồn cung sơ cấp lên 5.800 căn. Phân khúc hạng A và B chiếm khoảng 80% nguồn cung mới; tỷ lệ hấp thụ toàn thị trường đạt 25%, tương đương khoảng 1.400 giao dịch.

Cả 2 đơn vị nghiên cứu thị trường đều chỉ ra sức mua đang chịu áp lực, trong khi cơ cấu nguồn cung vẫn tập trung đáng kể vào nhóm sản phẩm giá cao.

Bà Cao Thị Thanh Hương, Phó Giám đốc bộ phận nghiên cứu và S22M của Savills TP.HCM cho rằng, lãi suất vay mua nhà ở mức cao tiếp tục gây áp lực lên dòng tiền của chủ đầu tư và khả năng chi trả của người mua. Nguồn cung vẫn duy trì, nhưng nhu cầu đang suy yếu. Nhu cầu mua để ở ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thanh khoản. Những dự án có kết quả bán hàng tích cực thường cung cấp cơ cấu sản phẩm đa dạng, đi kèm chính sách thanh toán linh hoạt và kéo dài nhằm giảm áp lực tài chính ban đầu.

Ở góc độ người mua nhà, gia đình anh Thông Hải (quê quán Nghệ An), nhân viên văn phòng sinh sống và làm việc tại TP.HCM lâu năm đang có nhu cầu chuyển từ thuê nhà sang sở hữu căn hộ nhưng vẫn trì hoãn quyết định, vì khoản vay dự kiến khiến chi phí trả nợ hàng tháng vượt quá mức an toàn. Anh chia sẻ rằng, thị trường có nhiều căn hộ có pháp lý đầy đủ và vị trí phù hợp nhưng cũng khó trở thành lựa chọn khả thi vì tổng giá trị căn nhà vượt quá năng lực tài chính.

Nhằm kích cầu người mua, các chủ đầu tư cũng đưa ra nhiều chương trình ưu đãi hấp dẫn như giãn tiến độ thanh toán, hỗ trợ lãi suất hoặc giảm khoản tiền phải nộp ban đầu … nhưng hiệu quả còn tùy thuộc tổng giá bán, thời gian ưu đãi và chi phí vay sau khi hết hỗ trợ.

Savills dự báo khoảng 6.000 căn hộ có thể được mở bán trong quý IV, thấp hơn gần 30% so với dự báo ban đầu do một số dự án trì hoãn kế hoạch triển khai. Trong dài hạn, nguồn cung được kỳ vọng dịch chuyển rõ hơn về các khu đô thị ngoại thành, với sự tham gia của các sản phẩm hạng C phục vụ nhóm khách hàng nhạy cảm về giá.

Nhìn từ 2 phân khúc này, ông Nguyễn Hoàng, Phó Giám đốc Eagle Academy, chuyên gia bất động sản độc lập nhận định, khó khăn hiện nay không đơn thuần đến từ việc thiếu người có nhu cầu mua bất động sản, mà còn nằm ở khoảng cách giữa kỳ vọng của chủ đầu tư và khả năng thanh toán của người mua.

Với đất nền, hạ tầng và tiềm năng đô thị hóa có thể tạo động lực dài hạn, nhưng không bảo đảm giao dịch sẽ phục hồi ngay. Những khu vực chưa hình thành dân cư, hoạt động kinh tế hoặc kết nối thuận tiện vẫn có thể đối diện tình trạng thanh khoản thấp dù giá chào bán chưa giảm đáng kể.

Còn đối với căn hộ, việc nguồn cung tiếp tục nghiêng về phân khúc cao cấp khiến bài toán tiếp cận nhà ở trở nên rõ nét hơn. Nếu sản phẩm phù hợp với thu nhập và khả năng vay vốn chưa được bổ sung tương xứng, nhu cầu ở thực khó chuyển hóa thành lực cầu đủ mạnh để cải thiện thanh khoản trên diện rộng.

Trong bối cảnh lãi suất và tín dụng tiếp tục ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, ông Hoàng nhấn mạnh, sự phục hồi sẽ diễn ra không đồng đều. Những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực, có mức giá hợp lý và khả năng thanh khoản rõ ràng nhiều khả năng sẽ có lợi thế hơn so với các tài sản phụ thuộc chủ yếu vào kỳ vọng tăng giá trong tương lai.

Nhà thầu ở Huế chịu sức ép từ giá vật liệu tăng cao

https://nhadautu.vn/nha-thau-o-hue-chiu-suc-ep-tu-gia-vat-lieu-tang-cao-d108450.htmlĐÌNH DUY
07:00 27/10/2026

Nguồn cung vật liệu xây dựng tại TP. Huế chưa đáp ứng nhu cầu, trong khi giá đầu vào tăng mạnh khiến chi phí thi công tăng, đẩy nhà thầu vào thế khó về tiến độ và hiệu quả tài chính.

Giá vật liệu tăng mạnh, nhà thầu khó cân đối chi phí

Tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng tại TP. Huế đang ảnh hưởng đến tiến độ thi công nhiều công trình, dự án. Nguồn cung hạn chế, giá đầu vào tăng cao, trong khi việc điều chỉnh giá hợp đồng còn vướng mắc khiến nhà thầu chịu sức ép lớn về chi phí.

Tại dự án đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài, tổng mức đầu tư hơn 1.100 tỷ đồng, đoạn qua phường Thanh Thủy, tiến độ thi công một số hạng mục đang bị ảnh hưởng do thiếu đá xây dựng.

Riêng các hạng mục cầu do doanh nghiệp đảm nhận cần khoảng 50.000 m3 đá, chủ yếu là đá 1×2 phục vụ đổ bê tông. Việc thiếu hụt vật liệu khiến nhà thầu gặp khó khăn trong tổ chức thi công và duy trì tiến độ.

Ông Nguyễn Văn Sơn, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại phường Kim Trà, TP. Huế, cho biết đá xây dựng đang khan hiếm do nhiều mỏ đã hết công suất hoặc khối lượng được phép tiêu thụ.

Có thời điểm, doanh nghiệp phải chờ cả ngày mới mua được một xe đá, trong khi giá đã vượt 500.000 đồng/m3, cao hơn dự toán ban đầu của công trình.

Doanh nghiệp xây dựng bị "đội" chi phí vì giá nguyên vật liệu tăng cao. Ảnh: Đình Duy

Theo ông D.V.H, Giám đốc Công ty TNHH H.T, giá vật liệu xây dựng tăng nhanh do nhiều mỏ đã hết khối lượng được phép tiêu thụ trong năm. Không mua đủ vật liệu tại địa phương, doanh nghiệp buộc phải tìm nguồn cung từ khu vực khác, kéo theo giá mua và chi phí vận chuyển tăng cao.

Không chỉ đá xây dựng, giá nhựa đường cũng tạo thêm áp lực cho nhà thầu. Theo phản ánh của doanh nghiệp, có thời điểm, nhà cung cấp thông báo giá nhựa đường tăng từ khoảng 13.000 đồng/kg lên 26.000 đồng/kg, gần gấp đôi trước đó.

Biến động giá đầu vào khiến một số nhà thầu phải chững lại để chờ phương án xử lý chi phí phát sinh. Trong khi đó, việc kéo dài thời gian thi công có thể làm tăng thêm chi phí nhân công, máy móc và các khoản liên quan.

Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Trần Viết Tú, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Nam Sông Hương, cho biết giá nguyên vật liệu đang là một trong các khó khăn với các dự án. Trước tình hình này, TP. Huế đã báo cáo Bộ Xây dựng liên quan đến điều chỉnh giá vật liệu.

Tuy nhiên, theo ông Tú, việc điều chỉnh giá hợp đồng phải có căn cứ và đáp ứng các điều kiện theo quy định, chẳng hạn trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi. Với những trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện, việc điều chỉnh giá gặp nhiều vướng mắc.

Trong bối cảnh giá vật liệu tăng nhưng giá hợp đồng chưa thể điều chỉnh tương ứng, nhà thầu phải tự gánh phần chi phí phát sinh. Điều này trực tiếp làm giảm lợi nhuận, thậm chí đẩy doanh nghiệp vào nguy cơ thua lỗ nếu biến động giá kéo dài.

Cung chưa theo kịp cầu

Theo Sở NN&MT TP. Huế, thành phố hiện có 18 mỏ đá được cấp phép khai thác, trong đó 15 mỏ đang hoạt động, 1 mỏ chưa đưa vào khai thác và 2 mỏ đang tạm dừng.

Sở NN&MT cho biết, tình trạng khan hiếm đá cục bộ chủ yếu xuất phát từ năng lực sản xuất, chế biến tại một số mỏ chưa đáp ứng yêu cầu. Bên cạnh đó, diện tích dành cho các khu vực phụ trợ, sản xuất và chế biến tại mỏ chưa được quy hoạch đầy đủ, hạn chế khả năng nâng công suất và chủ động sản xuất các loại đá thành phẩm.

Ngoài ra, nhiều công trình có xu hướng tập trung mua đá từ một số mỏ có chất lượng ổn định, vị trí thuận lợi và cự ly vận chuyển ngắn. Điều này tạo áp lực lớn lên các nguồn cung này, trong khi những mỏ khác chưa đáp ứng tương ứng về sản lượng và chủng loại.

Thực tế tại mỏ đá Khe Đáy, phường Hương Trà, cho thấy nguồn cung còn chịu áp lực từ giới hạn sản lượng được phép khai thác và cơ cấu sản phẩm sau chế biến.

CTCP Đầu tư thương mại phát triển Trường Sơn cho biết, doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường với công suất 400.000 m3/năm ở trạng thái tự nhiên. Trong đó, 100.000 m3/năm là phần công suất được UBND TP. Huế cho phép nâng thêm nhằm cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án trọng điểm.

Theo doanh nghiệp, khối lượng đá được yêu cầu cung cấp cho các công trình trong năm 2026 tăng khoảng 70% so với năm 2025.

TP. Huế sẽ nâng công suất các mỏ khoáng sản để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ảnh: Đình Duy

Theo báo cáo của Sở Xây dựng TP. Huế, nhu cầu đất san lấp năm 2026 ước khoảng 12,07 triệu m3, trong khi sản lượng thực tế đạt khoảng 5,17 triệu m3, với công suất khai thác khoảng 6,47 triệu m3/năm.

Nhu cầu đất san lấp năm 2027 dự kiến tăng lên 25,66 triệu m3, trong khi tổng nhu cầu giai đoạn 2028-2030 khoảng 76,83 triệu m3.

Đối với đá xây dựng và cấp phối đá dăm, nhu cầu năm 2026 ước khoảng 3,48 triệu m3, trong khi sản lượng thực tế đạt khoảng 2,25 triệu m3. Nhu cầu cát xây dựng dự kiến đạt 1,54 triệu m3 trong năm 2026, tăng lên 1,69 triệu m3 năm 2027 và khoảng 4,34 triệu m3 trong giai đoạn 2028-2030.

Để bổ sung nguồn cung, Sở NN&MT đang rà soát, quy hoạch bổ sung diện tích khu vực phụ trợ, sản xuất và chế biến khoáng sản đối với các mỏ có nhu cầu và đủ điều kiện.

Trước mắt, cơ quan này tập trung hoàn thiện thủ tục nâng công suất một số mỏ có khả năng bổ sung sản lượng lớn, gồm Khe Đáy và các mỏ của CTCP Xây dựng Giao thông, CTCP Coxano Hương Thọ, Công ty TNHH MTV Khai thác đá xây dựng Hương Bình.

Thành phố cũng đẩy nhanh thủ tục đất đai đối với mỏ đá Phú Mậu, tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch khu vực phụ trợ cho mỏ đá núi Mỏ Diều.

Các giải pháp khác gồm hướng dẫn doanh nghiệp nâng công suất theo cơ chế đặc thù, mở rộng các mỏ hiện có, hỗ trợ cấp lại các mỏ còn trữ lượng và tổ chức đấu giá những khu vực mỏ mới theo kế hoạch.

Nghệ An trước mục tiêu hút 8 tỷ USD vốn ngoại

https://nhadautu.vn/nghe-an-truoc-muc-tieu-hut-8-ty-usd-von-ngoai-d108470.htmlVĂN DŨNG
1VĂN DŨNG
13:52 25/10/2026

Đặt mục tiêu thu hút 6–8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2026–2030, trong đó 70% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, Nghệ An đang hướng tới bước chuyển về chất trong chiến lược thu hút đầu tư. Để hiện thực hóa mục tiêu này, địa phương cần chuyển lợi thế về hạ tầng, quỹ đất và môi trường kinh doanh thành năng lực cạnh tranh thực chất, được đo bằng vốn thực hiện, công nghệ, năng suất lao động và mức độ gắn kết của doanh nghiệp FDI với kinh tế địa phương.

Một góc khu công nghiệp VSIP Nghệ An. Ảnh: Văn Dũng

Chuyển từ quy mô vốn sang chất lượng đầu tư

UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành Kế hoạch số 941/KH-UBND về thực hiện Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 của Chính phủ và Kế hoạch số 85-KH/TU ngày 27/8/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo kế hoạch, giai đoạn 2026–2030, Nghệ An đặt mục tiêu thu hút khoảng 6–8 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tương đương bình quân 1,2–1,6 tỷ USD mỗi năm. Vốn đầu tư thực hiện dự kiến đạt 5–6,5 tỷ USD, bình quân 1–1,3 tỷ USD mỗi năm.

Đáng chú ý, tỉnh hướng tới tỷ trọng 70% vốn FDI đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, tài chính và quản trị hiện đại. Đây không đơn thuần là mục tiêu về quy mô vốn, mà còn thể hiện định hướng tái định vị Nghệ An trên bản đồ đầu tư, hướng tới những dự án công nghệ cao, có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, hình thành chuỗi cung ứng và đóng góp lâu dài cho tăng trưởng kinh tế.

Thực tế, Nghệ An đã ghi nhận những bước tiến đáng chú ý. Trong 9 tháng đầu năm 2026, địa phương thu hút khoảng 2,49 tỷ USD vốn FDI, xếp thứ 6 cả nước. Một trong những dự án nổi bật là Nhà máy Nhiệt điện LNG Quỳnh Lập, có tổng vốn đầu tư gần 2,2 tỷ USD, được chấp thuận chủ trương đầu tư tháng 2/2026 và khởi công hạ tầng kỹ thuật ngày 18/5 cùng năm.

Một số chuyên gia kinh tế có chung nhận định, kết quả này cho thấy Nghệ An đủ khả năng tiếp cận những dự án quy mô lớn. Tuy nhiên, thách thức trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục thu hút các dự án tỷ USD, mà còn nằm ở khả năng duy trì dòng vốn ổn định, đa dạng hóa ngành nghề và nâng cao tỷ lệ vốn được giải ngân thực tế.

Vốn đăng ký và vốn thực hiện vì thế cần được xem là hai chỉ tiêu song hành. Một dự án có quy mô vốn lớn có thể tạo hiệu ứng tích cực về kỳ vọng đầu tư, nhưng đóng góp thực tế vào sản xuất, việc làm, xuất khẩu và ngân sách chỉ được thể hiện đầy đủ khi dự án triển khai đúng tiến độ, vận hành hiệu quả và duy trì hoạt động ổn định.

Với mục tiêu thu hút 6–8 tỷ USD vốn đăng ký và 5–6,5 tỷ USD vốn thực hiện trong 5 năm, Nghệ An cần theo dõi sát tỷ lệ chuyển hóa vốn đăng ký thành vốn thực hiện, tiến độ giải ngân từng dự án trọng điểm và mức độ hoàn thành cam kết của nhà đầu tư. Đây là những căn cứ quan trọng để đánh giá dòng vốn có thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế hay không.

Cùng với đó, mục tiêu 70% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển cần đi kèm những tiêu chí đánh giá chất lượng dự án. Quốc gia xuất xứ của dòng vốn mới chỉ là một căn cứ ban đầu; hiệu quả đầu tư còn phụ thuộc vào công nghệ được chuyển giao, trình độ quản trị, năng lực nghiên cứu và phát triển, nhu cầu sử dụng lao động kỹ thuật cao cũng như khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng lớn.

Vì vậy, điều Nghệ An cần hướng tới không chỉ là thu hút nhà đầu tư đến từ các thị trường phát triển, mà còn phải lựa chọn được những dự án phù hợp với định hướng công nghiệp hóa, chuyển đổi số và phát triển xanh của tỉnh.

Công ty TNHH Luxshare – ICT đã đầu từ hàng trăm triệu USD vào KCN VSIP Nghệ An. Ảnh: Văn Dũn

Đo sức hút bằng năng lực cạnh tranh và độ lan tỏa

Để hiện thực hóa mục tiêu 8 tỷ USD, lợi thế về vị trí địa lý và quỹ đất công nghiệp cần được đặt trong mối quan hệ với năng lực đáp ứng thực tế của hạ tầng.

Các khu công nghiệp VSIP, WHA, Hoàng Mai là những địa bàn quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư của Nghệ An. Tuy nhiên, sức hấp dẫn của các khu công nghiệp không chỉ được đo bằng diện tích quy hoạch, mà còn bằng khả năng bàn giao đất sạch, mức độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và kết nối giao thông, cảng biển, logistics.

Nghệ An đang thúc đẩy hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục và mặt bằng. Các dự án giao thông, cảng biển, hàng không và năng lượng được kỳ vọng nâng cao khả năng tiếp nhận những dự án công nghiệp quy mô lớn.

Vấn đề đặt ra là tiến độ hoàn thiện hạ tầng phải theo kịp nhu cầu của nhà đầu tư. Nếu quỹ đất chưa sẵn sàng, thủ tục đất đai và giải phóng mặt bằng kéo dài hoặc chi phí logistics còn cao, lợi thế về vị trí có thể chưa đủ sức thuyết phục doanh nghiệp lựa chọn địa phương.

Bởi vậy, tỷ lệ diện tích đất công nghiệp có thể bàn giao ngay, thời gian hoàn thành thủ tục, khả năng cung ứng điện, nước và xử lý nước thải cần được xem là những chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ sẵn sàng đón dòng vốn.

Bên cạnh hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực cũng quyết định khả năng Nghệ An thu hút các dự án công nghệ cao. Tỷ trọng lao động qua đào tạo ở Nghệ An được định hướng đạt khoảng 80%. Nghệ An đồng thời hướng tới tăng tỷ lệ lao động trong nước đảm nhiệm các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành tại những dự án FDI chất lượng cao.

Định hướng này gắn với mục tiêu thu hút đầu tư vào các lĩnh vực như điện tử, chip bán dẫn, thiết bị số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng xanh và logistics hiện đại.

Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ đông về số lượng, mà còn phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn, kỷ luật lao động và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Nếu nguồn cung lao động kỹ thuật không theo kịp nhu cầu, doanh nghiệp có thể phải tuyển dụng nhân sự từ địa phương khác, tăng chi phí vận hành hoặc điều chỉnh kế hoạch mở rộng sản xuất.

Một thước đo quan trọng khác là chất lượng điều hành. Chia sẻ với Nhadautu.vn, TS. Trần Quốc Lâm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), Chủ tịch HĐQT CTCP Song Ngư Sơn, cho rằng trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI, nhà đầu tư không chỉ so sánh chính sách ưu đãi hay chi phí thuê đất, mà còn quan tâm đến tính ổn định của chính sách, sự minh bạch của thủ tục và khả năng xử lý các vướng mắc phát sinh.

Nghệ An định hướng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và năng lực cạnh tranh. Để tạo ra khác biệt thực chất, những định hướng này cần được chuyển thành các chỉ tiêu có thể kiểm chứng, như thời gian trung bình giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai và xây dựng; tỷ lệ hồ sơ xử lý đúng hạn; số vướng mắc được giải quyết dứt điểm và mức độ hài lòng của doanh nghiệp.

Theo TS. Trần Quốc Lâm, hiệu quả của chính sách thu hút đầu tư cần được đánh giá trong toàn bộ vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung vào giai đoạn cấp phép. Việc đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình xây dựng, tuyển dụng, vận hành và mở rộng sản xuất có thể củng cố niềm tin của nhà đầu tư hiện hữu, đồng thời tạo hiệu ứng tích cực trong việc tiếp cận các nhà đầu tư mới.

Quan trọng hơn, chất lượng dòng vốn FDI cần được đo bằng mức độ lan tỏa đối với nền kinh tế địa phương. Một dự án quy mô lớn nhưng ít liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh sẽ tạo ra hiệu ứng khác với dự án hình thành mạng lưới nhà cung cấp, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.

Vì vậy, bên cạnh tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện, Nghệ An cần quan tâm đến tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, giá trị mua hàng hóa và dịch vụ nội địa, năng suất lao động, chất lượng việc làm, đóng góp ngân sách và hiệu quả sử dụng đất. Các tiêu chí về môi trường, mức tiêu hao năng lượng và phát thải cũng cần được đặt ra phù hợp với từng lĩnh vực đầu tư.

"Mục tiêu 8 tỷ USD không nên chỉ được xem là đích đến về quy mô vốn, mà cần trở thành động lực để nâng cấp chất lượng môi trường đầu tư. Khi mỗi dự án được lựa chọn dựa trên hiệu quả thực chất, mỗi cam kết được giám sát bằng chỉ tiêu cụ thể và mỗi lợi thế của địa phương được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh, dòng vốn FDI mới có thể tạo ra giá trị bền vững cho Nghệ An trong giai đoạn phát triển tiếp theo", TS. Trần Quốc Lâm nói.

Mục tiêu của Nghệ An không chỉ là có thêm các dự án FDI, mà còn có thêm nhiều doanh nghiệp Nghệ An đủ năng lực trở thành đối tác, nhà cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu

Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng hải

Định hướng nâng cao sức lan tỏa của dòng vốn cũng được lãnh đạo tỉnh nhấn mạnh. Trao đổi với Nhadautu.vn trước đó, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải cho biết, giai đoạn 2026–2030, tỉnh sẽ triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, hướng tới xây dựng các ngành công nghiệp nền tảng theo công nghệ tiên tiến, đồng thời hình thành những doanh nghiệp nội địa đủ tiêu chuẩn trở thành nhà cung ứng trực tiếp cho các tập đoàn đa quốc gia.

Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh sẽ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực điện tử thông minh, cơ khí chính xác, ô tô, tự động hóa và công nghệ cao; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế.

Nghệ An cũng định hướng đẩy mạnh kết nối cung – cầu giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn FDI, khuyến khích hình thành các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trong các khu công nghiệp.

"Mục tiêu của Nghệ An không chỉ là có thêm các dự án FDI, mà còn có thêm nhiều doanh nghiệp Nghệ An đủ năng lực trở thành đối tác, nhà cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu", ông Võ Trọng Hải nhấn mạnh.

Nhà đầu tư cá nhân và cuộc chiến cảm xúc trên sàn chứng khoán

https://nhadautu.vn/nha-dau-tu-ca-nhan-va-cuoc-chien-cam-xuc-tren-san-chung-khoan-d108459.htmlLIÊN THƯỢNG
16:14 24/10/2026

Sau những phiên tăng giảm chóng mặt của thị trường chứng khoán, nhà đầu tư mang cảm giác hồi hộp như ngồi trên "tàu lượn", người cầm tiền sợ bỏ lỡ cơ hội, người nắm cổ phiếu lại lo mất đi thành quả. Giữa những biến động khó lường, kiểm soát cảm xúc trở thành thử thách không nhỏ với nhà đầu tư.

Nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán như chơi "tàu lượn". Ảnh minh họa: NĐT.

Sau khi đánh mất mốc 1.700 điểm trong phiên đầu tuần, VN-Index bất ngờ phục hồi gần 47 điểm ngày 21/10, tiếp tục tăng gần 22 điểm ở phiên kế tiếp. Đến ngày 23/10, chỉ số tăng thêm 13,52 điểm, đóng cửa tại 1.774,15 điểm, khép lại tuần giao dịch với mức tăng 4%, chấm dứt chuỗi bốn tuần giảm liên tiếp.

Tuy nhiên, đằng sau đà tăng của chỉ số là sự phân hóa đáng kể. Phiên 22/10, bộ đôi VIC và VHM đóng góp hơn 18 điểm trong tổng mức tăng gần 22 điểm của VN-Index, trong khi số cổ phiếu giảm giá nhiều hơn số tăng.

Sang phiên 23/10, dòng tiền tích cực hơn ở nhóm ngân hàng, đưa nhiều cổ phiếu như STB, ACB, LPB tăng mạnh. Thanh khoản HoSE đạt 16.942 tỷ đồng, tăng khoảng 11% so với phiên trước. Dù vậy, thị trường vẫn ghi nhận 156 mã giảm, nhỉnh hơn 144 mã tăng.

Diễn biến ấy cho thấy sắc xanh của chỉ số chưa chắc phản ánh đầy đủ trạng thái tài khoản của từng nhà đầu tư.

Khi cảm xúc dẫn dắt quyết định mua bán

Thị trường chứng khoán thời gian qua chứng kiến nhiều pha tăng giảm đột ngột khiến nhà đầu tư cá nhân không kịp trở tay. Tâm lý bất định bao trùm.

Tự nhận là nhà đầu tư có thâm niên trong ngành tài chính chứng khoán với gần chục năm "nhìn bảng điện", Quốc Thắng (ngụ phường Tân Bình, TP.HCM) cho biết, thời điểm hiện tại, điều nên làm là "tắt bảng điện và ăn bánh uống trà".

Trong khi đó, dù đang nắm trong tay một khoản tiền nhàn rỗi đủ nhiều, Thảo Ngân (ngụ phường An Lạc, TP.HCM) cho biết, cô quyết định không nhảy vào thị trường thời điểm này.

"Tôi đang có nhiều lựa chọn và quyết định giữ tiền mặt thay vì "bắt đáy" cổ phiếu dù đã bỏ vài trăm triệu vào chứng khoán. Tôi nghĩ, thời điểm này không phù hợp, bản thân đang có nhiều việc cần tiền", Thảo Ngân nói với Nhadautu.vn.

Nhìn nhận tâm lý của nhiều nhà đầu tư cá nhân ở thời điểm hiện tại đang xuống dốc, ông Võ Diệp Thành Thoại, Trưởng phòng KHCC, CTCP Chứng khoán DNSE, cho rằng, rạng thái tâm lý đáng chú ý hiện nay là "chỉ số xanh nhưng tài khoản vẫn đỏ". Khi đà tăng chủ yếu tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn, nhiều nhà đầu tư không thực sự hưởng lợi từ sự hồi phục của VN-Index.

Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Thoại ví von diễn biến thị trường tuần qua như một chuyến tàu lượn, liên tục thay đổi giữa những nhịp giảm sâu và phục hồi nhanh.

"Người đã cắt lỗ ở vùng giá thấp có thể tiếc nuối và vội vàng mua trở lại khi thị trường tăng. Trong khi đó, người đang nắm giữ cổ phiếu thua lỗ lại sốt ruột, muốn bán đi để chuyển sang những mã đang tăng mạnh. Cả hai trường hợp đều có nguy cơ đưa ra quyết định dựa trên cảm xúc thay vì kế hoạch đầu tư", ông Thoại đánh giá.

Tương tự, bà Bùi Trúc Quỳnh, Trưởng phòng Tư vấn Tài chính VPS, cho rằng, ngay cả khi đã xây dựng kế hoạch, nhà đầu tư vẫn có thể để cảm xúc lấn át lý trí. Việc liên tục theo dõi bảng điện dễ tạo ra tâm lý hưng phấn, dẫn đến mua đuổi khi cổ phiếu tăng nóng.

Ngược lại, khi thị trường giảm sâu, nỗi sợ thua lỗ có thể khiến nhà đầu tư bán vội vàng, bất chấp những đánh giá ban đầu về triển vọng doanh nghiệp.

Đáng chú ý, một biểu hiện khá phổ biến là nhà đầu tư thường nhanh chóng chốt lời khi cổ phiếu tăng giá, nhưng lại kiên nhẫn nắm giữ những khoản đầu tư đang thua lỗ.

Thắng bản thân trước khi thắng thị trường

Dù thị trường vừa trải qua giai đoạn biến động mạnh, ông Võ Diệp Thành Thoại cho rằng bức tranh hiện tại không hoàn toàn tiêu cực.

Theo chuyên gia DNSE, việc một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động có thể hỗ trợ dòng tiền tìm kiếm cơ hội ở các kênh đầu tư khác. Tuy nhiên, sự dịch chuyển sang chứng khoán còn phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro và kỳ vọng lợi nhuận của nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, mặt bằng định giá của nhiều doanh nghiệp vẫn tương đối hấp dẫn. Theo dữ liệu VNDIRECT công bố đầu tháng 10, P/E trượt 12 tháng của VN-Index khoảng 12 lần, trong khi loại trừ nhóm cổ phiếu Vingroup, chỉ số này còn khoảng 10 lần.

Điều đó cho thấy cơ hội có thể nằm ở những doanh nghiệp riêng lẻ, thay vì chỉ nhìn vào mức điểm của VN-Index.

Dù vậy, ông Thoại lưu ý việc khối ngoại mua ròng trở lại trong hai phiên 21–22/10 mới chỉ là tín hiệu ban đầu sau giai đoạn bán ròng kéo dài, chưa đủ để khẳng định dòng vốn ngoại đã đảo chiều bền vững.

Theo chuyên gia, điều nhà đầu tư cần quan tâm không phải cố gắng dự đoán chính xác thị trường sẽ tăng hay giảm, mà là chuẩn bị cách ứng xử trong từng kịch bản.

Chẳng hạn, khi chỉ số phục hồi mạnh nhưng dòng tiền chưa lan tỏa rộng, việc vội vàng mua đuổi có thể khiến nhà đầu tư chịu rủi ro nếu thị trường đảo chiều. Ngược lại, những nhịp hồi phục có thể là cơ hội nhìn lại danh mục, đánh giá triển vọng doanh nghiệp và điều chỉnh tỷ trọng những khoản đầu tư không còn phù hợp.

Ông Thoại cũng khuyến nghị hạn chế sử dụng đòn bẩy quá lớn trong giai đoạn thị trường biến động mạnh. Việc giải ngân nên được chia thành nhiều bước, gắn với những kịch bản và nguyên tắc quản trị rủi ro đã xác định trước.

Vị chuyên gia cũng gợi ý nhà đầu tư viết nhật ký đầu tư, ghi lại lý do mua, bán và trạng thái cảm xúc tại thời điểm đưa ra quyết định. Khi nhìn lại sau một thời gian, nhà đầu tư có thể nhận ra mình thường bị lòng tham hay nỗi sợ chi phối trong hoàn cảnh nào.

Ở góc nhìn dài hạn, bà Lê Thị Lệ Hằng, Tổng Giám đốc Saigon Capital, cho rằng việc đầu tư nên bắt đầu từ mục tiêu tài chính thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận kỳ vọng.

Một khoản tích lũy để mua nhà, chuẩn bị học phí cho con hay phục vụ kế hoạch nghỉ hưu sẽ có yêu cầu khác nhau về thời gian và mức độ chấp nhận rủi ro. Khi hiểu rõ khoản tiền đang phục vụ mục đích gì, nhà đầu tư sẽ có thêm cơ sở để quyết định khi nào nên nắm giữ và khi nào cần điều chỉnh danh mục.

Sau cùng, thị trường chứng khoán không chỉ thử thách khả năng lựa chọn doanh nghiệp mà còn thử thách sự kiên nhẫn và cách mỗi người đối diện với quyết định của chính mình.

Sẽ luôn có cổ phiếu tăng giá sau khi bán, cũng như có những khoản đầu tư giảm ngay sau khi mua. Không ai có thể đúng trong mọi giao dịch.

"Nhà đầu tư cần thắng bản thân trước khi thắng thị trường. Thị trường lúc nào cũng có cơ hội, nhưng tài khoản chỉ có một. Không cần đoán đúng mọi con sóng, chỉ cần có kế hoạch, giữ kỷ luật và ở lại thị trường đủ lâu", chuyên gia Võ Diệp Thành Thoại đúc kết.

Doanh nghiệp xuất khẩu trước yêu cầu kép về nguồn điện

https://nhadautu.vn/doanh-nghiep-xuat-khau-truoc-yeu-cau-kep-ve-nguon-dien-d108525.htmlVŨ ĐẶNG
08:00 28/10/2026

Bảo đảm đủ điện tiếp tục là yêu cầu quan trọng khi sản xuất, xuất khẩu tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, một bộ phận doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế còn phải đáp ứng các yêu cầu về sử dụng điện tái tạo và phát thải. Dự thảo sửa đổi Luật Điện lực đang được Quốc hội xem xét hướng tới hoàn thiện các cơ chế đáp ứng những nhu cầu này.

Ngày 20/10, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Dự thảo tập trung tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư nguồn điện, lưới điện, đồng thời hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp và khung pháp lý cho chứng chỉ năng lượng tái tạo.

Những nội dung này được xem xét trong bối cảnh yêu cầu sử dụng điện của doanh nghiệp đang thay đổi. Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) nhận định nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, không chỉ cần điện ổn định với giá phù hợp mà còn phải chứng minh nguồn gốc năng lượng, tỷ lệ sử dụng điện tái tạo và mức phát thải trong quá trình sản xuất.

Điều đó đặt ra hai yêu cầu song hành đối với ngành điện: bảo đảm nguồn cung đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận, chứng minh việc sử dụng điện sạch nhằm đáp ứng yêu cầu từ phía khách hàng.

Đủ điện cho sản xuất vẫn là yêu cầu trước mắt

Trong 9 tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh. Theo Cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 434,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3%, riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9%.

Sự mở rộng của hoạt động sản xuất diễn ra cùng với mức tăng đáng kể của nhu cầu tiêu thụ điện.

Theo Bộ Công Thương, điện thương phẩm toàn quốc trong 9 tháng đạt 237,19 tỷ kWh, tăng 9,66% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng sử dụng 122,18 tỷ kWh, tăng 8,32%, chiếm khoảng 51,5% tổng sản lượng điện bán ra.

Với tỷ trọng chiếm hơn một nửa, công nghiệp – xây dựng tiếp tục là nhóm khách hàng sử dụng điện lớn nhất. Đối với các nhà máy, nguồn điện ổn định là điều kiện duy trì dây chuyền sản xuất, vận hành thiết bị và bảo đảm tiến độ giao hàng.

Bộ Công Thương đánh giá hệ thống điện trong 9 tháng đã vận hành an toàn, ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống. Dù vậy, việc duy trì khả năng cung ứng trong dài hạn vẫn đòi hỏi phát triển đồng bộ nguồn phát, lưới truyền tải và năng lực điều độ.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 9 tháng đạt 265,79 tỷ kWh. Nhiệt điện than đóng góp 132,63 tỷ kWh, chiếm 49,9%; thủy điện đạt 68,48 tỷ kWh, chiếm 25,8%. Nhóm năng lượng tái tạo theo phân loại của EVN đạt 33,6 tỷ kWh, chiếm 12,6%, trong khi điện khí đóng góp 20,48 tỷ kWh và điện nhập khẩu đạt 10,3 tỷ kWh.

So với cùng kỳ năm trước, sản lượng thủy điện giảm gần 9%, trong bối cảnh điều kiện thủy văn chịu ảnh hưởng từ hiện tượng El Nino.

Ngược lại, tỷ trọng điện than và điện khí trong tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu tăng từ 53,9% lên 57,6% so với cùng kỳ, dù các nguồn năng lượng tái tạo khác cũng tăng trưởng. Sự dịch chuyển cơ cấu nguồn phát theo hướng tăng tỷ trọng nhiên liệu hóa thạch tạo thêm áp lực về phát thải khí nhà kính, trong bối cảnh các yêu cầu môi trường ngày càng gắn với hoạt động sản xuất và xuất khẩu.

Biểu đồ sản lượng các nguồn điện. Nguồn: EVN

Tại Diễn đàn "Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới" tổ chức ngày 27/10 ở Hà Nội, TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, nhấn mạnh cần đặt phát triển năng lượng trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo ông Thiện, phát triển năng lượng sạch không chỉ góp phần đa dạng hóa nguồn cung mà còn giúp doanh nghiệp thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao. Điều này cho thấy bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch sang các nguồn điện sạch là những yêu cầu cần được giải quyết đồng thời.

Điện sạch: Tấm vé ưu tiên trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Yêu cầu sử dụng điện tái tạo đã xuất hiện trong chính sách chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế, thay vì chỉ là một xu hướng được dự báo trong tương lai.

Theo Báo cáo tiến độ môi trường năm 2026, Apple đã đưa yêu cầu sử dụng 100% điện tái tạo vào Bộ quy tắc ứng xử dành cho nhà cung cấp (Apple Supplier Code of Conduct). Theo đó, toàn bộ chuỗi cung ứng sản xuất trực tiếp phải sử dụng 100% điện tái tạo cho hoạt động sản xuất phục vụ Apple trước năm 2030.

Theo tập đoàn công nghệ Mỹ, điện năng sử dụng tại các nhà máy cung ứng là nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trong chuỗi cung ứng của hãng. Vì vậy, chuyển sang điện tái tạo là một phần quan trọng trong mục tiêu trung hòa carbon năm 2030.

Những yêu cầu môi trường cũng đang được xem xét ở cấp độ chính sách thương mại. Tại Mỹ, dự luật Clean Competition Act được trình Quốc hội tháng 12/2025 đề xuất cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới dựa trên cường độ phát thải của hàng hóa.

Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) đã bước vào giai đoạn chính thức áp dụng Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM) từ ngày 1/1/2026, song việc mua và nộp chứng chỉ CBAM được thực hiện theo lộ trình từ năm 2027. Các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh trong sáu lĩnh vực gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro.

Theo cơ chế này, nhà nhập khẩu EU phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến lượng phát thải gắn với hàng hóa thuộc diện điều chỉnh. Chi phí carbon có thể ảnh hưởng đến giá mua và khả năng cạnh tranh của nhà sản xuất nước ngoài. Vì vậy, kiểm soát phát thải đang trở thành một vấn đề kinh tế, bên cạnh trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, nhu cầu tiếp cận điện tái tạo đã chuyển thành những giao dịch thực tế.

Ngày 1/6/2026, Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) công bố triển khai hợp đồng mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia, trở thành khách hàng doanh nghiệp đầu tiên thực hiện giao dịch theo cơ chế DPPA.

Nguồn điện trong hợp đồng đến từ Nhà máy Điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 tại Tây Ninh, với sản lượng dự kiến khoảng 70 triệu kWh mỗi năm.

DPPA đã được Chính phủ quy định tại Nghị định 57/2025/NĐ-CP và tiếp tục sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 243/2026/NĐ-CP. Quy định hiện hành đã mở rộng khả năng tham gia của các đơn vị bán lẻ điện tại những khu, cụm đủ điều kiện, tạo thêm phương thức tổ chức mua điện tái tạo cho khách hàng công nghiệp.

Trường hợp Samsung cho thấy nhu cầu sử dụng điện tái tạo đã chuyển thành giao dịch cụ thể, đồng thời đặt ra vấn đề về khả năng mở rộng cơ chế DPPA để nhiều doanh nghiệp sản xuất có thể tiếp cận nguồn điện sạch.

Dù vậy, khi giao dịch thông qua lưới điện quốc gia, các bên còn phải tính đến chi phí sử dụng lưới, điều độ, dự phòng và các dịch vụ hệ thống. Cách xác định và phân bổ những khoản chi phí này có ý nghĩa trực tiếp đối với tổng chi phí mua điện của doanh nghiệp cũng như quyền lợi của những khách hàng không tham gia DPPA.

Đây là một trong những nội dung được Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị làm rõ trong Báo cáo thẩm tra dự thảo sửa đổi Luật Điện lực ngày 20/10. Theo cơ quan thẩm tra, các bên tham gia DPPA cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chi phí, tránh chuyển dịch bất hợp lý sang khách hàng khác.

Bên cạnh khả năng mua điện tái tạo, doanh nghiệp còn cần công cụ xác nhận thuộc tính môi trường của lượng điện sử dụng. Chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC) phục vụ nhu cầu này, nhưng việc giao dịch và sử dụng chứng chỉ đòi hỏi cơ chế đăng ký, xác minh và truy xuất đáng tin cậy.

Dự thảo sửa đổi Luật Điện lực hướng tới hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường REC. Cơ quan thẩm tra đề nghị quy định rõ quyền sở hữu, giao dịch và việc hủy chứng chỉ sau khi sử dụng, nhằm tránh ghi nhận trùng thuộc tính môi trường.

Như vậy, những vấn đề đang được xem xét không chỉ là mở rộng quyền mua điện tái tạo, mà còn liên quan đến tổng chi phí giao dịch và khả năng chứng minh việc sử dụng điện sạch. Đây là những điều kiện có ý nghĩa đối với doanh nghiệp muốn đáp ứng các cam kết môi trường với đối tác quốc tế.

Mới đây, Reuters nhận định cuộc chiến thuế quan Mỹ – Trung đã góp phần thúc đẩy làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam. Sự mở rộng sản xuất phục vụ xuất khẩu đi cùng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng lớn. Tuy nhiên, Reuters cảnh báo tỷ trọng điện than cao trong hệ thống điện Việt Nam có thể trở thành thách thức về phát thải khi các doanh nghiệp mua hàng quốc tế ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon trong chuỗi cung ứng.

Đối với doanh nghiệp trong nước muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế, khả năng bảo đảm nguồn điện ổn định, kiểm soát phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của đối tác có thể ngày càng quan trọng. Đây có thể trở thành một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong các chuỗi cung ứng có tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.