Đại biểu Quốc hội: Bỏ giấy phép kinh doanh rượu như ‘thay ổ khóa bằng lời hứa’

https://cafef.vn/dai-bieu-quoc-hoi-bo-giay-phep-kinh-doanh-ruou-nhu-thay-o-khoa-bang-loi-hua-188261102103353609.chnTheo Anh Văn/ VTC News | 02-11-2026 – 11:07 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Góp ý vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư tại phiên thảo luận sáng 2/11, đại biểu Quốc hội Phạm Trọng Nhân (đoàn TP.HCM) bày tỏ sự quan tâm về quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rượu.

Đại biểu Quốc hội Phạm Trọng Nhân.

Theo đại biểu, luật thông qua hồi tháng 8 quy định từ ngày 1/3/2027, kinh doanh rượu không còn được xếp là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện riêng mà được quản lý như thực phẩm.

Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 vẫn quy định việc cấp phép sản xuất rượu công nghiệp và mua bán rượu từ 5,5 độ trở lên. Trong khi đó, Luật Đầu tư lại có quy định về nguyên tắc ưu tiên áp dụng khi có sự khác nhau giữa các luật.

“ Tôi ủng hộ cắt thủ tục, nhưng nếu rượu không thuộc tiêu chí sức khỏe cộng đồng thì mặt hàng này thuộc loại nào? Và khi các vụ ngộ độc methanol vẫn xảy ra, chúng ta lấy gì truy nguồn gốc một chai rượu? ”, đại biểu Nhân nêu vấn đề.

Ví von việc bỏ giấy phép mà không có hệ thống truy xuất là “thay ổ khóa bằng lời hứa”, ông Phạm Trọng Nhân đề nghị đưa kinh doanh rượu trở lại ngành nghề kinh doanh có điều kiện, kèm cấp phép điện tử và hậu kiểm theo rủi ro.

Tinh thần được đại biểu đoàn TP.HCM nhấn mạnh là giữ điều kiện, đổi công cụ, đơn giản hóa thủ tục.

Liên quan đến quản lý thuốc lá mới, đại biểu Phạm Trọng Nhân cho rằng dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và Luật Đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ, cần được rà soát để bảo đảm tính thống nhất. Theo đại biểu, luật chuyên ngành là “cánh cửa trước”, còn những điều khoản trong Luật Đầu tư chính là “cánh cửa sau”.

“ Luật Đầu tư quy định nhà đầu tư được kinh doanh những ngành, nghề mà luật này không cấm, nên cửa trước đóng mà cửa sau còn mở thì hàng vẫn tuồn vào ”, ông Nhân nhận định.

Đại biểu dẫn chứng, dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá quy định nghiêm cấm sản xuất, kinh doanh túi ngậm nicotine và shisha. Tuy nhiên, trong danh mục cấm của Luật Đầu tư chỉ ghi thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, còn túi ngậm, shisha chưa vào danh mục cấm.

“ Một luật cấm, còn một luật im lặng – đây là kẽ hở để doanh nghiệp khiếu kiện và cơ quan thực thi lúng túng ”, đại biểu Nhân cảnh báo.

Điều vị đại biểu lo ngại hơn là các sản phẩm nicotine thế hệ mới khác chưa có tên. Tại phiên thảo luận tổ về Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, ông Nhân đề nghị giữ danh mục cấm ngay trong luật, không giao Chính phủ.

Trong khi đó, dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá giao Chính phủ xác định “sản phẩm khác” là thuốc lá và chỉ cấm sử dụng, chưa cấm kinh doanh thành phẩm. Còn Luật Đầu tư chỉ giao cho Chính phủ rà soát rồi trình Quốc hội.

Điều này làm nảy sinh một nghịch lý là khi có một sản phẩm mới mà Chính phủ xác định là thuốc lá, sẽ rơi vào quy định thành “ngành kinh doanh hợp pháp có điều kiện”, rồi phải chờ một kỳ sửa luật mới cấm được.

Để khắc phục, đại biểu Phạm Trọng Nhân đề nghị thiết kế cấm theo nhóm sản phẩm, có loại trừ rõ ràng, thay vì theo đuổi danh sách từng tên gọi.

Theo đó, sửa luật theo hướng “cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, túi ngậm nicotine, shisha và các sản phẩm thuốc lá khác, trừ thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào; loại trừ các thuốc thuộc phạm vi pháp luật về dược và mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm”.

“ Khi đó lệnh cấm nằm trong luật, Chính phủ chỉ công bố tên cụ thể theo tiêu chí luật định, không được mở rộng lệnh cấm ”, ông Nhân nhấn mạnh.

PMI ngành sản xuất của Việt Nam tăng nhẹ trong tháng 10, nhưng doanh nghiệp đang gặp khó kh ăn hơn, chuyên gia quốc tế chỉ ra nguyên nhân

https://cafef.vn/pmi-nganh-san-xuat-cua-viet-nam-tang-nhe-trong-thang-10-nhung-doanh-nghiep-dang-gap-kho-khan-hon-chuyen-gia-quoc-te-chi-ra-nguyen-nhan-188261102092249224.chnHoàng Nguyễn | 02-11-2026 – 09:22 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Ngành sản xuất Việt Nam ghi nhận tháng cải thiện thứ 16 liên tiếp trong tháng 10/2026. Tuy nhiên, tăng trưởng sản lượng và đơn hàng mới cùng chậm lại, trong khi chi phí đầu vào tăng nhanh nhất kể từ tháng 6.

Theo báo cáo của S&P Global, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam đạt 52,3 điểm trong tháng 10/2026, tăng từ mức 51,9 điểm của tháng 9. Kết quả trên ngưỡng 50 điểm cho thấy điều kiện kinh doanh tiếp tục cải thiện vào đầu quý IV. Chuỗi cải thiện của ngành sản xuất đã kéo dài 16 tháng liên tiếp.

Dù chỉ số toàn phần tăng, các doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều trở ngại trong hoạt động. Đà tăng sản lượng và đơn hàng mới suy yếu, việc làm tiếp tục giảm. Giá dầu, nhiên liệu và vận tải tăng đồng thời gây áp lực lên chi phí và tiến độ cung ứng nguyên vật liệu.

Đơn hàng tăng tháng thứ sáu, sản lượng gặp trở ngại từ nguồn cung

Tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng tháng thứ sáu liên tiếp trong tháng 10, phản ánh nhu cầu khách hàng tiếp tục cải thiện. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã xuống mức thấp nhất trong chuỗi tăng này. Đơn hàng xuất khẩu mới tiếp tục giảm, qua đó hạn chế mức tăng của tổng đơn hàng.

Nhu cầu gia tăng giúp các nhà sản xuất tiếp tục mở rộng sản lượng. Dù vậy, tốc độ tăng sản lượng cũng giảm xuống mức thấp nhất trong sáu tháng. Một số doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết khó khăn trong việc mua nguyên vật liệu đã ảnh hưởng đến khả năng tăng sản xuất.

Áp lực nguồn cung thể hiện rõ qua thời gian giao hàng của nhà cung cấp. Mức độ kéo dài thời gian giao hàng trong tháng 10 lớn nhất kể từ tháng 4. Theo các doanh nghiệp, giá nhiên liệu tăng và thời tiết xấu là những nguyên nhân gây chậm trễ trong vận tải.

Các nhà sản xuất vẫn tăng mua hàng hóa đầu vào để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tuy nhiên, khó khăn trong nhập khẩu và việc đưa ngay nguyên liệu vào sử dụng khiến tồn kho hàng mua giảm mạnh. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp tiếp tục gặp khó trong việc bổ sung nguồn nguyên liệu dự trữ.

PMI ngành sản xuất của Việt Nam tăng nhẹ trong tháng 10, nhưng doanh nghiệp đang gặp khó khăn hơn, chuyên gia quốc tế chỉ ra nguyên nhân? - Ảnh 1.

Chi phí đầu vào tăng nhanh nhất kể từ tháng 6

Giá dầu tăng kéo theo chi phí nhiên liệu và vận tải đi lên, trở thành những yếu tố thúc đẩy giá đầu vào trong tháng 10. Tốc độ tăng chi phí nhanh hơn tháng thứ hai liên tiếp và đạt mức cao nhất kể từ tháng 6. Dù vậy, mức tăng vẫn thấp hơn đáng kể so với đợt tăng vọt vào thời điểm bùng phát chiến tranh ở Trung Đông, theo báo cáo.

Trước sức ép chi phí, các doanh nghiệp đã tăng giá bán đầu ra với tốc độ nhanh hơn. Trong tháng 9, giá bán mới chỉ tăng nhẹ. Việc điều chỉnh giá cho thấy các nhà sản xuất đang tìm cách bù đắp một phần chi phí phát sinh.

Theo ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn hơn trong việc duy trì tăng trưởng. Đơn hàng mới tiếp tục hỗ trợ sản lượng, nhưng tốc độ tăng của cả hai chỉ tiêu đều chậm lại so với tháng trước.

Ông nhận định các trở ngại thường xuất phát từ môi trường quốc tế. Giá dầu tăng đẩy chi phí nhiên liệu và vận tải đi lên, trong khi doanh nghiệp gặp khó ở cả khâu nhập khẩu và xuất khẩu. Để tiếp tục tăng trưởng trong những tháng tới, các nhà sản xuất cần một môi trường hoạt động thuận lợi hơn.

Việc làm giảm, kỳ vọng kinh doanh lên cao nhất tám tháng

Việc làm trong ngành sản xuất giảm tháng thứ ba liên tiếp vào tháng 10. Mức giảm nhìn chung nhẹ, với một số doanh nghiệp ghi nhận tình trạng nhân viên nghỉ việc. Dù lực lượng lao động thu hẹp, lượng công việc tồn đọng vẫn giảm nhẹ nhờ đơn hàng mới tăng chậm hơn và khả năng xử lý công việc hiệu quả hơn.

Tồn kho thành phẩm cũng tiếp tục giảm khi doanh nghiệp chủ động bán hàng để hạ lượng hàng lưu kho. Mức giảm vẫn đáng kể, song đã thấp hơn so với tháng 9. Cùng với sự suy giảm của tồn kho nguyên liệu, diễn biến này cho thấy lượng hàng dự trữ ở cả trước và sau sản xuất đều thu hẹp trong kỳ khảo sát.

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, kỳ vọng về sản lượng trong 12 tháng tới vẫn cải thiện. Tâm lý kinh doanh đạt mức cao nhất trong tám tháng, được hỗ trợ bởi hy vọng nguồn nguyên liệu thô sẽ sẵn có hơn và điều kiện thị trường tiếp tục khởi sắc. Tuy nhiên, mức độ lạc quan vẫn thấp hơn thời điểm trước chiến tranh ở Trung Đông.

Khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam được thực hiện với khoảng 400 nhà sản xuất. Dữ liệu tháng 10 được thu thập từ ngày 12 đến ngày 22/10/2026, phản ánh thay đổi trong hoạt động của doanh nghiệp so với tháng trước.

Chủ tịch tỉnh Gia Lai yêu cầu quy hoạch lại không gian đô thị Quy Nhơn

https://cafef.vn/chu-tich-tinh-gia-lai-yeu-cau-quy-hoach-lai-khong-gian-do-thi-quy-nhon-188261102073238474.chnTheo Đình Sang | 02-11-2026 – 08:30 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Ngày 1/11, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn cùng lãnh đạo các sở, ngành đã đi kiểm tra, khảo sát thực tế tại nhiều khu vực trên địa bàn Quy Nhơn nhằm nghiên cứu, đề xuất phương án chỉnh trang, tổ chức lại không gian và khai thác hiệu quả quỹ đất đô thị.
Chủ tịch tỉnh Gia Lai yêu cầu quy hoạch lại không gian đô thị Quy Nhơn- Ảnh 1.

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn kiểm tra một dự án ở phường Quy Nhơn. Ảnh: ĐS.

Trong chương trình khảo sát, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn đã kiểm tra nhiều vị trí có ý nghĩa đối với định hướng phát triển không gian đô thị Quy Nhơn như khu vực Núi Bà Hỏa (điểm bắt đầu từ đường Ngô Mây nối dài); phía Bắc Nhà máy xử lý nước thải Nhơn Bình và tuyến đường Điện Biên Phủ nối dài; khu A1 thuộc Khu đô thị – Thương mại Bắc sông Hà Thanh; khu vực phía Nam Cảng Quy Nhơn, Mũi Tấn, công viên đường Xuân Diệu; khu đất Tỉnh đội tại ngã ba Nguyễn Thái Học – Ngô Gia Tự và Bến xe khách trung tâm Quy Nhơn.

Tại các điểm khảo sát, ông Phạm Anh Tuấn đã nghe các đơn vị báo cáo về hiện trạng sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan, những bất cập trong quá trình khai thác và định hướng sử dụng các khu vực trong thời gian tới.

Qua kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn yêu cầu các sở, ngành, địa phương khẩn trương rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng từng khu vực; từ đó đề xuất phương án chỉnh trang, tổ chức lại không gian đô thị và khai thác hiệu quả quỹ đất. Việc nghiên cứu phải đặt trong định hướng phát triển chung của tỉnh, không chỉ giải quyết những bất cập trước mắt mà còn tính đến hiệu quả sử dụng lâu dài.

Đặc biệt, theo ông Phạm Anh Tuấn, chỉnh trang đô thị phải được thực hiện trên cơ sở tổng thể, bảo đảm kết nối đồng bộ về giao thông, hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc, cảnh quan và không gian công cộng. Các khu vực cần được nghiên cứu trong mối liên kết chung, tránh tình trạng đầu tư manh mún, cục bộ, thiếu tính kết nối, làm ảnh hưởng đến diện mạo đô thị.

Đối với những khu vực có lợi thế về vị trí, cảnh quan và khả năng kết nối với không gian đô thị hiện hữu, ông Phạm Anh Tuấn yêu cầu nghiên cứu phương án khai thác phù hợp, phát huy tối đa giá trị đất đai, hình thành những điểm nhấn kiến trúc, cảnh quan mới cho Quy Nhơn. Trong đó, cần hài hòa giữa yêu cầu phát triển đô thị với việc mở rộng không gian công cộng, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cũng yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động phối hợp, rà soát những khó khăn, vướng mắc thuộc lĩnh vực phụ trách; tập trung xây dựng các phương án cụ thể, có tính khả thi, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.

Giảm giá điện, giảm thuế xăng dầu góp phần kiềm chế áp lực lạm phát cuối năm

https://cafef.vn/giam-gia-dien-giam-thue-xang-dau-gop-phan-kiem-che-ap-luc-lam-phat-cuoi-nam-188261101141708006.chnTheo Anh Thơ | 01-11-2026 – 16:30 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Đánh giá về tác động của việc giảm giá điện 2% và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu về mức 0% từ ngày 1/11, chuyên gia Nguyễn Tiến Thỏa cho rằng đây là những giải pháp có ý nghĩa tích cực đối với hoạt động kinh tế và công tác kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm.

Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam: Việc giảm giá điện 2% và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu về mức 0% từ ngày 1/11 là những giải pháp có ý nghĩa tích cực đối với hoạt động kinh tế và công tác kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm – Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng

Từ ngày 1/11/2026, giá bán lẻ điện bình quân giảm 2%, trong khi giá xăng dầu cũng giảm mạnh nhờ chính sách đưa đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%.

Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam, việc Chính phủ quyết định giảm giá điện 2% và Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nghiêm túc triển khai thực hiện có tác động lan tỏa sâu rộng đến các hoạt động của nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất và giảm chi phí sinh hoạt cho người dân.

Trước hết, việc giảm giá điện có tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Theo tính toán, mức giảm giá điện 2% có thể trực tiếp và gián tiếp làm giảm chỉ số CPI.

Đối với hoạt động sản xuất, việc giảm giá điện giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành sử dụng nhiều điện như thép, than, xi măng, dệt may, tiết giảm chi phí đầu vào. Cụ thể, theo tính toán, giá thành sản xuất của ngành thép có thể giảm khoảng 0,12%; xi măng giảm khoảng 0,3% và dệt may giảm khoảng 0,2%. Đây là tác động tích cực, tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, qua đó có thêm dư địa giảm giá bán ra thị trường.

Bên cạnh đó, việc giảm giá điện cũng giúp người tiêu dùng tiết kiệm một phần chi tiêu sinh hoạt. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ tiền điện đối với hộ nghèo và hộ gia đình chính sách tiếp tục được duy trì.

Có thể thấy, việc điều chỉnh giảm giá điện mang lại lợi ích tổng hợp, góp phần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Đánh giá về tác động của việc giảm giá điện 2% và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu về mức 0% từ ngày 1/11, ông Nguyễn Tiến Thỏa cho rằng đây là những giải pháp có ý nghĩa tích cực đối với hoạt động kinh tế và công tác kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm.

Theo ông, trong 9 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng đã ở mức 4,52%, cao hơn một chút so với mục tiêu đề ra. Từ nay đến cuối năm, các yếu tố gây áp lực tăng giá và các yếu tố kiềm chế giá tiếp tục đan xen, đặt ra không ít thách thức đối với công tác điều hành.

Về yếu tố trong nước, nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội thường tăng cao vào những tháng cuối năm. Cùng với đó, việc đẩy mạnh giải ngân vốn và tăng trưởng tín dụng cũng có thể tạo thêm áp lực lên mặt bằng giá.

Đối với các yếu tố bên ngoài, diễn biến khó lường của giá năng lượng, xăng dầu trên thị trường thế giới, cùng với biến động tỷ giá khi đồng USD tăng giá, có thể tác động đến lạm phát trong nước.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, bên cạnh những yếu tố gây áp lực tăng giá, vẫn có các yếu tố góp phần kiềm chế lạm phát, trong đó đáng chú ý là những giải pháp điều hành mà Chính phủ đang triển khai. Cụ thể, việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu về 0% có thể giúp giá xăng dầu giảm khoảng 1.500-1.700 đồng/lít, qua đó tác động tích cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và kiểm soát lạm phát.

Cùng với đó, việc giảm giá điện 2% cũng góp phần làm giảm CPI ở vòng tác động trực tiếp.

Đối với những mặt hàng khác thuộc diện Nhà nước định giá, ông Nguyễn Tiến Thỏa cho rằng cần cố gắng giữ ổn định giá trong những tháng cuối năm, dù vẫn có áp lực gia tăng chi phí đầu vào.

Theo ông, trong bối cảnh áp lực lạm phát còn hiện hữu, nếu kiểm soát được chỉ số giá tiêu dùng trong khoảng 4,5-5% thì có thể coi là một kết quả thành công của công tác điều hành giá và ổn định kinh tế vĩ mô.

PGS.TS. Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam: Việc giảm giá điện và xăng dầu có ý nghĩa tích cực

Giảm giá điện, xăng dầu thể hiện sự chia sẻ với người dân và doanh nghiệp

Đồng quan điểm, PGS.TS. Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, việc giảm giá điện và xăng dầu có ý nghĩa tích cực trong bối cảnh nền kinh tế đang phải thực hiện đồng thời hai yêu cầu là thúc đẩy tăng trưởng cao và kiểm soát lạm phát. Khi dư địa kiểm soát lạm phát những tháng cuối năm còn hạn hẹp, việc điều hành tốt giá năng lượng sẽ góp phần giảm sức ép lên mặt bằng giá chung, tạo thêm điều kiện thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã đề ra.

Theo ông Ngô Trí Long, điện và xăng dầu là những đầu vào quan trọng của nền kinh tế, có tác động rộng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống người dân. Vì vậy, việc giảm giá hai mặt hàng này sẽ mang lại những tác động tích cực trên nhiều phương diện.

Trước hết, đối với người dân, giảm giá điện và xăng dầu giúp tiết kiệm một phần chi phí sinh hoạt, qua đó có thêm điều kiện chi tiêu cho các nhu cầu khác. Khi sức mua được cải thiện sẽ góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Riêng đối với việc giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân, ông Long đánh giá đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực, nhất là trong bối cảnh giá cả còn chịu nhiều sức ép, góp phần ổn định đời sống và giảm bớt gánh nặng chi tiêu cho các hộ gia đình.

Đối với doanh nghiệp, việc giảm giá điện và xăng dầu sẽ góp phần tiết giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh. Tác động này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn.

PGS.TS. Ngô Trí Long nhấn mạnh, giảm giá điện cùng với các chính sách hỗ trợ giảm giá xăng dầu là những giải pháp tích cực nhằm thực hiện đồng thời mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Việc giảm chi phí năng lượng không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp và người tiêu dùng mà còn góp phần giảm áp lực tăng giá đối với hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế.

Theo chuyên gia, ý nghĩa của các chính sách này không chỉ nằm ở tác động kinh tế mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội, thể hiện sự chia sẻ thiết thực của Nhà nước với người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh còn nhiều khó khăn.

Xem xét sửa đổi bảng lương, phụ cấp chức vụ đối với lãnh đạo Nhà nước

https://cafef.vn/xem-xet-sua-doi-bang-luong-phu-cap-chuc-vu-doi-voi-lanh-dao-nha-nuoc-188261101152126004.chnTheo Luân Dũng | 01-11-2026 – 15:22 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên thứ 8 để xem xét, thông qua nhiều dự thảo nghị quyết quan trọng, trong đó bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của nhà nước; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát…

Văn phòng Quốc hội thông tin, Phiên họp thứ 8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến diễn ra trong 4 đợt. Trong đó, đợt 1 diễn ra vào chiều ngày 2/11; đợt 2 vào các ngày 10, 11 và 13/11; đợt 3 vào ngày 17 và 18/11; và đợt 4 là sáng 25/11, tại phòng họp Tân Trào, Nhà Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu khai mạc và cùng các Phó Chủ tịch Quốc hội thay phiên điều hành nội dung Phiên họp.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý 35 dự thảo, gồm: Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư; Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Luật sư (sửa đổi).

Các dự án luật khác được xem xét gồm: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); Luật Nhà ở (sửa đổi); Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật Đấu thầu (sửa đổi); Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Các dự án Luật An ninh dữ liệu; Luật Định danh và xác thực điện tử; Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) cũng được cho ý kiến tại phiên họp này.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về các dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế…

Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, thông qua các dự thảo: Nghị quyết quy định việc các cơ quan thanh tra được trích một phần từ các khoản tiền thu hồi, phát hiện qua thanh tra sau khi nộp vào ngân sách nhà nước để chi cho hoạt động và nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra.

Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của nhà nước; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát…cùng nhiều nội dung quan trọng khác cũng được xem xét, thông qua.

TP. Đồng Nai phát triển logistics số gắn với sân bay, cảng biển

https://cafef.vn/tp-dong-nai-phat-trien-logistics-so-gan-voi-san-bay-cang-bien-188261102100334274.chnTheo Thu Anh | 02-11-2026 – 11:30 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
TP. Đồng Nai định hướng phát triển hệ sinh thái logistics số tích hợp cảng hàng không, cảng biển và khu công nghiệp, gắn kết hạ tầng giao thông với hạ tầng dữ liệu, lấy nhu cầu thực tế của doanh nghiệp làm cơ sở triển khai các giải pháp chuyển đổi số.

Trong khuôn khổ Chương trình DIGIFEST Đồng Nai 2026 đã diễn ra Hội thảo chuyên đề “Phát triển hệ sinh thái các đô thị thông minh logistics, cảng hàng không, cảng biển”

Sáng 1/11, trong khuôn khổ Chương trình DIGIFEST Đồng Nai 2026, Hội thảo chuyên đề "Phát triển hệ sinh thái các đô thị thông minh logistics, cảng hàng không, cảng biển" diễn ra với sự tham dự của Phó Chủ tịch UBND TP. Đồng Nai Lê Trường Sơn; Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Hữu Hạnh cùng đại diện các sở, ban, ngành và doanh nghiệp.

Kết nối hạ tầng, hình thành hệ sinh thái logistics số

Phát biểu tại hội thảo, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP. Đồng Nai Dương Văn Hiếu cho biết, phát triển hệ sinh thái logistics số tích hợp cảng hàng không, cảng biển và khu công nghiệp không chỉ là ứng dụng công nghệ vào vận tải, kho bãi mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tổ chức không gian phát triển, đầu tư kết cấu hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Đồng Nai.

Hội thảo tập trung trao đổi 4 nhóm vấn đề: Tích hợp quy hoạch và kết nối hạ tầng logistics; xây dựng mô hình kết nối, chia sẻ dữ liệu; ứng dụng công nghệ số gắn với hiệu quả thực tế; hoàn thiện cơ chế phối hợp và lộ trình triển khai.

Ông Dương Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP. Đồng Nai phát biểu tại Hội thảo

Theo ông Dương Văn Hiếu, Cảng hàng không quốc tế Long Thành cùng hệ thống cảng biển Phước An, Gò Dầu – Phước Thái, các khu công nghiệp và mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt liên vùng tạo điều kiện để Đồng Nai phát triển dịch vụ logistics chất lượng cao, vận tải đa phương thức, thương mại quốc tế và các hoạt động kinh tế gắn với hệ sinh thái hàng không.

Trong bối cảnh kinh tế số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây và các nền tảng số đang mở ra khả năng theo dõi, dự báo, điều phối và tối ưu hóa hoạt động logistics. Vì vậy, bên cạnh phát triển hạ tầng vật lý, thành phố cần nghiên cứu phương thức kết nối, vận hành thông minh, phù hợp với quy mô và đặc điểm của hệ thống kinh tế đang hình thành.

Tại hội thảo, các chuyên gia, doanh nghiệp trình bày tham luận về quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, kết nối đô thị – sân bay – cảng biển – khu công nghiệp; phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho sân bay; xây dựng hệ sinh thái công nghiệp xanh, bền vững hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero); thúc đẩy đầu tư đô thị thông minh dựa trên AI, IoT và công nghệ bản sao số (Digital Twin).

Lấy nhu cầu doanh nghiệp làm cơ sở triển khai

Trình bày tham luận về quản trị chuỗi cung ứng hiện đại phục vụ kết nối đô thị – sân bay – cảng biển – khu công nghiệp, ông Lê Quốc Anh, Thành viên Hội đồng thành viên Vietnam Post, cho rằng mỗi nhóm ngành hàng có yêu cầu khác nhau về thời gian, chất lượng và chi phí logistics. Do đó, cần tổ chức chuỗi dịch vụ phù hợp với nhu cầu và đặc thù của từng nhóm khách hàng.

Ông Lê Quốc Anh, Thành viên Hội đồng Thành viên Vietnam Post trình bày tham luận về các giải pháp phát triển chuỗi logistics

Vietnam Post đề xuất phối hợp với TP. Đồng Nai để kết nối nhu cầu từ doanh nghiệp, khu công nghiệp và vùng sản xuất. Trên cơ sở những vấn đề cụ thể do doanh nghiệp xác định, đơn vị sẽ nghiên cứu, thiết kế giải pháp, xây dựng phương án tổ chức chuỗi dịch vụ và cơ chế phối hợp phù hợp.

Cách tiếp cận này hướng tới hình thành hệ sinh thái đối tác có khả năng bổ sung năng lực cho nhau, đáp ứng nhu cầu thực tế và thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn.

Phó Giám đốc phụ trách Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đồng Nai Nguyễn Minh Quang đề nghị các sở, ngành, đơn vị liên quan tổng hợp đầy đủ ý kiến, tham luận tại hội thảo, bảo đảm nguyên tắc "Bài toán thật – Giải pháp thật – Hiệu quả thật".

Theo đó, các vấn đề đặt ra phải xuất phát từ nhu cầu vận hành thực tế của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước. Giải pháp cần có khả năng tích hợp với hệ thống hiện hữu, phù hợp điều kiện triển khai; hiệu quả phải được đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể.

Ông Nguyễn Minh Quang, Phó Giám đốc phụ trách Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đồng Nai phát biểu tổng kết Hội thảo

Ông Nguyễn Minh Quang cũng nhấn mạnh yêu cầu tích hợp hạ tầng giao thông, logistics và dữ liệu ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng, tránh tình trạng hoàn thành hạ tầng mới tính đến số hóa.

Các sở, ban, ngành được đề nghị tiếp thu ý kiến tại hội thảo, tham mưu UBND thành phố xây dựng các đề án, báo cáo tiến độ thực hiện; đồng thời rà soát quy hoạch phát triển hạ tầng, bảo đảm tính đồng bộ giữa giao thông, logistics và dữ liệu, tạo cơ sở triển khai các giải pháp chuyển đổi số hiệu quả.

Cuộc đua thu hút FDI ‘tăng nhiệt’, Philippines, Malaysia, Ấn Độ đều nhập cuộc cạnh tranh: B ộ trưởng Bộ Tài chính nói gì về mục tiêu thu hút 30-40 tỷ USD/năm vốn giải ngân của Việt Na m?

https://cafef.vn/cuoc-dua-thu-hut-fdi-tang-nhiet-philippines-malaysia-an-do-deu-nhap-cuoc-canh-tranh-bo-truong-bo-tai-chinh-noi-gi-ve-muc-tieu-thu-hut-30-40-ty-usd-nam-von-giai-ngan-cua-viet-nam-188261102113215855.chnHoàng Nguyễn | 02-11-2026 – 11:31 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
"Cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt", Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh tại phiên thảo luận, giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD/năm vốn FDI giải ngân để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Sáng nay (2/11), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Phát biểu giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở hội trường về sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, nhiều đại biểu Quốc hội đặt vấn đề vì sao Luật Đầu tư phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Đến nay, Luật đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ sung.

Theo Bộ trưởng, trước đây, việc sửa đổi Luật chủ yếu tập trung vào cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh mà còn phải khơi thông các nguồn lực, huy động vốn đầu tư phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ. Đặc biệt, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn.

Theo tính toán được Bộ trưởng nêu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD vốn giải ngân mỗi năm, không phải vốn đăng ký.

Bên cạnh yêu cầu tăng trưởng, việc sửa đổi Luật còn nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đáp ứng những yêu cầu mới về thu hút đầu tư, sử dụng nguồn lực đất đai và quy hoạch không gian phát triển.

"Một lý do đặc biệt quan trọng khác là cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt". Bộ trưởng nhấn mạnh như vậy và dẫn chứng, Philippines, Malaysia cũng như nhiều quốc gia đang triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào những lĩnh vực tương đồng với Việt Nam như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.

Ngoài khu vực, Ấn Độ cũng đang đẩy mạnh thu hút đầu tư với tham vọng trở thành trung tâm sản xuất điện thoại di động của thế giới, thông qua các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất.

"Chúng ta cần thu hút FDI thì các quốc gia khác cũng cần. Những lĩnh vực chúng ta ưu đãi thì họ cũng ưu đãi", Bộ trưởng nêu rõ, đồng thời cho rằng Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút các dự án lớn, nhất là trong những ngành công nghệ cao.

Cuộc đua thu hút FDI 'tăng nhiệt', Philippines, Malaysia, Ấn Độ đều nhập cuộc cạnh tranh: Bộ trưởng Bộ Tài chính nói gì về mục tiêu thu hút 30-40 tỷ USD/năm vốn giải ngân của Việt Nam? - Ảnh 1.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ (Ảnh: Quốc hội)

Dự thảo Luật Đầu tư: Tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao và chuyển đổi số

Về chất lượng dòng vốn, Bộ trưởng cho biết chính sách ưu đãi tập trung vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển giao công nghệ. Thu hút đầu tư phải gắn với năng lực sản xuất trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa và sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Liên quan đến chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.

Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.

Theo Bộ trưởng, cần có những tiêu chí để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.

Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội về cơ chế kiểm soát chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng "việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra", có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được. Đặc biệt, phải quy định rõ các điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu, điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.

Theo Bộ trưởng, đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, đồng thời hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện. Bởi lẽ, khi nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng các điều kiện cam kết, nếu thiếu cơ chế xử lý rõ ràng sẽ rất khó khăn trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp.

Đối với vấn đề nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, Bộ trưởng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu để hoàn thiện quy định. Những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ được Chính phủ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung theo trình tự, thủ tục rút gọn, vừa bảo đảm đúng thẩm quyền, vừa đáp ứng yêu cầu tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong thực tiễn.

Khẳng định sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Quốc hội xem xét, thông qua, bảo đảm các chính sách đầu tư vừa có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn lực, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của các dự án đầu tư.

Việt Nam đang xây dựng cầu đường bộ vượt sông Hồng 1.500 tỷ đồng nối thẳng Việt Nam – Trung Quốc, dự kiến hợp long ngay cuối tháng sau

https://cafef.vn/viet-nam-dang-xay-dung-cau-duong-bo-vuot-song-hong-1500-ty-dong-noi-thang-viet-nam-trung-quoc-du-kien-hop-long-ngay-cuoi-thang-sau-188261102110625937.chnNgọc Khánh | 02-11-2026 – 11:09 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Công trình đang hướng tới mục tiêu hợp long vào cuối năm 2026, tạo tiền đề hoàn thiện cây cầu kết nối giao thông qua khu vực biên giới Bát Xát – Bá Sái.

Theo thông tin từ UBND tỉnh Lào Cai, Công trình cầu đường bộ qua sông Hồng khu vực biên giới Bát Xát (Việt Nam) – Bá Sái (Trung Quốc) đang được các nhà thầu tập trung nhân lực, thiết bị, đẩy nhanh tiến độ thi công, phấn đấu hợp long cầu vào cuối năm 2026.

Công trình được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc ký Hiệp định và Nghị định thư ngày 12/12/2023, chính thức khởi công ngày 31/3/2025.

Công trình Cầu đường bộ qua sông Hồng biên giới Bát Xát (Việt Nam) – Bá Sái (Trung Quốc) có tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng. Thời gian thi công trong 18 tháng với mục tiêu hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2026.

Cầu chính vượt sông Hồng được thiết kế theo dạng dây văng tháp thấp, gồm các nhịp 60m + 110m + 60m. Trong đó, phía Việt Nam đầu tư xây dựng một nửa cầu chính, gồm 1/2 nhịp chính 110m và nhịp 60m, cùng phần cầu dẫn dài 40m.

Hạng mục đường đầu cầu phía Việt Nam dài 232,5m, kết nối với tuyến đường BV20 theo quy hoạch; nền đường rộng 35m, mặt đường rộng 25m, hai bên lề đường rộng 5m mỗi bên, kết cấu mặt đường bằng bê tông nhựa.

Phần công trình phía Việt Nam do Liên danh Trung Chính – Đường thủy số 1 thi công, với giá trị xây lắp 288 tỷ đồng, thời gian thực hiện hợp đồng đến ngày 31/12/2026.

Theo báo cáo tiến độ, đến nay nhà thầu đã hoàn thành toàn bộ kết cấu phần dưới, gồm mố M2, trụ T9 và trụ T8. Đối với kết cấu phần trên, các khối dầm đúc trên đà giáo dài 40m và nhiều đốt dầm từ K0 đến K10 đã hoàn thành.

Công tác gia công thép đốt K11/K14 đang được triển khai, dự kiến đổ bê tông trong ngày theo kế hoạch báo cáo. Trụ tháp đã thi công đạt chiều cao 20m; phần đường đầu cầu đang được triển khai đắp nền.

Giá trị khối lượng thực hiện đến thời điểm báo cáo đạt khoảng 190/288 tỷ đồng, tương đương 65% giá trị xây lắp. Khối lượng còn lại chủ yếu là thi công 3 đốt dầm bằng xe đúc di động, một đốt hợp long nhịp biên và một đốt hợp long nhịp chính.

Công trình đang hướng tới mục tiêu hợp long vào cuối năm 2026 (Ảnh: UBND tỉnh Lào Cai)

Để bảo đảm tiến độ, nhà thầu đã tăng ca, tăng kíp, bổ sung nhân lực, rút ngắn thời gian thi công mỗi đốt dầm từ 14 – 16 ngày xuống còn 10 – 11 ngày.

Theo đánh giá tiến độ thực tế, dự kiến từ ngày 5 – 8/12/2026 sẽ bàn giao mặt bằng cho phía Trung Quốc để chuẩn bị các điều kiện thi công hợp long; thời gian hợp long cầu dự kiến từ ngày 25 – 30/12/2026.

Hiện nay, hai bên thường xuyên trao đổi, cập nhật và điều chỉnh kế hoạch thi công phù hợp với điều kiện thực tế, phối hợp xử lý các yêu cầu kỹ thuật tại vị trí tiếp giáp.

Với quyết tâm của các nhà thầu và sự phối hợp giữa hai phía, công trình đang hướng tới mục tiêu hợp long vào cuối năm 2026, tạo tiền đề hoàn thiện cây cầu kết nối giao thông qua khu vực biên giới Bát Xát – Bá Sái.

Thu hút đầu tư phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ

https://cafef.vn/thu-hut-dau-tu-phai-tao-ra-gia-tri-gia-tang-chuyen-giao-cong-nghe-188261102133848517.chnTheo PV | 02-11-2026 – 16:00 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Đại biểu Quốc hội cho rằng, cần thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư theo hướng tập trung vào việc điều chỉnh về quyền tự do đầu tư kinh doanh; bảo đảm đầu tư; khuyến khích đầu tư và những trường hợp thật sự cần Nhà nước kiểm soát.

Đánh giá theo cam kết, mức độ hoàn thành, trách nhiệm xử lý tương ứng

Ngày 2/11 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự phiên họp (Ảnh: Quang Vinh)

Đại biểu Quốc hội Hoàng Minh Hiếu (Đoàn Nghệ An) cho rằng, hiện nay, theo Luật Đầu tư thì thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư vẫn chủ yếu là vừa xem xét điều kiện của nhà đầu tư, vừa xem xét địa điểm, đất đai, quy hoạch, quy mô, tiến độ, môi trường và nhiều yếu tố khác. Sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư lại tiếp tục thực hiện các thủ tục tương ứng theo pháp luật đất đai, môi trường, xây dựng và pháp luật chuyên ngành. Điều này vừa kéo dài thủ tục vừa khó phân định phạm vi điều chỉnh giữa Luật Đầu tư và các luật khác, từ đó, làm phát sinh nhu cầu sửa Luật Đầu tư mỗi khi luật chuyên ngành thay đổi.

Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tham dự phiên họp (Ảnh: Quang Vinh)

Để xử lý tình trạng này, theo ông Hiếu về lâu dài cần thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư theo hướng tập trung vào việc điều chỉnh về quyền tự do đầu tư kinh doanh; bảo đảm đầu tư; khuyến khích đầu tư và những trường hợp thật sự cần Nhà nước kiểm soát trước như các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh, hạ tầng trọng yếu hoặc những lợi ích chiến lược mà một luật chuyên ngành riêng lẻ không thể xử lý đầy đủ. Còn các vấn đề khác thì nên để luật chuyên ngành quy định; bảo đảm nguyên tắc: một rủi ro do một cơ quan chịu trách nhiệm chính.

Ông Hoàng Minh Hiếu phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Về hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm đầu tư đối với cơ chế hỗ trợ chi phí quy định tại dự thảo Luật, ông Hiếu đề nghị nghiên cứu bổ sung nguyên tắc: trường hợp ưu đãi, hỗ trợ đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định cho một dự án cụ thể mà chính sách sau đó thay đổi theo hướng bất lợi, thì quyền lợi đã phát sinh tương ứng với phần nghĩa vụ, chi phí và cam kết mà nhà đầu tư đã thực hiện hợp pháp phải được bảo đảm; đối với thời gian còn lại cần có cơ chế chuyển tiếp phù hợp trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư.

Ông Nguyễn Văn Huy phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) dự thảo nên làm rõ hơn mức độ thực hiện cam kết như thế nào thì được coi là đạt yêu cầu; trường hợp nhà đầu tư chỉ thực hiện một phần cam kết thì xử lý ra sao, việc thu hồi ưu đãi áp dụng đối với toàn bộ hay phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ chưa hoàn thành.

Từ đó, ông Huy đề nghị bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm. Về đánh giá hiệu quả thực chất của dự án đầu tư. “Thu hút đầu tư không chỉ là thu hút vốn lớn mà phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam”, ông Huy nhấn mạnh.

Xử lý nghiêm kê khai gian dối

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn TP. Hải Phòng) đề cập đến kiểm chứng kết quả và xử lý việc không hoàn thành cam kết khi hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17. Dự thảo đã quy định hỗ trợ trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Theo bà Nga, vấn đề đặt ra là khi quyết định hỗ trợ, các bên phải biết rõ kết quả nào cần đạt, được đánh giá vào thời điểm nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm xác nhận? Do đó cần làm rõ trong nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 17 việc xác định kết quả đầu ra, phương pháp, thời điểm kiểm chứng và chủ thể xác nhận theo từng loại hình hỗ trợ.

Những yêu cầu này phải được xác định trong hồ sơ làm căn cứ quyết định hỗ trợ, giúp doanh nghiệp dự báo được nghĩa vụ và cơ quan thực hiện có căn cứ đánh giá thống nhất. Bên cạnh đó, cần phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo giai đoạn, hạng mục.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

“Nếu không đáp ứng điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách thì phải thu hồi khoản đã hưởng không đúng. Nhưng đối với chỉ tiêu có thể tách riêng theo giai đoạn, hạng mục, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng bị điều chỉnh, thu hồi; tránh việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi cả khoản hỗ trợ cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng”, bà Nga nói, đồng thời đề nghị bổ sung nguyên tắc phân biệt này ngay tại khoản 4; giao Chính phủ quy định cách xác định cụ thể. Trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm. Quy định rõ vừa bảo vệ ngân sách, vừa hạn chế cách áp dụng tùy nghi, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Đáng chú ý, liên quan đến kiểm soát cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương và công khai kinh phí hỗ trợ, theo bà Nga, hiệu quả thu hút đầu tư cần được đánh giá cả về chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, ngân sách và đóng góp vào chuỗi giá trị của vùng. Cơ chế này sẽ khuyến khích địa phương cạnh tranh bằng hạ tầng, nhân lực, dịch vụ công và trách nhiệm đồng hành; hạn chế việc chạy theo số dự án, số vốn thu hút về từng địa bàn.

Ông Phạm Văn Hoà phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cho rằng, việc quy định trong Luật về kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư là hết sức cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp được Nhà nước đầu tư vốn, tài sản hoặc giao đất, hỗ trợ vốn để đầu tư. Ông Hoà đề nghị, Chính phủ quy định rõ các nội dung đánh giá, không chỉ dừng ở chất lượng đầu tư và kết quả kinh doanh mà cần quan tâm đến tác động môi trường. Theo ông Hoà, nhiều ngành nghề có tác động lớn đến môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống người dân. Vì vậy, cần đánh giá tác động đối với môi trường biển, khu vực miền núi và Đồng bằng sông Cửu Long.

Xuất nhập khẩu Việt Nam: Bứt phá quy mô, nâng tầm giá trị

https://cafef.vn/xuat-nhap-khau-viet-nam-but-pha-quy-mo-nang-tam-gia-tri-188261102144840072.chnTheo Ban Thời sự | 02-11-2026 – 14:48 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD, xuất nhập khẩu Việt Nam đang chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mốc 1.000 tỷ USD và bước tiến về chất

Cách đây ít ngày, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD, tăng hơn 32% so với cùng kỳ năm trước. Kỷ lục này cho thấy sức bật của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả điều hành, hỗ trợ của Chính phủ trong bối cảnh thương mại toàn cầu đối mặt nhiều biến động và rủi ro địa chính trị.

Nếu phải mất khoảng 30 năm để cán mốc 500 tỷ USD, Việt Nam chỉ cần thêm 7 năm để chinh phục mốc 1.000 tỷ USD. Nếu tính từ mốc khoảng 85 tỷ USD năm 2006, quy mô thương mại của Việt Nam hiện đã tăng gần 12 lần. Quan trọng hơn, cơ cấu xuất khẩu đang chuyển mạnh sang hàng chế biến chế tạo, điện tử và công nghệ cao, đánh dấu bước tiến không chỉ về quy mô mà cả về chất lượng.

Trong tổng kim ngạch nghìn tỷ USD 10 tháng qua, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đóng góp tới 87,4%. Những sản phẩm công nghệ cao, bán dẫn, thiết bị điện tử và linh kiện tinh vi đã chiếm tỷ trọng chính trong cơ cấu xuất khẩu thay cho dầu thô, than đá hay nông sản thô như trước đây. Ngay cả dệt may, da giày giờ cũng đã có những bước tiến lớn, thay vì dựa vào lắp ráp, gia công với sự thâm dụng lao động lớn.

Ông Nguyễn Đức Kiên – Nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ đánh giá: "Trước đây, chúng ta chủ yếu làm gia công, nhưng đến nay đã chuyển sang nghiên cứu, phát triển vật liệu mới phục vụ sản xuất. Đây là một định hướng đúng. Trong nông nghiệp cũng vậy, thay vì chủ yếu xuất khẩu sản phẩm sơ chế như trước, chúng ta đã bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp chế biến sâu".

Xuất nhập khẩu Việt Nam: Bước chuyển từ lượng sang chất - Ảnh 1.

Xuất nhập khẩu hàng hóa vượt mốc 1.000 tỷ USD sau 10 tháng. Ảnh: VGP

Xuất nhập khẩu Việt Nam trong những năm gần đây giữ được tốc độ tăng trưởng cao một phần là nhờ các doanh nghiệp đã tận dụng hiệu quả các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và quan hệ thương mại với 237 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 36 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD mỗi năm. Khối doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã đóng góp ấn tượng trên 77% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.

"Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam không chỉ mang theo nguồn vốn lớn, mà còn đưa công nghệ và những giá trị tích cực, góp phần tạo sự cộng hưởng, thúc đẩy hợp tác và phát triển cùng các doanh nghiệp Việt Nam", ông Nguyễn Văn Toàn – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) nói.

Không còn đứng ngoài cuộc chơi toàn cầu, các doanh nghiệp trong nước đã chủ động đổi mới tư duy quản trị, làm chủ công nghệ lõi và nghiêm túc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế để đưa hàng hóa Việt Nam vươn xa.

Ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết: "Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay rất chủ động đáp ứng những yêu cầu về ESG, bao gồm quản trị, xã hội và môi trường. Điều này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp".

Cột mốc 1.000 tỷ USD chưa phải là điểm dừng, mà là bệ phóng cho một tầm nhìn xa hơn. Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Công Thương không chỉ đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026-2030, mà còn hướng tới mục tiêu nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2045.

Việt Nam gia tăng giá trị cho chuỗi cung ứng toàn cầu

Trong cột mốc 1.000 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhìn lại gần nhất trong tháng 10 vừa qua, xuất khẩu của nước ta tiếp tục cải thiện, trong khi nhập khẩu giảm. Trong tháng 10, Việt Nam đã xuất siêu 7,94 tỷ USD, gấp hơn 6 lần tháng trước. Cán cân thương mại nhờ đó chuyển biến tích cực, góp phần thu hẹp mức nhập siêu lũy kế từ đầu năm nay. Dự kiến, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm nay sẽ đạt khoảng 1.110 tỷ USD.

Các con số xuất nhập khẩu này phản ánh quy mô hàng hóa đi qua biên giới. Nhưng để đánh giá vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng, điều quan trọng hơn là phía sau dòng hàng ấy có bao nhiêu năng lực sản xuất và giá trị được tạo ra tại Việt Nam.

Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu, Tổng Giám đốc toàn cầu của Công ty tư vấn quản lý và chiến lược Roland Berger, ông Denis Depoux, dùng hai hình ảnh "Token" và "Concrete" để mô tả sự lệch pha của dòng vốn toàn cầu. Trong khi "Token" đại diện cho trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và kinh tế số thu hút hàng nghìn tỷ USD, dòng vốn dành cho nhà máy, năng lượng, logistics và hạ tầng là "Concrete" lại ngày càng đắt đỏ, khan hiếm.

Muốn khơi thông nguồn lực cho kinh tế thực, hạ tầng vật chất phải được kết nối với số hóa, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Với Việt Nam, đây là cơ hội không chỉ tiếp nhận các công đoạn sản xuất, mà còn tiến lên những khâu có hàm lượng công nghệ và giá trị cao hơn.

Chuyển động này đang thể hiện qua cơ cấu xuất khẩu. Tỷ trọng máy móc, điện tử và sản phẩm chế tạo… xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu tăng từ 37% năm 2016 lên gần 57% năm ngoái. Trong khi đó, tỷ trọng dệt may, da giày và nông sản… đã giảm tương đối. Theo diễn giả, đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu, thay vì chỉ đảm nhận những công đoạn gia công đơn thuần.

Xuất nhập khẩu Việt Nam: Bước chuyển từ lượng sang chất - Ảnh 2.

Kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt 1.000 tỷ USD, tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất và tiến lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn. Ảnh minh họa

Theo Tổng Giám đốc Toàn cầu Roland Berger, hơn 70% hàng nhập khẩu của Việt Nam là máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ xây dựng nhà máy và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, tỷ trọng máy móc, điện tử và sản phẩm chế tạo chính xác trong cơ cấu xuất khẩu ngày càng tăng.

Sự hiện diện của các tập đoàn toàn cầu như BYD, Jinko Solar, Goertek, Intel hay Amkor, cùng hệ sinh thái sản xuất của Apple, cho thấy dòng vốn đang đi vào nhà máy, dây chuyền và hạ tầng phục vụ sản xuất. Đó là những tài sản thực, hay "Concrete", cho thấy dòng vốn toàn cầu đang gắn với năng lực sản xuất thực tế tại Việt Nam.

Ông Denis Depoux – Tổng Giám đốc toàn cầu, Công ty Tư vấn quản lý và chiến lược Roland Berger đánh giá: "Đây không phải là chuyển hướng thương mại hay trung chuyển. Đó là máy móc, linh kiện được đưa đến để xây những nhà máy thật. Giờ câu chuyện không phải Trung Quốc hoặc Việt Nam, mà là Trung Quốc và Việt Nam.

Một minh chứng là nhà máy hơn 1 tỷ USD của Tập đoàn LEGO tại TP Hồ Chí Minh, nhà máy trung hòa carbon đầu tiên. Cơ sở này đồng thời kết nối với mạng lưới nhà cung cấp tại Trung Quốc, cho thấy chuỗi sản xuất đang được tổ chức theo hướng kết nối giữa Việt Nam và Trung Quốc,thay vì dịch chuyển hoàn toàn khỏi một thị trường.

Ông Thue Quist Thomasen – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp các nước Bắc Âu tại Việt Nam cho biết: "Những nhà đầu tư Bắc Âu như Tetra Pak, Pandora, LEGO – nếu đến nhà máy của họ sẽ thấy đây không phải sản xuất đại trà hay dùng lao động giá rẻ, tay nghề thấp, mà là đào tạo người Việt Nam cho công việc trình độ cao, làm ra sản phẩm chất lượng rất cao cho thị trường toàn cầu".

Không chỉ có nhà máy, những công đoạn giá trị cao hơn như nghiên cứu, phát triển và thiết kế cũng đang được đưa đến Việt Nam. Tại ITO Group, các hoạt động này hiện được thực hiện ngay trong nước. Doanh nghiệp chế tạo thiết bị tự động hóa này cũng là nhà đầu tư đầu tiên được TP Hồ Chí Minh áp dụng cơ chế đầu tư "luồng xanh".

Ông Peter James Opdahl – Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ và Tự động hóa ITO, Nhật Bản cho hay: "Chúng tôi giờ làm toàn bộ nghiên cứu, phát triển và thiết kế ngay tại Việt Nam. Thiết bị của chúng tôi cạnh tranh trên thị trường toàn cầu và giành hợp đồng từ những công ty hàng đầu thế giới".

Tuy nhiên, quy mô vốn hay số lượng nhà máy chưa phải thước đo cuối cùng. Theo đại diện Diễn đàn Kinh tế Thế giới, điều quan trọng hơn là mỗi dòng vốn sẽ để lại những giá trị gì cho Việt Nam.

"Thước đo thành công không chỉ là thu hút được bao nhiêu vốn, mà là khi dòng đầu tư kết thúc, nó để lại di sản gì. Người dân có còn hứng khởi, tò mò và vẫn đồng sáng tạo ra sản phẩm, ngay cả khi dòng vốn đã dừng lại hay không?", bà Sandy Chong – Giám đốc phụ trách các sáng kiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nêu ý kiến.

"Concrete" tạo nên nhà máy và hạ tầng sản xuất. Nhưng để những tài sản ấy tạo ra giá trị lâu dài, Việt Nam cần giữ lại công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực và phát triển năng lực đổi mới sáng tạo. Khi đó, Việt Nam không chỉ đón dòng vốn, mà còn tiến lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.