Lãi suất qua đêm liên ngân hàng tăng lên 7%/năm

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/lai-suat-qua-dem-lien-ngan-hang-tang-len-7nam-20260923000535304.htmThứ tư, 23/09/2026 – 06:18

(Dân trí) – Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng 2,5 điểm phần trăm lên 7%/năm, trong khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sử dụng các công cụ điều tiết để hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

Theo số liệu của Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng (Vira), lãi suất bình quân liên ngân hàng bằng đồng Việt Nam phiên gần nhất tăng 0,5-2,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tháng so với phiên cuối tuần trước. Trong khi đó, lãi suất tại kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần đi ngang.

Đáng chú ý, lãi suất qua đêm – kỳ hạn chiếm phần lớn khối lượng giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh 2,5 điểm phần trăm, lên 7%/năm.

Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giữ ở mức 4,8%/năm, kỳ hạn 2 tuần ở mức 6%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng 0,5 điểm phần trăm lên 6,5%/năm.

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm là lãi suất áp dụng cho các khoản vay giữa các ngân hàng, thường được hoàn trả vào ngày hôm sau. Đây là kỳ hạn phổ biến nhất trên thị trường liên ngân hàng, khi các nhà băng chủ yếu vay mượn ngắn hạn để điều hòa thanh khoản.

Lãi suất qua đêm liên ngân hàng tăng lên 7%/năm - 1

Nhân viên kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).

Trong phiên 22/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hỗ trợ thanh khoản thông qua kênh cầm cố. Nhà điều hành chào thầu 3.775 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày và 2.131 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày. Tổng cộng hơn 5.900 tỷ đồng được các tổ chức tín dụng hấp thụ, với lãi suất 4,5%/năm.

Ở chiều ngược lại, có 6.557 tỷ đồng đến kỳ đáo hạn. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu trong phiên này.

Tính chung trong phiên 22/9, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 650 tỷ đồng khỏi hệ thống. Sau phiên, khối lượng vốn đang lưu hành trên kênh cầm cố ở mức 199.752 tỷ đồng.

Bên cạnh kênh cầm cố, trước đó, ngày 21/9, Ngân hàng Nhà nước còn triển khai thêm công cụ cung ứng thanh khoản thông qua giao dịch hoán đổi ngoại tệ.

Cụ thể, nhà điều hành thực hiện hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 7 ngày với các ngân hàng thương mại, với quy mô tối đa 2 tỷ USD. Theo cơ chế này, Ngân hàng Nhà nước mua USD giao ngay từ các ngân hàng và thanh toán bằng tiền đồng, qua đó bổ sung VND cho hệ thống trong ngắn hạn. Khi giao dịch đáo hạn sau 7 ngày, Ngân hàng Nhà nước sẽ bán USD trở lại cho các ngân hàng và thu tiền đồng về.

Việc đồng thời sử dụng nhiều công cụ điều tiết cho thấy Ngân hàng Nhà nước đang chủ động theo dõi và điều hành thanh khoản trên thị trường tiền tệ, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt lãi suất qua đêm, tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trên thị trường 1 (thị trường giữa ngân hàng với khách hàng) có mối liên hệ thông qua thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng là nơi các ngân hàng vay mượn vốn ngắn hạn lẫn nhau, còn thị trường 1 là nơi ngân hàng huy động tiền từ người dân, doanh nghiệp và cho khách hàng vay.

Khi lãi suất liên ngân hàng tăng, chi phí vay mượn vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng cũng tăng, thường phản ánh thanh khoản hệ thống chịu áp lực. Nếu kéo dài, điều này có thể tạo áp lực khiến các ngân hàng tăng lãi suất huy động để bổ sung nguồn vốn, từ đó có thể tác động đến mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường 1.

Kéo giá nhà xuống cách nào?

https://tienphong.vn/keo-gia-nha-xuong-cach-nao-post1878508.tpo22/09/2026 15:41

TPO – Giá đất là một trong những cấu phần quan trọng của giá nhà nhưng không quyết định hoàn toàn giá bán. Theo đó, để kéo giá nhà về mức hợp lý, cần đồng thời kiểm soát chi phí tạo lập dự án, hoạt động đầu cơ và cách xác định giá đất.

Giá đất giảm chưa chắc kéo giá nhà giảm tương ứng

Tại Hội thảo “Chiến lược phát triển và đầu tư bất động sản sau Nghị quyết 21 và những cập nhật chính sách” diễn ra sáng 22/9, bà Hoàng Thu Hằng – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng – cho biết, tiền sử dụng đất chỉ là một trong nhiều khoản chi phí cấu thành giá nhà.

Bên cạnh tiền sử dụng đất còn có chi phí đầu tư, xây dựng, giải phóng mặt bằng, thuế và nhiều khoản chi phí khác… cấu thành giá nhà.

Do đó, khi đánh giá yếu tố nào có thể kéo giá nhà xuống, cần xem xét giá sản phẩm tại thời điểm đó được hình thành dựa trên những yếu tố nào. Từ đó mới có thể lựa chọn công cụ điều tiết phù hợp.

hang.jpgBà Hoàng Thu Hằng – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng. Ảnh: VNB.

Theo bà Hằng, khi tác động đúng vào cơ chế hình thành giá để đưa giá đất về mức hợp lý, giá trị bất động sản cũng có thể giảm. Việc điều chỉnh theo hướng này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.

Từ góc độ quản lý, bà Hằng cho biết, cơ quan chức năng đang xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản. Trong dự thảo, có một chương riêng nói về điều tiết thị trường.

Dự thảo cũng đưa ra khái niệm về đầu cơ bất động sản, đồng thời từng bước xây dựng các tiêu chí để nhận diện hoạt động này. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý có giải pháp điều tiết thị trường, hướng giá bất động sản về đúng giá trị thực.

“Ít nhất ở thời điểm này, chúng ta đang nhìn nhận rằng, cần kiểm soát hoạt động đầu cơ. Đây là một trong những yếu tố lớn nhất”, bà Hằng nói.

Một vấn đề khác được bà Hằng lưu ý là cách xác định giá thị trường. Theo bà, trong quá trình xây dựng Luật Đất đai 2023, bà đồng tình với việc tính giá đất theo giá thị trường. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng là phải xác định thế nào là “giá thị trường”.

Một trong những cơ sở có thể tham khảo là lượng giao dịch. Nếu lượng giao dịch tăng đều, thị trường có thêm cơ sở để xác định xu hướng giá. Ngược lại, nếu giao dịch không có nhưng giá vẫn liên tục tăng mạnh thì cần xem xét liệu mức giá đó có thực sự phản ánh giá thị trường hay không.

“Chúng ta cũng không thể sử dụng nguyên bảng giá đất cũ, bởi cách tính đó rất khó đáp ứng yêu cầu phát triển”, bà Hằng nói.

Theo bà Hằng, giá đất quá thấp hoặc quá cao đều có thể gây khó khăn cho quá trình phát triển. Bài toán đặt ra là phải tìm được sự cân bằng, qua đó bảo đảm giá đất phản ánh hợp lý giá trị và điều kiện thị trường.

Kiểm soát toàn bộ chi phí tạo lập giá nhà

Ở góc độ doanh nghiệp và thị trường, TS. Nguyễn Văn Đính – Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam – cho rằng, giá đất tác động rất mạnh đến giá nhà.

Theo ông Đính, trong cơ cấu giá nhà mà các đơn vị phát triển dự án và nhà đầu tư thường tính toán, giá trị đất chiếm khoảng 30-40%. Tại một số khu đất, tỷ lệ này có thể lên tới gần 50%. Vì vậy, giá đất có ảnh hưởng lớn đến giá nhà.

“Nếu điều tiết được giá đất, đưa giá đất về mức hợp lý và phù hợp hơn thì giá nhà cũng sẽ giảm phù hợp với nhu cầu của thị trường”, ông Đính nói.

anh-man-hinh-2026-09-22-luc-110524.pngTS. Nguyễn Văn Đính – Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam – phát biểu tại hội thảo. Ảnh: VNB.

Theo ông Đính, điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc giải quyết nhu cầu nhà ở của người dân có hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, ông Đính nhấn mạnh, giá đất chỉ là một phần trong cơ cấu giá nhà. Giá sản phẩm còn phụ thuộc vào toàn bộ quá trình tạo lập dự án, từ thủ tục, quy hoạch, thể chế đến thời gian giải quyết các thủ tục.

Bên cạnh đó là nhu cầu của thị trường, khả năng đáp ứng của từng phân khúc, chi phí vốn, chi phí vật liệu xây dựng và nhiều yếu tố khác. Ông Đính cho rằng, cần kiểm soát chi phí trong toàn bộ quá trình tạo ra nhà.

Theo ông Đính, nếu các yếu tố này được hỗ trợ bằng thể chế, thông qua Luật Đất đai và các cơ chế liên quan, để lựa chọn đúng người có năng lực, đúng chủ đầu tư, đúng sản phẩm và đúng quy hoạch, thì giá đất, giá nhà cũng sẽ giảm, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển và mong muốn của người dân.

Ông Đính cho rằng, đây mới là vấn đề quan trọng. Cùng với kiểm soát chi phí trong toàn bộ quá trình tạo lập giá nhà, cần phát triển nhu cầu sử dụng, nhu cầu đầu tư và nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế thông qua các cơ chế, chính sách phù hợp.

Lãi suất qua đêm tăng vọt, Ngân hàng Nhà nước có giải pháp gì?

https://tienphong.vn/lai-suat-qua-dem-tang-vot-ngan-hang-nha-nuoc-co-giai-phap-gi-post1878695.tpo22/09/2026 21:17

Chia sẻLưu tinBình luậnTrở về

TPO – Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng vọt lên 7%/năm, cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước. Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước liên tục sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó có bơm vốn qua kênh cầm cố và hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

Theo số liệu của Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng, lãi suất bình quân liên ngân hàng bằng VND ngày 21/9 tăng 0,5-2,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tháng so với phiên cuối tuần trước. Trong khi đó, lãi suất tại kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần đi ngang.

Đáng chú ý, lãi suất qua đêm – kỳ hạn chiếm phần lớn khối lượng giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh 2,5 điểm phần trăm, lên 7%/năm.

Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giữ ở mức 4,8%/năm, kỳ hạn 2 tuần ở mức 6%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng 0,5 điểm phần trăm lên 6,5%/năm.

Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh thanh khoản trên thị trường tiền tệ có dấu hiệu chịu áp lực, khi lãi suất liên ngân hàng đã tăng đáng kể trong tuần trước.

Trong phiên 22/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản qua kênh cầm cố. Cụ thể, nhà điều hành chào thầu 3.775 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày và 2.131 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày. Toàn bộ hơn 5.900 tỷ đồng được các tổ chức tín dụng hấp thụ, với lãi suất 4,5%/năm.

mo.pngNgân hàng Nhà nước can thiệp trên thị trường mở. Ảnh: N.M.

Ở chiều ngược lại, có 6.557 tỷ đồng đến kỳ đáo hạn. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu trong phiên này.

Như vậy, tính chung trong phiên 22/9, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 650 tỷ đồng khỏi hệ thống. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố sau phiên này ở mức 199.752 tỷ đồng.

Bên cạnh kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước ngày 21/9 còn mở thêm một kênh cung ứng thanh khoản thông qua giao dịch hoán đổi ngoại tệ.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 7 ngày với các ngân hàng thương mại, quy mô tối đa 2 tỷ USD. Cơ chế này cho phép Ngân hàng Nhà nước mua USD giao ngay từ các ngân hàng và thanh toán bằng tiền đồng, qua đó bổ sung VND cho hệ thống trong ngắn hạn.

Sau 7 ngày, giao dịch được đảo chiều khi Ngân hàng Nhà nước bán USD và thu tiền đồng về.

Việc triển khai đồng thời các công cụ điều tiết cho thấy nhà điều hành đang theo dõi sát diễn biến thanh khoản trên thị trường tiền tệ, trong bối cảnh lãi suất qua đêm tăng mạnh.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thị trường liên ngân hàng trong tuần từ ngày 14-18/9, doanh số giao dịch bằng Việt Nam đồng đạt gần 4,8 triệu tỷ đồng, bình quân 961.691 tỷ đồng/ngày, tăng 17.381 tỷ đồng/ngày so với tuần trước.

Doanh số giao dịch bằng USD quy đổi ra Việt Nam đồng đạt khoảng 971.048 tỷ đồng, bình quân 194.210 tỷ đồng/ngày, tăng 24.353 tỷ đồng/ngày so với tuần trước đó.

Đáng chú ý, giao dịch VNĐ trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục tập trung áp đảo ở kỳ hạn qua đêm, chiếm khoảng 96% tổng doanh số. Kỳ hạn 1 tuần chỉ chiếm khoảng 1%.

Đối với giao dịch USD, kỳ hạn qua đêm cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 92% tổng doanh số, trong khi kỳ hạn 1 tuần chiếm 3%. Lãi suất bình quân VND trong tuần 14-18/9 cũng tăng so với tuần trước ở hầu hết các kỳ hạn.

Người dân TPHCM và Đồng Nai tăng gửi tiền, ngân hàng đẩy vốn vào sản xuất

https://vietnamnet.vn/dan-tphcm-va-dong-nai-tang-gui-tien-ngan-hang-day-von-vao-san-xuat-2557657.htmlThứ Ba, 22/09/2026 – 16:23

Dư nợ tín dụng tại TPHCM và Đồng Nai đến cuối tháng 8/2026 đạt 6,39 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 30,4% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.

Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 2, cho biết tính đến hết tháng 8/2026, tín dụng tại TPHCM và Đồng Nai tiếp tục tăng trưởng ổn định.

Cụ thể, tổng dư nợ trên địa bàn đạt 6,39 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 1% so với tháng 7 và gần 10,1% so với cuối năm 2025. Với quy mô này, tín dụng tại TPHCM và Đồng Nai chiếm khoảng 30,4% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế.

Theo cơ quan quản lý, quy mô tín dụng này cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tại khu vực phía Nam.

Nhìn chung, 8 tháng đầu năm, điểm sáng lớn nhất trong bức tranh tiền tệ khu vực này nằm ở chất lượng phân bổ vốn. Dòng tiền tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh trọng điểm, vốn là động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng GDP. Nhóm này ghi nhận mức tăng khoảng 10,8% so với cuối năm 2025.

Dòng tiền tín dụng trong 8 tháng đầu năm tại TP.HCM và Đồng Nai tập trung vào sản xuất kinh doanh. Ảnh: Thu Hà

Đồng thời, các chương trình tín dụng ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN tiếp tục phát huy hiệu quả thực tế.

Cụ thể, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hơn 1,41 triệu tỷ đồng, tăng xấp xỉ 10% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 22% tổng dư nợ toàn khu vực. Cho vay lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đạt 845 nghìn tỷ đồng. Cho vay lĩnh vực xuất khẩu ghi nhận khoảng 375 nghìn tỷ đồng, tiếp sức trực tiếp cho các đơn hàng quốc tế trong mùa cao điểm cuối năm.

Đặc biệt, đối với gói tín dụng ưu tiên dành cho ngành nông, lâm, thủy sản, các ngân hàng trên địa bàn đã giải ngân lũy kế từ đầu chương trình đạt 64.800 tỷ đồng cho 18.612 lượt khách hàng tiếp cận. Tính đến cuối tháng 8/2026, dư nợ còn lại của chương trình đạt 11.700 tỷ đồng.

Theo ông Lệnh, khả năng mở rộng bảng cân đối tín dụng của các tổ chức tín dụng thời gian qua có sự hậu thuẫn lớn từ nguồn vốn huy động đầu vào dồi dào, phản ánh niềm tin ổn định của người dân và tổ chức vào hệ thống ngân hàng.

Sau 8 tháng, dư nợ tín dụng tại TPHCM và Đồng Nai tăng gần 10,1% so với cuối năm 2025, lên 6,39 triệu tỷ đồng.

Trong cơ cấu nguồn vốn, trụ cột thanh khoản bền vững nhất đến từ tiền gửi tiết kiệm dân cư và tiền gửi có kỳ hạn. Phân khúc này đạt gần 4,23 triệu tỷ đồng, chiếm tới 67,8% tổng lượng tiền gửi trên toàn địa bàn, đồng thời ghi nhận mức tăng trưởng 9,3% so với đầu năm.

Doanh nghiệp xuất khẩu ‘mất lãi’ vì chi phí logistics

https://tienphong.vn/doanh-nghiep-xuat-khau-mat-lai-vi-chi-phi-logistics-post1878683.tpo22/09/2026 22:09

Chia sẻLưu tinBình luậnTrở về

TPO – Chi phí logistics của Việt Nam hiện tại tương đương 16-17% GDP. Riêng ngành dệt may, chi phí đưa hàng từ nhà máy ra cảng chiếm khoảng 9-10%, trong khi biên lợi nhuận chỉ 3-5%. Nhiều doanh nghiệp cho rằng, những điểm nghẽn về cảng biển, vận tải, kiểm tra chuyên ngành đang trực tiếp làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt.

Chi phí vận chuyển cao gấp nhiều lần biên lợi nhuận

Ngày 22/9, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Theo Bộ Công Thương, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 930 tỷ USD. Trong 8 tháng qua, con số này đã lên tới 770 tỷ USD, tăng 28,7%; trong đó xuất khẩu đạt 374,8 tỷ USD, nhập khẩu 395,3 tỷ USD.

Nhu cầu vận chuyển, lưu kho và tổ chức chuỗi cung ứng theo đó cũng tăng mạnh. Hiện, phí logistics của Việt Nam được ước tính tương đương khoảng 16-17% GDP. Tuy nhiên, mức độ tác động giữa từng ngành hàng rất khác nhau.

Chia sẻ về sức ép doanh nghiệp đang phải gánh chịu, ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam – cho biết, năm 2025 ngành dệt may đạt kim ngạch xuất nhập khẩu 71,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 46,2 tỷ USD.

Điều đáng chú ý, chi phí logistics trong nước tính từ nhà máy đến cảng hiện chiếm khoảng 9-10% giá trị hàng hóa, trong khi biên lợi nhuận của ngành dệt may chỉ khoảng 3-5%. Điều này đồng nghĩa chi phí logistics có thể cao gấp 2-3 lần phần lợi nhuận doanh nghiệp thu được.

hhdetmay-2da78-1417.jpgÔng Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam – trao đổi tại hội nghị.

Theo ông Cẩm, việc giảm chi phí logistics vì vậy tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Hiệp hội Dệt may Việt Nam kiến nghị tiếp tục cải thiện hoạt động cảng, thủ tục hải quan, mở rộng diện doanh nghiệp được hưởng chế độ ưu tiên hải quan; tăng kết nối đường sắt, đường sông và đường biển để giảm phụ thuộc vào vận tải đường bộ.

Đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, 8 tháng qua, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 3 tỷ USD. Phần lớn nhà máy, vùng sản xuất nằm tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng khu vực còn thiếu cảng chuyên dụng nước sâu cho tàu lớn. Doanh nghiệp phải vận chuyển gạo lên TPHCM để xuất khẩu, khiến chi phí đội lên.

70% thời gian thông quan nằm ngoài khâu hải quan

Ở góc độ doanh nghiệp logistics, ông Nguyễn Duy Minh – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam – cho rằng, “cần nhìn chi phí logistics từ nhiều mắt xích”, trong đó thời gian thông quan là yếu tố quan trọng. Hàng hóa được giải phóng nhanh sẽ giúp doanh nghiệp chủ động tổ chức vận tải, giảm thời gian chờ và chi phí phát sinh.

Theo đại diện Cục Hải quan, hiện tại, khoảng 70% thời gian thông quan nằm ở các thủ tục khác, gồm xin giấy phép, vận chuyển, kiểm tra, thử nghiệm; thời gian xử lý trực tiếp tại cơ quan hải quan chỉ chiếm một phần trong tổng thời gian giải phóng hàng hóa.

logistics-vietnamzrys-1641469086736-1641469087280847795776.jpgChi phí logistics của Việt Nam được ước tính tương đương 16-17% GDP.

Điểm nghẽn hiện nay còn nằm ở kết nối giữa thủ tục hải quan và kiểm tra chuyên ngành. Một số giấy phép, chứng nhận hoặc kết quả kiểm tra vẫn yêu cầu bản chính; một số thủ tục dù đã lên cơ chế một cửa quốc gia nhưng chưa hoàn toàn điện tử hoặc còn chạy trên các hệ thống riêng.

Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết, quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn, khiến yêu cầu tiết giảm chi phí logistics trở nên cấp thiếtTheo lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu, muốn giảm thực chất chi phí logistics không thể chỉ xử lý từng khoản phí mà phải tổ chức lại cả chuỗi. Giải pháp được đặt ra gồm tăng vận tải đa phương thức; giảm thời gian tại cảng, sân bay, cửa khẩu; loại bỏ chứng từ trùng lặp; thực hiện nguyên tắc doanh nghiệp cung cấp dữ liệu một lần và tăng quản lý rủi ro, hậu kiểm.

Thời hạn nhà chung cư theo niên hạn công trình: Quyền tài sản thế nào?

https://znews.vn/thoi-han-nha-chung-cu-theo-nien-han-cong-trinh-quyen-tai-san-the-nao-post1684579.html

  • Thứ hai, 21/9/2026 14:03 (GMT+7)

Theo chuyên gia, thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn công trình không đồng nghĩa với việc người dân chỉ được sở hữu căn hộ 50-70 năm.

Trong Nghị quyết số 278/NQ-CP về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, ban hành ngày 18/9, Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng quy định rõ thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn xây dựng công trình, bảo đảm phù hợp, thống nhất với thời hạn sử dụng công trình theo pháp luật về xây dựng.

Đồng thời, Chính phủ yêu cầu quy định cụ thể việc xử lý nhà chung cư hết thời hạn sử dụng, trong đó làm rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, như quyền tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất để xây dựng lại nhà chung cư và nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư khi công trình hết thời hạn.

căn hộ ảnh 1
Thời hạn sử dụng nhà chung cư sẽ theo niên hạn công trình.

Trao đổi với Tiền Phong, luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TPHCM) cho rằng, để hiểu đúng vấn đề này cần phân biệt rõ niên hạn công trình, thời điểm phá dỡ và quyền tài sản của chủ sở hữu.

Chung cư từ 25 tầng có niên hạn sử dụng trên 100 năm

Theo Thông tư số 06/2021/TT-BXD và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2012/BXD tiêu chí phân cấp công trình xây dựng theo quy mô, kết cấu được quy định rất rõ, như: Nhà chung cư cao trên 50 tầng (công trình cấp đặc biệt) và nhà chung cư từ 25 – 50 tầng (công trình cấp I) sẽ có niên hạn sử dụng trên 100 năm; đối với chung cư có từ 8-24 tầng (công trình cấp II) thì niên hạn sử dụng chỉ từ 50-100 năm;… Như vậy, thời hạn sở hữu nhà chung cư có thể 50 năm, 70 năm, 90 hay 100 năm… tùy thuộc vào chất lượng của công trình.

căn hộ ảnh 2
Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM).

Điều 142 Luật Nhà ở năm 2023 phân định phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung trong nhà chung cư. Quyền của chủ sở hữu căn hộ còn gắn với quyền sử dụng đất chung theo pháp luật về đất đai. Vì vậy, khi công trình bị phá dỡ, cần xác định riêng số phận pháp lý của từng quyền.

“Việc phần sở hữu riêng không còn tồn tại không mặc nhiên làm tiêu biến quyền sử dụng đất chung. Pháp luật phải giải quyết quá trình chuyển tiếp từ quan hệ sở hữu đối với công trình đã bị phá dỡ sang những quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình xây dựng lại”, luật sư nói.

Theo đó, bảo vệ quyền sở hữu không có nghĩa bảo đảm chủ sở hữu được sử dụng mãi một công trình không còn an toàn. Thế nhưng, việc phá dỡ vì an toàn cũng không thể được hiểu là căn cứ để bỏ qua những quyền tài sản còn tồn tại của chủ sở hữu.

Một điểm khác cần lưu ý là quyền sở hữu tài sản đồng thời gắn với trách nhiệm của chủ sở hữu.

Khoản 1 Điều 162, Bộ luật Dân sự 2015 quy định, chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác. Vì vậy, khi công trình xuống cấp, không thể coi việc xây dựng lại, nghĩa vụ tài chính hoàn toàn của Nhà nước hoặc một chủ thể khác.

"Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận yêu cầu của Chính phủ về việc làm rõ quyền tiếp tục sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính của chủ sở hữu khi xây dựng lại chung cư", luật sư Hoàng Hà nói.

TS Trần Xuân Lượng – Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam cũng cho rằng, nhà chung cư là công trình xây dựng nên đương nhiên có tuổi thọ, niên hạn sử dụng và phải được kiểm định để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa quyền sở hữu căn hộ hoặc quyền sử dụng đất của người dân tự động chấm dứt khi công trình hết niên hạn.

Theo chuyên gia, việc quy định niên hạn sử dụng công trình nhằm phục vụ công tác kiểm định, bảo trì, cải tạo hoặc xây dựng lại là yêu cầu cần thiết để đảm bảo an toàn cho cư dân…

Giá vàng lặng sóng

https://znews.vn/gia-vang-lang-song-post1684548.html

  • Thứ hai, 21/9/2026 10:33 (GMT+7)
    Sau nhiều phiên biến động khó lường của tuần trước, giá vàng trong nước bất ngờ đi ngang trong 4 phiên giao dịch liên tiếp.
    Trong phiên giao dịch sáng nay (21/9), thị trường vàng trong nước duy trì xu hướng đi ngang với cả mặt hàng vàng miếng và vàng nhẫn so với kết phiên liền trước.

    Tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng miếng hiện được niêm yết ở mức 144,6 – 147,6 triệu đồng/lượng (mua – bán), không thay đổi so với cuối tuần trước.

    Tương tự, giá vàng nhẫn SJC 99,99 loại 1-5 chỉ hiện cũng duy trì mức giá 144,1 – 147,1 triệu đồng/lượng, cũng không thay đổi so với giá chốt phiên 19/9.

    Xu hướng đi ngang không chỉ diễn ra tại SJC mà còn được ghi nhận tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn khác như Tập đoàn DOJI, Tập đoàn Phú Quý, CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải.

    Các đơn vị này hiện đồng loạt neo giá bán vàng miếng ở 147,6 triệu/lượng, trong khi giá mua vào phổ biến ở mức 144,6 triệu đồng.

    Đáng chú ý, Mi Hồng là doanh nghiệp duy nhất tăng giá vàng miếng sáng nay. Cụ thể, mỗi lượng vàng miếng SJC tại đây đã tăng nhẹ thêm 100.000 đồng ở chiều mua – bán, hiện giao dịch tại 144,7 – 146,2 triệu/lượng.

    Đáng chú ý, xu hướng đi ngang của giá vàng trong nước đã diễn ra trong vòng 4 ngày qua. Tuy nhiên, tính chung trong 1 tuần gần nhất, giá vàng miếng vẫn ghi nhận mức tăng gần 2 triệu đồng mỗi lượng.

    Đối với vàng nhẫn trơn, giá bán phổ biến tại các doanh nghiệp vẫn neo trên 146 triệu đồng/lượng.

    Tại PNJ, Phú Quý, giá vàng nhẫn đang được niêm yết ở 144,6 – 147,6 triệu đồng/lượng. DOJI và Bảo Tín Minh Châu đang cùng giao dịch nhẫn tròn ở 143,6 – 147,6 triệu/lượng; cao nhất thị trường.

    Trong khi đó, Mi Hồng tiếp tục là đơn vị duy nhất tăng giá vàng nhẫn sáng nay, để giao dịch ở mức 144,7 – 146,2 triệu/lượng, tăng 100.000 đồng.

    Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay giảm gần 20 USD, tương đương 0,4%, xuống 4.360 USD/ounce. Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì lập trường cứng rắn trong cuộc chiến chống lạm phát dai dẳng.

    Trong khi đó, lợi suất trái phiếu Mỹ vẫn neo ở mức cao, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 5% – ngưỡng có ý nghĩa quan trọng về mặt tâm lý đối với thị trường.

    Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng những yếu tố trên chưa đủ để gây sức ép lớn lên giá vàng. Thay vì tập trung vào những biến động nhỏ của lãi suất, nhà đầu tư đang chú ý nhiều hơn đến các yếu tố mang tính cấu trúc, gồm tình hình tài chính công ngày càng xấu đi, lạm phát dai dẳng, bất ổn địa chính trị và xu hướng thay đổi trong phân bổ dự trữ toàn cầu.

    Trong tuần này, thị trường vàng sẽ theo dõi loạt dữ liệu kinh tế quan trọng, gồm PMI sơ bộ toàn cầu của S&P Global, quyết định chính sách tiền tệ của Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp hàng tuần của Mỹ, đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền và chỉ số niềm tin người tiêu dùng được điều chỉnh của Đại học Michigan.

    Trong đó, các dữ liệu liên quan đến hoạt động sản xuất của Mỹ sẽ được thị trường đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, phát biểu của một loạt quan chức Fed có thể tạo thêm biến động, khi nhà đầu tư tìm kiếm tín hiệu về định hướng chính sách tiền tệ sau đợt tăng lãi suất gần nhất. Đặc biệt, thị trường sẽ theo dõi liệu áp lực lạm phát dai dẳng có khiến Fed phải tiếp tục thắt chặt chính sách vào cuộc họp cuối năm.

Lãi suất cho vay bình quân lên 10,7%/năm, dự báo khó giảm

https://znews.vn/lai-suat-cho-vay-binh-quan-len-10-7-nam-du-bao-kho-giam-post1684551.html

  • Thứ hai, 21/9/2026 10:56 (GMT+7)
    Lãi suất cho vay bình quân tại các ngân hàng đã tăng lên 10,7%/năm trong tháng 8, tức cao hơn 3 điểm % so với mặt bằng của các khoản vay giải ngân cách đây một năm.
    Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong tháng 8/2026, lãi suất tiền gửi bình quân tiếp tục tăng tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, trong khi các kỳ hạn ngắn gần như đi ngang.

    Cụ thể, lãi suất tiền gửi bình quân bằng VND của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu dao động ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, không thay đổi so với tháng trước. Với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, lãi suất bình quân cũng giữ nguyên ở mức 4,1-4,6%/năm.

    Trong khi đó, các kỳ hạn dài hơn tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng tăng 0,2 điểm %, lên 6,5-8%/năm. Lãi suất kỳ hạn trên 12 đến 24 tháng tăng 0,1-0,2 điểm %, lên 6,1-7,6%/năm.

    Tương tự, lãi suất tiền gửi kỳ hạn trên 24 tháng tăng tối đa 0,2 điểm %, thay đổi từ 7,2-7,9%/năm lên 7,2-8,1%/năm.

    Không chỉ lãi suất huy động, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu cũng tăng trong tháng 8.

    Trong đó, lãi suất cho vay bình quân đã tăng 0,1-0,2 điểm %, lên 8,4-10,7%/năm, so với mức 8,3-10,5%/năm trong tháng trước. Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân hiện cao hơn khoảng 3 điểm % so với các khoản vay giải ngân cách đây một năm.

    Đối với các lĩnh vực ưu tiên, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND tăng nhẹ 0,1 điểm % so với tháng trước, lên khoảng 4%/năm. Mức này tương đương lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN.

    Trong khi đó, lãi suất cho vay bằng USD bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu vẫn ổn định ở mức 4,1-5,4%/năm.

    Theo nhóm phân tích tại Công ty Chứng khoán SSI, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, các ngân hàng đang có xu hướng dịch chuyển cơ cấu tín dụng sang các khoản vay trung và dài hạn, thay vì tập trung vào ngắn hạn.

    Đáng chú ý, cho vay mua nhà có dấu hiệu chững lại, kể cả tại những ngân hàng còn dư địa tín dụng lớn và có thế mạnh trong lĩnh vực này. Theo SSI, diễn biến này tương đối dễ hiểu khi lãi suất cho vay thả nổi phổ biến ở mức 12-14%/năm, khiến chi phí vay vốn trở thành yếu tố đáng cân nhắc đối với người mua nhà.

    Nhiều nhóm phân tích hiện cũng cho rằng lãi suất huy động và cho vay khó giảm trong ngắn hạn, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng tốc vào những tháng cuối năm.

    Theo các chuyên gia của SSI và Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới nhiều khả năng phải duy trì mặt bằng lãi suất hiện tại, thậm chí tiếp tục tăng nếu áp lực lạm phát kéo dài. Điều này có thể tạo thêm sức ép lên mặt bằng lãi suất trong nước, vốn đang chịu tác động từ diễn biến thanh khoản.

    Trong bối cảnh đó, lãi suất tại các ngân hàng thương mại được dự báo tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian tới, nhất là khi nhu cầu tín dụng tăng mạnh về cuối năm.

Dòng vốn Mỹ đang đổ vào lĩnh vực nào tại Việt Nam?

https://nhadautu.vn/dong-von-tu-my-dang-do-vao-linh-vuc-nao-tai-viet-nam-d107768.htmlĐÌNH DUY
07:00 22/09/2026

Tính đến cuối tháng 7/2026, Mỹ có 1.587 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 12,5 tỷ USD. Các nhà đầu tư Mỹ đang hiện diện tại Việt Nam từ những dự án năng lượng đến bán dẫn, AI, thiết kế chip và các thương vụ đầu tư tài chính.

Tính đến cuối tháng 7/2026, các nhà đầu tư Mỹ có 1.587 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký khoảng 12,5 tỷ USD, đứng thứ 11 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Cơ cấu hiện diện của doanh nghiệp Mỹ đang trải rộng từ năng lượng, sản xuất công nghiệp đến bán dẫn, thiết kế chip, AI và đầu tư tài chính.

Riêng 7 tháng đầu năm, nhà đầu tư Mỹ đăng ký khoảng 437,6 triệu USD, với 86 dự án cấp mới, tăng 67,9% so với cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, tính đến cuối tháng 4/2026, Việt Nam có 279 dự án đầu tư tại Mỹ, với tổng vốn đăng ký khoảng 1,45 tỷ USD.

Những dự án năng lượng tỷ USD

Một trong những dấu ấn lớn của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam là Nhà máy nhiệt điện BOT Mông Dương 2 tại Quảng Ninh.

Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD, công suất 1.240MW, do AES của Mỹ phát triển cùng các đối tác. Nhà máy đi vào vận hành thương mại từ năm 2015, cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia.

Mông Dương 2 là một trong những dự án FDI quy mô lớn của doanh nghiệp Mỹ trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam, với thời gian triển khai kéo dài nhiều năm và tổng vốn đầu tư ở mức hàng tỷ USD.

AES sau đó tiếp tục tham gia phát triển các dự án năng lượng tại Việt Nam, trong đó có Nhà máy điện khí LNG Sơn Mỹ 2 tại Bình Thuận.

Dự án gồm kho cảng LNG và nhà máy điện khí với công suất khoảng 2.250 MW, tổng vốn đầu tư được đề cập khoảng 2,1 tỷ USD.

AES và PV GAS ký thỏa thuận hợp tác phát triển Sơn Mỹ 2 từ năm 2019. Dự án được kỳ vọng vận hành thương mại khoảng năm 2028, sau khi hoàn tất các thủ tục đầu tư và triển khai xây dựng.

Sự hiện diện của AES cho thấy giai đoạn đầu, các dự án lớn của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam tập trung đáng kể vào những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn như điện và hạ tầng năng lượng.

Từ nền tảng này, dòng vốn Mỹ bắt đầu xuất hiện rõ nét hơn trong lĩnh vực công nghệ cao.

Một phần Nhà máy nhiệt điện BOT Mông Dương 2. Ảnh: Amesmongduong.vn

Từ Intel đến chuỗi bán dẫn

Nếu năng lượng là một trong những lĩnh vực tạo ra các dự án tỷ USD, công nghệ đang trở thành một hướng hiện diện khác của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam.

Intel khởi công nhà máy tại Khu Công nghệ cao TP.HCM năm 2006 và đưa vào hoạt động từ năm 2010. Vốn đầu tư ban đầu khoảng 1 tỷ USD, sau nhiều lần mở rộng, tổng vốn đầu tư cam kết của Intel tại Việt Nam hiện đạt khoảng 4,1 tỷ USD.

Nhà máy Intel Products Vietnam tập trung vào đóng gói và kiểm định chip. Sau 20 năm hoạt động, nhà máy đã xuất xưởng hơn 4 tỷ sản phẩm và đóng góp trên 110 tỷ USD giá trị xuất khẩu.

Nhà máy Intel Products Vietnam. Ảnh: IPV

Sau Intel, Amkor Technology đầu tư nhà máy tại Khu công nghiệp Yên Phong II-C, Bắc Ninh. Dự án có tổng vốn đầu tư theo các giai đoạn khoảng 1,6 tỷ USD, khởi công từ năm 2019 và tập trung vào đóng gói, kiểm định bán dẫn.

Trong khi Intel và Amkor tập trung vào sản xuất, đóng gói và kiểm định, Synopsys và Marvell hiện diện nhiều hơn ở khâu thiết kế và nghiên cứu phát triển. Synopsys phát triển hoạt động tại Việt Nam từ khoảng năm 2018, trong khi Marvell xây dựng đội ngũ R&D và thiết kế chip tại Việt Nam.

Hai doanh nghiệp này không có quy mô vốn công bố hàng tỷ USD như các dự án năng lượng hay nhà máy của Intel, Amkor. Tuy nhiên, hoạt động của họ nằm ở những công đoạn sử dụng nhiều nhân lực kỹ thuật và chất xám trong chuỗi bán dẫn.

Ở lĩnh vực AI, Nvidia cũng mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam như FPT và Viettel về phát triển AI, đào tạo nhân lực và xây dựng hệ sinh thái.

Dòng vốn Mỹ không chỉ nằm trong FDI

Sự hiện diện của vốn Mỹ tại Việt Nam còn thể hiện qua các thương vụ đầu tư vốn và M&A của những quỹ đầu tư tư nhân.

Warburg Pincus cho biết đã đầu tư hơn 2 tỷ USD vào Việt Nam từ năm 2013. Danh mục của quỹ có Vincom Retail, BW Industrial Development, Techcombank, MoMo cùng một số khoản đầu tư trong lĩnh vực bất động sản, du lịch và y tế.

Tại Hồ Tràm (Vũng Tàu, cũ), Warburg Pincus tham gia đầu tư vào dự án tổng hợp dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí The Grand Ho Tram có tổng vốn đầu tư 4,23 tỷ USD. Đến tháng 4/2025, dự án đã giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 2.000 lao động và đóng góp hơn 2.200 tỷ đồng vào ngân sách trong 5 năm.

Phân khu mới tại dự án The Grand Ho Tram. Ảnh: KN

KKR cũng đã đầu tư hơn 2 tỷ USD vào Việt Nam thông qua các khoản đầu tư vào Masan, Vinhomes, EQuest, KiotViet và Tập đoàn Y khoa Sài Gòn. Riêng tại Masan, KKR từng đầu tư 159 triệu USD vào Masan Consumer, trong khi tổng giá trị các khoản đầu tư vào hệ sinh thái Masan được đề cập ở mức khoảng 359 triệu USD.

Nhìn từ 12,5 tỷ USD vốn FDI đăng ký, dòng vốn Mỹ tại Việt Nam vẫn gắn với những dự án quy mô lớn trong năng lượng và công nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh các dự án này, sự hiện diện của doanh nghiệp Mỹ đang trải rộng hơn sang bán dẫn, thiết kế chip, R&D, AI và các thương vụ đầu tư vốn.

Điều này cũng cho thấy quy mô hiện diện của vốn Mỹ tại Việt Nam không chỉ thể hiện qua số vốn FDI đăng ký, mà còn qua các hoạt động đầu tư doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và tham gia chuỗi cung ứng.

Vì sao giá vàng nhẫn đắt ngang vàng miếng?

https://znews.vn/vi-sao-gia-vang-nhan-dat-ngang-vang-mieng-post1684588.html

  • Thứ hai, 21/9/2026 13:57 (GMT+7)
    Giá vàng nhẫn giảm khoảng 500.000 đồng trong khi vàng miếng SJC đi ngang, đưa giá bán của hai phân khúc về cùng mức 147,1 triệu đồng/lượng.
    Trong phiên giao dịch hôm nay, Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng ở mức 144,1 – 147,1 triệu đồng/lượng (mua – bán), không thay đổi so với giá chốt phiên cuối tuần trước.

    Đáng chú ý, mức giá này cũng đang được nhiều doanh nghiệp lớn áp dụng đối với sản phẩm vàng nhẫn. Cụ thể, CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) và Tập đoàn Phú Quý cùng niêm yết vàng nhẫn ở mức 144,1-147,1 triệu đồng/lượng.

    Tập đoàn DOJI và Bảo Tín Minh Châu cũng niêm yết giá bán vàng nhẫn ở mức 147,1 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua vào, hai doanh nghiệp này đang áp dụng mức giá thấp hơn giá mua vào của vàng miếng SJC khoảng 1 triệu đồng/lượng.

    Trong khi đó, giá vàng nhẫn giảm khoảng 500.000 đồng/lượng so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng giá của hai phân khúc về ngang nhau.

    Diễn biến này phản ánh sự khác biệt về nguồn cung, nhu cầu và cơ chế hình thành giá giữa vàng nhẫn và vàng miếng SJC.

    PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, lý giải vàng nhẫn là sản phẩm phản ánh sát nhất biến động giá vàng thế giới và phản ứng nhanh trước các nhịp điều chỉnh của thị trường quốc tế. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC còn chịu tác động đáng kể từ nguồn cung trong nước cũng như mức chênh lệch giá trên thị trường.

    Mặt khác, nhiều chuyên gia cho rằng sau giai đoạn tăng giá trước đó, vàng nhẫn cũng có thể chịu áp lực điều chỉnh khi một bộ phận nhà đầu tư chốt lời, trong khi người mua mới thận trọng hơn do giá vàng đang ở vùng cao. Vì vậy, tại cùng thời điểm, giá vàng nhẫn có thể điều chỉnh trong khi giá vàng miếng SJC vẫn được các doanh nghiệp giữ ổn định.

    Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay đang chịu áp lực giảm. Kim loại quý hiện mất gần 20 USD so với thời điểm mở cửa, tương đương mức giảm ròng 0,4%, xuống còn khoảng 4.358 USD/ounce.

    Quy đổi theo tỷ giá hiện hành (chưa tính thuế và phí) giá vàng thế giới tương đương khoảng 138 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng thế giới đang thấp hơn giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn trong nước khoảng 9 triệu đồng/lượng.