Năm 2027 phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực thi

https://cafef.vn/nam-2027-phan-dau-tang-truong-gdp-tu-10-tro-len-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-to-chuc-thuc-thi-18826101612161615.chn| 16-10-2026 – 12:42 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Năm 2027 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Trung ương yêu cầu chuyển mạnh từ chủ trương sang hành động, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu và đánh giá bằng kết quả thực chất.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề tại Hội nghị – Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ngày 16/10, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2027.

Kinh tế-xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, xung đột địa chính trị; chính sách thuế quan và xu hướng tăng lãi suất tại nhiều nền kinh tế lớn tác động mạnh đến kinh tế toàn cầu. Trong nước, khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, thời cơ.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều chủ trương, quyết sách lớn, từng bước định hình mô hình phát triển mới, thể chế phát triển mới và phương thức quản trị quốc gia. Chính phủ đã ban hành 32 chương trình hành động, chuyển mạnh từ ban hành chủ trương sang tổ chức thực hiện.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Trung ương thống nhất đánh giá năm 2026 đất nước tiếp tục đạt những kết quả quan trọng, khá toàn diện, trong đó có nhiều điểm sáng nổi bật.

Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. GDP 9 tháng tăng 9,01%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,33%, tiêu dùng tăng 13,4%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 888 tỷ USD, tăng 30,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%.

Công tác điều hành tài chính, ngân sách nhà nước chủ động, chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần hỗ trợ tăng trưởng.

Thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt khoảng 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ; cả năm ước đạt 3.055,7 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 20,8%. Dự kiến miễn, giảm, gia hạn khoảng 360 nghìn tỷ đồng thuế, phí để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đạt 62,9% kế hoạch. Bội chi ngân sách nhà nước cả năm ước khoảng 4,1% GDP. Nợ công khoảng 33-34% GDP, nợ Chính phủ khoảng 32-33% GDP, trong phạm vi cho phép.

Công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh. Năm 2026, Chính phủ dự kiến trình Quốc hội thông qua khoảng 78 luật, nghị quyết; cắt giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

Tổ chức bộ máy tiếp tục được sắp xếp, tinh gọn. Chính quyền địa phương hai cấp vận hành cơ bản ổn định, thông suốt. Việc sắp xếp thôn, tổ dân phố được hoàn thành, còn khoảng 48.000 đơn vị, giảm 46,33%.

Kết cấu hạ tầng chiến lược có bước phát triển, mở rộng không gian phát triển. Trong năm, hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, thông toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam phía đông.

Công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài được tập trung thực hiện, nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án. Riêng từ tháng 4 đến nay, đã tháo gỡ 2.448 dự án, với tổng mức đầu tư trên 1,68 triệu tỷ đồng và khoảng 115.000 ha đất.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được thúc đẩy. Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW bảo đảm tiến độ 1.932/2.011 nhiệm vụ, đạt 96,1%; đẩy mạnh kết nối, liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm. Lương cơ sở tăng 8% từ ngày 1/7/2026, phụ cấp đối với cán bộ, công chức cấp xã tăng từ 25% lên 55%. Đã khánh thành đồng loạt 107 trường học tại các xã biên giới. Trong 8 tháng đầu năm 2026, khoảng 52 triệu người được khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí.

Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục góp phần nâng cao vị thế đất nước, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.

Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu

Bên cạnh những kết quả đạt được, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cũng chỉ rõ các hạn chế, khó khăn, thách thức.

Áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ngày càng lớn. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ. Thị trường tiền tệ, tỉ giá chịu nhiều sức ép từ bên ngoài. Các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt kỳ vọng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế.

Cơ cấu xuất nhập khẩu chưa bền vững, cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD. Có 24/34 địa phương tăng trưởng 9 tháng thấp hơn mục tiêu cả năm, trong đó có những địa phương đầu tàu kinh tế.

Việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh cần tiếp tục được đẩy mạnh. Vận hành chính quyền địa phương hai cấp chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa thực sự tạo được đột phá tương xứng với yêu cầu.

Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, ngập úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ chưa được xử lý triệt để; an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao và ma túy còn diễn biến phức tạp.

Về nguyên nhân, bên cạnh tác động của tình hình thế giới và những hạn chế nội tại của nền kinh tế, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nhấn mạnh tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu.

Một số bộ, cơ quan, địa phương, nhất là người đứng đầu, chưa thực sự chủ động, sát sao, còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Công tác phối hợp có lúc chưa chặt chẽ, kịp thời.

Từ thực tiễn năm 2026, Chính phủ rút ra những bài học về xác định đúng thứ tự ưu tiên; chuyển mạnh từ chủ trương sang thực thi, gắn trách nhiệm với tiến độ và kết quả; phản ứng chính sách kịp thời, phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đồng thời, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đánh giá bằng số liệu, sản phẩm và kết quả thực tế.

Quý IV/2026 cần tăng trưởng 12,5%, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch đầu tư công

Về nhiệm vụ những tháng cuối năm, Trung ương xác định phải phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2026, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Để thực hiện mục tiêu này, quý IV/2026, cả nước cần đạt mức tăng trưởng 12,5%; đồng thời kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%, điều hành hiệu quả chính sách tài khóa, tiền tệ, bảo đảm các cân đối lớn.

Cùng với đó, đẩy mạnh kích cầu, mở rộng xuất khẩu, giảm nhập siêu; phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, thúc đẩy đầu tư tư nhân, tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, sớm đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh.

Các địa phương dự kiến đạt và vượt kịch bản tăng trưởng cần tiếp tục phấn đấu đạt cao hơn. Các địa phương chưa đạt phải quyết liệt hơn, tạo bứt phá để hoàn thành mục tiêu.

Đặc biệt, các cực tăng trưởng lớn như TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bắc Ninh cần tăng trưởng cao hơn, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng chung của cả nước.

Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, tiếp tục chú trọng phát triển văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; tăng cường bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu, củng cố quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Năm 2027: 30/34 địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Về mục tiêu, nhiệm vụ và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027, Trung ương xác định đây là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Mục tiêu trọng tâm là phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; lấy hiệu quả thực chất, năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển của doanh nghiệp và đời sống nhân dân làm thước đo.

Đồng thời, tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đa dạng hóa nguồn lực và chuyển mạnh từ chủ trương sang thực thi.

Trung ương thống nhất 45 chỉ tiêu chủ yếu năm 2027, gồm 22 chỉ tiêu về kinh tế, 14 chỉ tiêu về văn hóa-xã hội và 9 chỉ tiêu về môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo dự kiến, tăng trưởng GDP từ 10% trở lên; tốc độ tăng CPI khoảng 4,5%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 14%; kim ngạch xuất khẩu tăng 15%, nhập khẩu tăng 12%; tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội bằng 36-38% GDP; tăng suất lao động tăng 8,6%; đón 28-29 triệu lượt khách quốc tế.

Trung ương đồng thời xác định mục tiêu tăng trưởng của từng tỉnh, thành phố, trong đó có 30/34 địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên.

Một số địa phương được xác định mục tiêu tăng trưởng cao như Hà Nội 11,1%; TPHCM 10,4%; Hải Phòng 13%; Quảng Ninh 12%.

Về dự toán ngân sách nhà nước năm 2027, Trung ương thống nhất chủ trương cân đối ngân sách, phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng khoảng 9,1% so với thực hiện năm 2026.

Theo phương án dự kiến, tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 3,33 triệu tỷ đồng, tỉ lệ huy động vào ngân sách khoảng 20,2% GDP. Tổng chi khoảng 4,07 triệu tỷ đồng.

Thực hiện tiết kiệm ngay từ khâu phân bổ ngân sách đầu năm, gồm 5% chi đầu tư công để bổ sung cho các dự án trọng điểm, cấp thiết và 10% chi thường xuyên, ngoài phần tiết kiệm tạo nguồn cải cách tiền lương, để bổ sung nguồn chi an sinh xã hội.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Trung ương yêu cầu các cấp, các ngành, địa phương tập trung triển khai 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.

Trước hết, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên phải được cụ thể hóa thành kịch bản, chỉ tiêu, nhiệm vụ và sản phẩm của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và kết quả thực hiện.

Tiếp tục phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; có giải pháp giảm lãi suất cho vay, tăng thu, tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, kiên quyết điều chuyển vốn từ nơi giải ngân thấp sang nơi giải ngân tốt, hiệu quả cao.

Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật, xử lý dứt điểm các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn; cắt giảm thực chất thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; vận hành thông suốt chính quyền địa phương hai cấp.

Trung ương yêu cầu đề cao trách nhiệm người đứng đầu, đặc biệt là bí thư tỉnh ủy, thành ủy trong trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư, các dự án tồn đọng, kéo dài; không để tài sản hư hỏng, lãng phí.

Đồng thời, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư sân bay, cảng biển, trung tâm dữ liệu, khu thương mại tự do theo phong trào, gây trùng lặp, phân tán, lãng phí nguồn lực; thực hiện tốt quy định bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Về đổi mới mô hình phát triển, tập trung phát triển hệ sinh thái công nghiệp trong nước, công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ; cơ cấu lại thực chất doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của tăng trưởng; thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có công nghệ cao, giá trị gia tăng cao.

Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số; thúc đẩy các dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam; đẩy nhanh tiến độ các Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Gia Bình.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Trung ương yêu cầu chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể, lượng hóa đóng góp vào tăng trưởng; từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường khoa học-công nghệ.

Đồng thời, hoàn thiện Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và các trung tâm đổi mới sáng tạo vùng; đẩy mạnh kết nối, liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành.

Về giáo dục, đào tạo, tập trung giải quyết căn bản tình trạng thiếu trường, lớp, giáo viên; bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa trước năm học 2027-2028, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế và an sinh xã hội, tập trung nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển công nghiệp văn hóa, thực hiện hiệu quả các chương trình an sinh xã hội; phấn đấu hoàn thành trên 176.000 căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà ở công nhân trong năm 2027.

Cùng với đó, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu; củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế, nhất là ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, ngoại giao công nghệ; tổ chức thành công Năm APEC 2027.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, thông tin, tuyên truyền, chú trọng truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng chủ trương, tạo sự đồng thuận xã hội trong tổ chức thực hiện.

Để thống nhất nhận thức và hành động, Trung ương nhấn mạnh sáu trọng tâm cần quán triệt. Trong đó yêu cầu tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, hiệu quả thực chất và kỷ luật tài chính; mục tiêu tăng trưởng phải được cụ thể hóa đến từng địa phương, từng ngành; trách nhiệm phân bổ nguồn lực phải gắn với kết quả sử dụng.

Đặc biệt, phải tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực thi, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải tạo ra sản phẩm cụ thể, lượng hóa được đóng góp vào tăng trưởng.

Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, bộ, ngành, địa phương khẩn trương cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời các quyết sách; việc đã rõ phải làm ngay; phấn đấu hoàn thành cao nhất nhiệm vụ năm 2026, chủ động chuẩn bị kế hoạch, ngân sách, con người và nguồn lực để năm 2027 tăng tốc, bứt phá.

Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện, phát huy vai trò của nhân dân, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Năm 2027, dự kiến chi thường xuyên hơn 2 triệu tỷ, trong đó có chi cải cách tiền lương

https://cafef.vn/nam-2027-du-kien-chi-thuong-xuyen-hon-2-trieu-ty-trong-do-co-chi-cai-cach-tien-luong-188261016122412314.chnTheo Trường Phong | 16-10-2026 – 13:19 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, dự kiến tổng chi năm 2027 khoảng 4,07 triệu tỷ đồng. Trong đó chi đầu tư phát triển khoảng 1,76 triệu tỷ đồng, chiếm 43% tổng chi; chi thường xuyên 2,06 triệu tỷ đồng (chiếm 50,6%), bao gồm chi cải cách tiền lương.

Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

3.557 dự án tồn đọng, kéo dài được tháo gỡ

Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc truyền đạt những nội dung cơ bản về tình hình phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026; dự kiến kế hoạch năm 2027.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực, Trung ương thống nhất đánh giá năm 2026, tăng trưởng kinh tế cao, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn cơ bản được bảo đảm. GDP 9 tháng tăng 9,01%, thuộc nhóm tăng trưởng cao trên thế giới; các ngành, lĩnh vực chủ yếu tăng trưởng tích cực.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc. Ảnh: Như Ý.

Thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt khoảng 2,19 triệu tỷ đồng, đạt 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ, cả năm ước đạt hơn 3 triệu tỷ đồng, vượt dự toán 20,8% và tăng 14% so với thực hiện năm 2025.

Nợ công, nợ Chính phủ lần lượt khoảng 33-34% GDP và 32-33% GDP, thấp hơn giới hạn quy định.

Cùng với đó, cải cách thủ tục hành chính đạt mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay. Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết và nhiều văn bản khác, qua đó đã cắt giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

Kết quả nổi bật nữa là hạ tầng chiến lược đạt nhiều kết quả rõ nét, mở rộng không gian phát triển. Theo Phó Thủ tướng, chúng ta đã hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, thông toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông; khởi công đồng loạt 5 tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội.

Các dự án tồn đọng, kéo dài được tập trung tháo gỡ, nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án; các dự án điện gió, điện mặt trời được tháo gỡ và có kết quả.

Văn hóa, xã hội, an sinh xã hội được quan tâm, đời sống Nhân dân được nâng lên. Lương cơ sở tăng thêm 8% từ ngày 1/7/2026; phụ cấp đối với cán bộ, công chức cấp xã tăng từ 25% lên 55%. Nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê phát triển mạnh.

Khắc phục tình trạng đầu tư sân bay, trung tâm dữ liệu theo phong trào, gây lãng phí

Về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2027 và các chủ trương lớn về tài chính – ngân sách, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, Trung ương đồng ý phấn đấu thu năm 2027 tăng khoảng 9,1% so với thực hiện năm 2026.

Theo đó, tổng thu ngân sách Nhà nước khoảng 3,33 triệu tỷ đồng, tỷ lệ huy động vào ngân sách Nhà nước khoảng 20,2% GDP.

Tổng chi khoảng 4,07 triệu tỷ đồng. Trong đó chi đầu tư phát triển khoảng 1,76 triệu tỷ đồng, chiếm 43% tổng chi; chi thường xuyên 2,06 triệu tỷ đồng ( chiếm 50,6%), bao gồm chi cải cách tiền lương ; tiết kiệm ngay khi phân bổ ngân sách từ đầu năm 5% chi đầu tư công để bổ sung cho các dự án trọng điểm, cấp thiết và 10% chi thường xuyên, ngoài phần tiết kiệm tạo nguồn cải cách tiền lương, để bổ sung nguồn chi an sinh xã hội.

Đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Như Ý.

Bội chi ngân sách Nhà nước khoảng 740 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,5% GDP; nợ Chính phủ cuối năm 2027 dự kiến khoảng 33-34% GDP, các chỉ tiêu nợ công trong phạm vi cho phép.

Về phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng chiến lược, Trung ương lưu ý việc hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc; thúc đẩy đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam; đẩy nhanh tiến độ các Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Gia Bình.

“Kiên quyết khắc phục tình trạng địa phương đầu tư sân bay, cảng biển, trung tâm dữ liệu, khu thương mại tự do theo phong trào, lãng phí nguồn lực”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Ông Phạm Gia Túc cũng nêu rõ việc tạo chuyển biến căn bản trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.

“Quản lý chặt khoáng sản chiến lược, đẩy mạnh chế biến sâu, không xuất khẩu thô; tập trung xử lý các điểm nóng ô nhiễm; chủ động ứng phó thiên tai, không để bị động, bất ngờ”, Phó Thủ tướng Thường trực nói.

Dự kiến 4 năm nữa, tất cả địa phương thuộc vùng kinh tế chiếm 33% GDP cả nước đều là thành phố trực thuộc Trung ương

https://cafef.vn/du-kien-4-nam-nua-tat-ca-dia-phuong-thuoc-vung-kinh-te-chiem-33-gdp-ca-nuoc-deu-la-thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-188261015084336051.chnHà Giang | 15-10-2026 – 08:49 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Hiện vùng kinh tế này đang có đến 4 thành phố trực thuộc Trung ương.

Quang cảnh sông Hồng đoạn qua địa bàn Hà Nội (Ảnh: P.Hùng)

<

p dir=”ltr”>Vùng Đồng bằng sông Hồng đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội nước ta. Tại Diễn đàn logistics Vùng lần VII được tổ chức ngày 21/9, ông Hồ Sỹ Hùng- Chủ tịch VCCI thông tin, vùng Đồng bằng sông Hồng hiện chiếm tới 33,3% GDP của cả nước.

<

p dir=”ltr”>Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm các địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình. Các địa phương này đều là những đầu tàu kinh tế, cực tăng trưởng của vùng và đất nước.

<

p dir=”ltr”>Sau khi Quảng Ninh và Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong tháng 9, vùng Đồng bằng Sông Hồng hiện có 4 thành phố, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Bắc Ninh.

<

p dir=”ltr”>Trong khi đó, hai tỉnh còn lại là Hưng Yên và Ninh Bình đang hướng tới trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Tỉnh Hưng Yên: Đang hình thành không gian phát triển mới, mang động lực mới và khát vọng vươn lên mạnh mẽ

<

p dir=”ltr”>Mục tiêu xây dựng Hưng Yên trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 vừa được Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

<

p dir=”ltr”>Với mục tiêu này, Thủ tướng đề nghị địa phương cần rà soát đầy đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn, xác định rõ những tiêu chí đã đạt, những tiêu chí còn thiếu; xây dựng lộ trình, nhiệm vụ, đề án, công trình cụ thể.

<

p dir=”ltr”>Ưu tiên nguồn lực để hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị, nâng cao chất lượng quản trị, dịch vụ công và chất lượng sống của người dân; phấn đấu với quyết tâm cao nhất để sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

<

p dir=”ltr”>Cũng tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh Hưng Yên, Thủ tướng Lê Minh Hưng mong cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư nhìn nhận địa phương không chỉ ở những lợi thế hiện có, mà còn ở một không gian phát triển mới đang hình thành, đầy triển vọng, rất tiềm năng, kết nối trực tiếp với Thủ đô Hà Nội, các trung tâm công nghiệp lớn và không gian kinh tế hướng biển giàu tiềm năng.

<

p dir=”ltr”>Thủ tướng nêu rõ, Hưng Yên sau hợp nhất không chỉ lớn hơn về quy mô, rộng hơn về không gian, mà phải mạnh hơn về nội lực, cao hơn về năng lực cạnh tranh, tốt hơn về chất lượng tăng trưởng và đời sống nhân dân. Địa phương đang đứng trước một thời điểm có ý nghĩa quan trọng, với không gian phát triển mới, cơ hội mới, động lực mới và khát vọng vươn lên mạnh mẽ.

Tỉnh Hưng Yên (Ảnh: Internet)

<

p dir=”ltr”>Trước đó, tại buổi làm việc ngày 17/7, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để xây dựng Hưng Yên trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

<

p dir=”ltr”>Phó Thủ tướng chỉ ra, tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ thành lập 36 xã có tiềm năng, định hướng lên phường để thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ đơn vị hành chính đô thị của tỉnh đạt trên 50%; đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch đô thị và nông thôn bảo đảm đồng bộ, phủ kín, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị đa mục tiêu,

Tỉnh Ninh Bình: Định hướng trở thành "Đô thị di sản thiên niên kỷ"

<

p dir=”ltr”>Ninh Bình cũng là một trong số các địa phương đang tập trung thực hiện mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương tiếp theo của Việt Nam. Tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh ngày 10/7, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã yêu cầu địa phương triển khai hiệu quả Quy hoạch tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sau điều chỉnh.

<

p dir=”ltr”>Trong đó, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, địa phương cần tập trung chuẩn bị xây dựng Đề án tỉnh Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030 với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ.

<

p dir=”ltr”>Mới nhất, vào ngày 7/10, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 346/KH-UBND về thực hiện Chương trình hành động số 42-CTr/TU và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng, tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

<

p dir=”ltr”>Kế hoạch nêu rõ lộ trình cụ thể: Ninh Bình đặt mục tiêu hoàn thành các tiêu chuẩn đô thị loại I trong năm 2027; hoàn thành hồ sơ đề án thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2028 và chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Tỉnh Ninh Bình (Ảnh: Internet)

<

p dir=”ltr”>Để hiện thực hoá mục tiêu này, địa phương tập trung hoàn thành lập Quy hoạch chung đô thị Ninh Bình theo các tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương.

<

p dir=”ltr”>Hạ tầng chiến lược được bố trí nguồn lực để hoàn thiện, trọng điểm là các tuyến cao tốc, đường Vành đai 5, tuyến đường bộ ven biển. Kế hoạch cũng tổ chức không gian phát triển theo định hướng TOD quanh 03 ga hành khách đường sắt tốc độ cao tại Phủ Lý, Nam Định và Ninh Bình.

<

p dir=”ltr”>Về kinh tế, tỉnh ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, cơ khí ô tô, điện tử. Phát triển kinh tế biển được xác định là động lực quan trọng, tập trung xây dựng Khu kinh tế Ninh Cơ thành khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa chức năng kết nối với cảng biển và logistics.

<

p dir=”ltr”>Trong lĩnh vực văn hóa – du lịch, tỉnh phát triển ba trục sản phẩm chủ lực bao gồm: trục di sản kinh đô Thăng Long – Hoa Lư – Huế; trục di sản nhà Trần; và trục văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng.

TP.HCM dự kiến khởi công 5 tuyến metro hơn 167km cuối năm 2026

Theo PV/ VTC News | 15-10-2026 – 09:30 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tưTP.HCM dự kiến khởi công 5 tuyến metro cuối năm 2026, trong số này, tuyến Thủ Thiêm kết nối sân bay Long Thành có quy mô vốn lớn nhất, với khoảng 134.000 tỷ đồng.

Thông tin tại buổi làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM về tình hình kinh tế-xã hội và thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội chiều 14/10, lãnh đạo Sở Xây dựng TP.HCM cho biết trong quý cuối năm, Thành phố phấn đấu tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội trên 1,2 triệu tỷ đồng và giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công được giao.

Về thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt là Nghị quyết 188 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị (metro) tại Hà Nội và TP.HCM, Thành phố đang hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đầu tư 5 dự án metro thuộc danh mục 8 tuyến ưu tiên giai đoạn 2026 – 2030.

Dự kiến ngày cuối năm, Thành phố sẽ đồng loạt khởi công cả 5 tuyến metro này.

TP.HCM dự kiến khởi công 5 tuyến metro hơn 167km cuối năm 2026- Ảnh 1.

Phối cảnh ga ngầm Tao Đàn của Metro số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương, trong tương lai, ga này cũng là ga kết nối tuyến Thủ Dầu Một – Tao Đàn và tuyến số 3. (Ảnh: MAUR)

Các dự án gồm Tuyến Metro số 1 nối từ TP mới Bình Dương đến ga Suối Tiên của tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên. Tuyến này có chiều dài 32,8km, tổng vốn đầu tư khoảng 55.000 tỷ đồng.

Tuyến số 2 nối từ Thủ Dầu Một đến trung tâm TP.HCM, có chiều dài 35 km, tổng vốn đầu tư khoảng 113.000 tỷ đồng.

TP.HCM cũng duyệt hướng tuyến metro này, với điểm đầu tuyến là ga C0 kết nối với ga S5 của tuyến Metro số 1 đoạn TP mới Bình Dương – Suối Tiên; điểm cuối là ga C23 tại khu vực công viên Tao Đàn thuộc phường Bến Thành, kết nối với ga Tao Đàn thuộc tuyến Metro số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương và tuyến Metro số 3 Tao Đàn – An Hạ.

Tuyến số 3 dự kiến khởi công cuối năm nay là giai đoạn 1 của tuyến Metro số 6 từ sân bay Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu, kết nối với tuyến Thủ Thiêm – Long Thành, có chiều dài 23km, tổng vốn đầu tư hơn 86.500 tỷ đồng.

3 tuyến metro này dự kiến đầu tư công bằng vốn ngân sách TP.HCM. Thành phố đã giao Ban Quản lý Đường sắt đô thị làm chủ đầu tư.

Tuyến số 2 Tham Lương – An Hạ – Khu đô thị Tây Bắc dài 30 km cũng dự kiến khởi công trong cuối năm. Tuyến này vốn đầu tư đề xuất là 85.000 tỷ đồng, theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Với tuyến Thủ Thiêm – Long Thành, đây là tuyến được xác định có vị trí hết sức quan trọng kết nối trực tiếp trung tâm TP.HCM với sân bay Long thành.

Tuyến Thủ Thiêm – Long Thành dài 47km, được đầu tư theo hình thức PPP, với tổng vốn khoảng 134.000 tỷ đồng, do Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Đại Quang Minh đầu tư. Đây là tuyến metro đi qua 2 thành phố là TP.HCM và Đồng Nai. Trong đó, đoạn qua TP.HCM dài 11,5 km và qua TP Đồng Nai gần 36 km.

Theo Sở Xây dựng, dự kiến Metro kết nối Thủ Thiêm – Long Thành sẽ phê duyệt trong tháng 11; các tuyến còn lại cũng dự kiến phê duyệt trong tháng 11 hoặc 12.

Ngoài ra, các nhà đầu tư đang nghiên cứu, đề xuất đầu tư tuyến Metro số 4 Đông Thạnh – Hiệp Phước và tuyến Metro số 3 An Hạ – Tao Đàn. Tuyến Vũng Tàu – Bà Rịa – Phú Mỹ cũng được Ban Quản lý Đường sắt đô thị cũng nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư.

Tuyến đường sắt tổng hợp Chơn Thành – Bàu Bàng – Cái Mép nối các khu công nghiệp và cảng biển cũng có nhà đầu tư đề xuất.

Với những dự án metro đang triển khai, theo thông tin từ Sở Xây dựng, tuyến số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương có chiều dài 11,3 km với tổng mức đầu tư 55.179 tỷ đồng đã bàn giao 100% mặt bằng.

Đơn vị thi công đang đồng loạt thi công nhiều nhà ga; theo kế hoạch, dự án sẽ hoàn thành kết cấu năm 2029 và chạy thương mại cuối năm 2030.

TP.HCM dự kiến khởi công 5 tuyến metro hơn 167km cuối năm 2026- Ảnh 2.

Tuyến Metro số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương dài 13km đang khẩn trương thi công, để hoàn thành cuối 2029 đầu 2030. (Ảnh: K.S)

Tuyến Bến Thành – Cần Giờ động thổ ngày 19/12/2025, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giải ngân 73% kế hoạch vốn năm 2026, dự kiến bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư trong tháng 11 này.

Tuyến Bến Thành – Thủ Thiêm khởi công ngày 29/4, dự kiến hoàn thành năm 2030.

TP.HCM đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh mẽ nhất phát triển mạng lưới metro, hướng tới hoàn thành 255km vào năm 2030 và hơn 500km vào năm 2035. Theo Ban quản lý Đường sắt đô thị, giai đoạn 2026-2030, Thành phố triển khai 8 dự án ưu tiên, với khoảng 230km.

Song song với đầu tư, TP.HCM định hướng từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ xây dựng, sản xuất đầu máy, toa xe, thông tin tín hiệu và các hệ thống thiết bị khác, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Hiện nhiều doanh nghiệp Việt như THACO, Vinspeed, Becamex, Sovico, Coteccons… đã mạnh dạn đầu tư metro, đồng thời trở thành những đơn vị thi công các hạng mục phức tạp của hệ thống giao thông này.

Hơn 1.700 tỷ làm 5 km đường nối cao tốc với sân bay Buôn Ma Thuột

https://cafef.vn/hon-1700-ty-lam-5-km-duong-noi-cao-toc-voi-san-bay-buon-ma-thuot-188261015084503446.chnTheo Huỳnh Thủy | 15-10-2026 – 09:00 AM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Tuyến đường dài hơn 5km, có tổng mức đầu tư 1.730 tỷ đồng, được kỳ vọng tăng cường kết nối từ cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột đến Quốc lộ 27 và sân bay Buôn Ma Thuột.

UBND tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng đường kết nối điểm cuối cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột với đường Võ Nguyên Giáp, tổng mức đầu tư hơn 1.700 tỷ đồng.

Hơn 1.700 tỷ làm 5 km đường nối cao tốc với sân bay Buôn Ma Thuột- Ảnh 1.

Tuyến đường tỉnh Đắk Lắk chuẩn bị đầu tư sẽ kết nối các tuyến cao tốc, quốc lộ 27 với mạng lưới giao thông đô thị và sân bay Buôn Ma Thuột.

Theo phương án được phê duyệt, tuyến đường dài khoảng 5,054km. Điểm đầu tại nút giao Km117+593 của cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, thuộc xã Ea Knuếc; điểm cuối tại nút giao quốc lộ 27 với đường Võ Nguyên Giáp và đường Đam San, thuộc phường Tân Lập.

Tuyến đường được thiết kế theo tiêu chuẩn trục chính đô thị cấp I, vận tốc thiết kế 80 km/h, nền đường rộng 70 m.

Tổng mức đầu tư dự án hơn 1.700 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương bố trí 1.038 tỷ đồng, ngân sách tỉnh hơn 690 tỷ đồng. Dự án thuộc nhóm B, dự kiến triển khai trong 4 năm, từ năm 2026 đến năm 2029.

Khi hoàn thành, tuyến đường sẽ góp phần tăng cường kết nối giữa cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột với Quốc lộ 27, đường Võ Nguyên Giáp và sân bay Buôn Ma Thuột; đồng thời tạo điều kiện phát triển đô thị, thương mại và dịch vụ tại địa phương.

Lãi suất chưa thể ‘hạ nhiệt’: Doanh nghiệp cần chủ động bài toán vốn

https://cafef.vn/lai-suat-chua-the-ha-nhiet-doanh-nghiep-can-chu-dong-bai-toan-von-188261016213413843.chnTheo Quỳnh Trang | 16-10-2026 – 22:33 PM | Tài chính – ngân hàng

Nhu cầu vốn gia tăng cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế, trong khi áp lực lạm phát và chi phí huy động tiếp tục hạn chế dư địa giảm lãi suất cho vay. Trao đổi về vấn đề này, TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng doanh nghiệp cần chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát dòng tiền và xây dựng các kịch bản tài chính để ứng phó với biến động.

Thưa ông, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng cao và nhu cầu vốn ngày càng lớn, những yếu tố nào khiến mặt bằng lãi suất chưa thể hạ nhiệt?

Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt 9,01% và quý III tiệm cận 10% là những kết quả rất ấn tượng. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế vẫn đối mặt với áp lực lạm phát, trong khi nhu cầu tín dụng và vốn đầu tư của doanh nghiệp ngày càng lớn.

Bài toán đặt ra không chỉ là làm thế nào đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, mà còn là khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng có theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hay không.

Lạm phát cơ bản hiện ở mức 4,26%, trong khi lạm phát thực tế là 4,52%. Những con số này cho thấy nền kinh tế đang tăng tốc nhưng đồng thời chịu áp lực gia tăng giá cả. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục duy trì ở mức cao hoặc nhích tăng cục bộ, thay vì có nhiều dư địa giảm trong thời gian gần. Có ba yếu tố chính tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất hiện nay.

Lãi suất chưa thể ‘hạ nhiệt’: Doanh nghiệp cần chủ động bài toán vốn- Ảnh 1.

Thứ nhất, khi lạm phát còn cao, người gửi tiền có xu hướng yêu cầu mức lãi suất danh nghĩa cao hơn để bảo đảm lãi suất thực dương và bù đắp rủi ro. Muốn duy trì nguồn vốn huy động ổn định, các ngân hàng phải trả chi phí đầu vào phù hợp. Điều này tạo áp lực lên lãi suất cho vay.

Thứ hai, lãi suất cho vay không chỉ phụ thuộc vào chi phí huy động mà còn chịu tác động của chi phí vận hành, phần bù rủi ro đối với từng nhóm khách hàng và biên lợi nhuận của ngân hàng. Khi các cấu phần này vẫn ở mức cao, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế.

Thứ ba, các yếu tố bên ngoài như chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giá năng lượng và nguyên vật liệu nhập khẩu tiếp tục tạo sức ép. Trong khi đó, NHNN và Chính phủ đồng thời phải giải quyết bài toán ổn định lãi suất, cân đối tỷ giá và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục phân hóa theo từng nhóm khoản vay. Doanh nghiệp cần chuẩn bị trước các kịch bản ứng phó với khả năng chi phí vốn gia tăng, thay vì chỉ trông chờ vào việc lãi suất giảm.

Khi dư địa giảm lãi suất còn hạn chế, doanh nghiệp nên lựa chọn cơ cấu nguồn vốn như thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư, vừa bảo đảm khả năng trả nợ, thưa ông?

Trước khi tìm kiếm nguồn vốn hoặc quyết định vay bao nhiêu, doanh nghiệp cần rà soát, chấn chỉnh toàn bộ hoạt động kế toán và tài chính nội bộ. Hệ thống số liệu phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, trung thực, nhất quán, dễ so sánh và minh bạch. Doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn chất lượng nếu hệ thống sổ sách tài chính chưa đạt chuẩn mực.

Xét dưới góc độ tài chính, bản chất của hoạt động kinh doanh là tạo ra dòng tiền lớn hơn chi phí sử dụng vốn. Doanh nghiệp có thể huy động từ ba nguồn chính gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu, qua đó hình thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Cấu trúc vốn cần được thiết lập ở mức phù hợp để tối ưu chi phí sử dụng vốn, nâng cao giá trị doanh nghiệp và bảo đảm khả năng trả nợ. Tỷ lệ giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu không nên áp dụng cứng nhắc, mà cần điều chỉnh theo quy mô và mức độ ổn định của từng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp khởi nghiệp nên ưu tiên vốn chủ sở hữu nhằm hạn chế rủi ro phá sản. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỷ lệ nợ có thể ở mức 30–50%. Doanh nghiệp có mô hình kinh doanh ổn định có thể sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn, khoảng 70%.

Một nguyên tắc quan trọng là phải cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản được tài trợ. Nợ ngắn hạn nên được sử dụng để tài trợ tài sản ngắn hạn lưu động. Nguồn vốn dài hạn, bao gồm nợ trung và dài hạn cùng vốn chủ sở hữu, cần được sử dụng để tài trợ tài sản dài hạn như nhà xưởng, máy móc, thiết bị; đồng thời có thể tài trợ một phần tài sản ngắn hạn thường xuyên để bảo đảm cân đối nguồn vốn.

Doanh nghiệp không nên sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản trung và dài hạn. Việc mất cân đối kỳ hạn có thể tạo ra rủi ro thanh khoản lớn, đặc biệt khi ngân hàng không tiếp tục gia hạn hoặc tái cấp hạn mức tín dụng ngắn hạn. Khi đó, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Trong bối cảnh chi phí vốn còn chịu nhiều sức ép, xây dựng cơ cấu nguồn vốn phù hợp vừa giúp kiểm soát chi phí, vừa hạn chế nguy cơ mất cân đối dòng tiền khi điều kiện tín dụng thay đổi.

Ông khuyến nghị doanh nghiệp chuẩn bị những kịch bản và giải pháp cụ thể nào để ứng phó nếu lãi suất, tỷ giá tiếp tục khó khăn?

Doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động trong môi trường kinh doanh toàn cầu nhiều bất định. Đây là thách thức chung của doanh nghiệp trên thế giới. Sự khác biệt giữa thành công và thất bại nằm ở năng lực quản trị, khả năng nhận diện rủi ro và mức độ chủ động của người lãnh đạo.

Để tránh bị động, doanh nghiệp cần xây dựng ba kịch bản tài chính rõ ràng.

Kịch bản thứ nhất là kịch bản cơ sở, dựa trên các tham số hiện tại về lãi suất, tỷ giá và chi phí nguyên vật liệu đầu vào, từ đó xác định doanh thu và lợi nhuận kỳ vọng.

Kịch bản thứ hai là kịch bản xấu, giả định các biến số vĩ mô thay đổi theo hướng bất lợi ở mức vừa phải. Chẳng hạn, tỷ giá tăng 3% từ nay đến cuối năm hoặc lãi suất vay tăng thêm 1–2 điểm phần trăm. Doanh nghiệp cần tính toán mức độ ảnh hưởng của những thay đổi này đến lợi nhuận trước thuế.

Kịch bản thứ ba là kịch bản xấu nhất, trong đó các biến số được đặt ở mức biến động cực đoan nhằm kiểm tra sức chịu đựng của mô hình kinh doanh trước những cú sốc lớn.

Giá trị của việc lập kịch bản không chỉ nằm ở các con số dự báo, mà còn ở khả năng chuẩn bị sẵn phương án hành động tương ứng. Doanh nghiệp cần xác định trước cách ứng phó nếu lãi suất, tỷ giá hoặc chi phí đầu vào diễn biến bất lợi, thay vì chờ biến động xảy ra mới tìm giải pháp.

Với rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ phòng ngừa như hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ tại ngân hàng thương mại. Đối với áp lực chi phí vốn, doanh nghiệp cần tăng cường kỷ luật tài chính, đẩy nhanh vòng quay hàng tồn kho, quản trị chặt chẽ các khoản phải thu và thu hồi công nợ. Đây là những giải pháp giúp cải thiện dòng tiền trong hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể thanh lý các tài sản hoạt động kém hiệu quả hoặc kêu gọi cổ đông hiện hữu tăng vốn chủ sở hữu để cơ cấu lại nguồn vốn, giảm áp lực nợ vay.

Nhu cầu vốn gia tăng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải đồng thời nâng cao tính minh bạch tài chính, cân đối kỳ hạn vay và chủ động phương án ứng phó với biến động. Kiểm soát tốt dòng tiền và lựa chọn cơ cấu vốn phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tăng sức chống chịu, đồng thời có điều kiện tận dụng cơ hội khi thị trường thay đổi.

Xin cảm ơn ông!

Một cổ phiếu ngân hàng tăng gần 11% trong hôm nay

https://cafef.vn/mot-co-phieu-ngan-hang-tang-gan-11-trong-hom-nay-188261016160235718.chnThanh Anh | 16-10-2026 – 16:05 PM | Tài chính – ngân hàng
Một cổ phiếu ngân hàng tăng gần 11% trong hôm nay

Cổ phiếu này tăng mạnh sau khi ngân hàng công bố nghị quyết HĐQT về phương án chào bán cổ phiếu riêng lẻ.’

Kết phiên 16/10, VN-Index tăng 7,56 điểm (0,45%) lên 1.705,91 điểm. VN30 tăng 0,63%. Thanh khoản trên HOSE chỉ đạt 10.795 tỷ đồng, thấp nhất trong 20 phiên gần đây.

Ngân hàng là nhóm ngành vốn hóa lớn tăng tốt nhất phiên với hàng loạt mã ngập trong sắc xanh.

Đặc biệt, cổ phiếu PCB của PVCombank hôm nay tăng 10,84% lên 9.200 đồng/cp, mức giá giao dịch cao nhất trong phiên. Thanh khoản PCB cũng cải thiện với hơn 1,4 triệu đơn vị khớp lệnh, so với mức binh quân quanh 300.000 đơn vị các phiên trước.

Đà tăng diễn ra ngay sau khi PVcomBank công bố nghị quyết HĐQT về phương án chào bán cổ phiếu riêng lẻ vào ngày 15/10. Theo danh sách công bố, 7 nhà đầu tư gồm hai cá nhân là ông Phạm Thanh Tiến, ông Cao Hùng Cường và 5 doanh nghiệp dự kiến mua 300 triệu cổ phiếu. Trước đợt chào bán, các nhà đầu tư này nắm khoảng 88 triệu cổ phiếu PCB. Nếu hoàn tất giao dịch, sở hữu của họ sẽ tăng lên hơn 388 triệu cổ phiếu, tương đương 32,37% vốn sau phát hành, trong đó nhiều tổ chức sở hữu sát ngưỡng 5%.

Đứng thứ hai về mức tăng là VBB của Vietbank, tăng 5,96% lên 12.450 đồng/cp, sát giá trần 12.550 đồng. Cổ phiếu này tăng sau khi ngân hàng công bố ước lợi nhuận 9 tháng đạt 1.297 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ. Vietbank cũng đang triển khai chào bán 296 triệu cổ phiếu để nâng vốn điều lệ lên gần 15.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, thanh khoản VBB rất mỏng, chỉ hơn 31.000 cổ phiếu được khớp trong phiên.

Nhiều cổ phiế lớn khác cũng tăng mạnh như CTG (+2,68%), SHB (+2,4%), BID (+2,26%), LPB (+2,15%).

Thanh khoản trên HOSE hôm nay chỉ đạt gần 11.000 tỷ đồng, thấp nhất 20 phiên. Cổ phiếu ngân hàng vẫn chiếm 6 trong 10 mã có giá trị giao dịch lớn nhất thị trường.

HDB dẫn đầu toàn thị trường với 600 tỷ đồng, tương ứng 26,7 triệu cổ phiếu, dù giá không đổi. SHB đứng thứ hai với 561 tỷ đồng và có khối lượng khớp lớn nhất sàn, hơn 52,4 triệu cổ phiếu. Tiếp theo là TCB (441 tỷ đồng), VPB (372 tỷ đồng), CTG (320 tỷ đồng) và MSB (249 tỷ đồng).

Khối ngoại bán ròng 553 tỷ đồng trên ba sàn, phiên bán ròng thứ năm liên tiếp. Tổng giá trị bán ròng trong 20 phiên gần nhất đã lên 21.592 tỷ đồng. Riêng HDB bị bán ròng 182 tỷ đồng, bằng khoảng một phần ba tổng mức bán ròng toàn thị trường. Khối ngoại cũng bán ròng MSB (45 tỷ đồng), VCB (36 tỷ đồng), VPB (26 tỷ đồng) và SHB (10 tỷ đồng).

Ở chiều mua, CTG được mua ròng 42 tỷ đồng, MBB 32 tỷ đồng và TCB 27 tỷ đồng. Cả ba đều nằm trong top 5 mã được khối ngoại mua ròng nhiều nhất phiên.

Giá vàng rớt thê thảm, người mua vàng trong năm qua lỗ nặng

https://cafef.vn/gia-vang-rot-the-tham-nguoi-mua-vang-trong-1-nam-qua-lo-nang-188261015145337836.chnThanh Anh | 15-10-2026 – 16:46 PM | Tài chính – ngân hàng

Giá vàng rớt thê thảm, người mua vàng trong năm qua lỗ nặng

Hầu hết những người mua vàng trong 1 năm qua đều bị lỗ cho đến thời điểm này.

Chỉ có 1 thời điểm mua có lãi trong 1 năm qua

Ngày 15/10/2026, thị trường vàng trong nước tiếp tục ghi nhận mức giá thấp quanh vùng 140 triệu đồng/lượng. Trong đó, hiện loạt thương hiệu lớn như SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu,… niêm yết giá vàng miếng ở mức 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.

So với mức đỉnh 190,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra từng ghi nhận vào đầu tháng 3/2026, giá vàng miếng SJC hiện thấp hơn tới 47,6 triệu đồng/lượng, tương đương gần 25%.

Nếu một người bỏ ra 190,9 triệu đồng mua một lượng vàng miếng SJC ở vùng đỉnh và bán lại theo giá mua vào sáng 15/10, số tiền thu về chỉ còn 140,3 triệu đồng. Như vậy, khoản lỗ lên tới 50,6 triệu đồng/lượng, tương đương khoảng 26,5% số vốn ban đầu. Với người mua 5 lượng vàng ở vùng giá này, khoản lỗ tạm tính lên tới 253 triệu đồng. Nếu mua 10 lượng, số tiền chênh lệch đã vượt 500 triệu đồng.

Hầu hết người mua vàng trong 1 năm qua đều đang chịu lỗ, chỉ ngoại trừ một số thời điểm khi giá vàng rơi mạnh, ví dụ như ngày 11/6/2026 khi giá bán của các doanh nghiệp từ 136 đến 138 triệu đồng/lượng.

Cụ thể, người mua một lượng vàng ở mức 136 triệu đồng/lượng ngày 11/6, nếu bán theo giá mua vào 140,3 triệu đồng/lượng hiện tại, sẽ thu về khoản lãi 4,3 triệu đồng, tương đương khoảng 3,2% số vốn bỏ ra. Đối với người mua 5 lượng vàng, khoản lãi hiện tại đạt 21,5 triệu đồng. Nếu mua 10 lượng, lợi nhuận lên tới 43 triệu đồng.

Ngay cả những người mua vào cuối ngày 11/6 với mức giá 138,4 triệu đồng/lượng cũng vẫn lãi 1,9 triệu đồng/lượng, tương đương khoảng 1,4%.

Giá vàng rớt thê thảm, người mua vàng trong năm qua lỗ nặng- Ảnh 1.

Đáng chú ý, giá vàng trong nước hiện vẫn duy trì chênh lệch đáng kể giữa chiều mua vào và bán ra. Tại SJC, mức chênh lệch sáng 15/10 là 3 triệu đồng/lượng. Điều này đồng nghĩa người mua vàng không chỉ chịu tác động từ biến động giá mà còn phải tính đến khoảng cách giữa hai chiều giao dịch khi xác định lãi, lỗ thực tế.

Chẳng hạn, dù giá vàng miếng SJC đang được niêm yết bán ra ở mức 143,3 triệu đồng/lượng, người sở hữu vàng mang bán lại cho doanh nghiệp chỉ nhận được 140,3 triệu đồng/lượng. Do đó, những người từng mua vàng với giá cao hơn 140,3 triệu đồng/lượng vẫn đang chịu lỗ nếu tất toán khoản đầu tư ở thời điểm này.

Kể từ khi rơi xuống dưới vùng 150 triệu đồng/lượng vào tháng 6/2026, giá vàng trong nước nhìn chung vẫn loay hoay ở mặt bằng thấp hơn đáng kể so với vùng đỉnh hồi đầu năm. Dù có những nhịp phục hồi, thị trường chưa hình thành được xu hướng tăng đủ mạnh và bền vững để quay trở lại mức giá từng thiết lập vào đầu tháng 3.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng cũng chịu áp lực điều chỉnh mạnh trong thời gian gần đây, lùi về sát 4.000 – 4.100 USD/ounce. Một trong những yếu tố gây sức ép lên giá vàng là sự mạnh lên của đồng USD và triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Số liệu lạm phát tháng 9 của Mỹ cao hơn dự báo đã làm gia tăng khả năng Fed tiếp tục nâng lãi suất. Trong bối cảnh đó, sức hấp dẫn của vàng phần nào suy giảm do đây là tài sản không mang lại thu nhập từ lãi.

Chênh lệch giá vàng trong nước – thế giới ngày càng thu hẹp

Trên thực tế, giá vàng trong nước vẫn diễn biến tương đối đồng pha với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mức giảm mạnh của giá vàng miếng SJC trong thời gian qua đã kéo khoảng cách giữa hai thị trường thu hẹp đáng kể.

Nếu tại thời điểm lập đỉnh đầu tháng 3/2026, giá vàng miếng SJC cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng 20 triệu đồng/lượng thì đến ngày 15/10, mức chênh lệch chỉ còn khoảng 12,7 triệu đồng/lượng.

Cụ thể, tại thời điểm giá vàng miếng SJC lập đỉnh 190,9 triệu đồng/lượng ngày 2/3/2026, giá vàng thế giới quy đổi theo tỷ giá bán USD Vietcombank vào khoảng 171,5triệu đồng/lượng. Như vậy, vàng miếng trong nước khi đó cao hơn giá thế giới khoảng 19,4 triệu đồng/lượng, tương đương 11,4%.

Giá vàng rớt thê thảm, người mua vàng trong năm qua lỗ nặng- Ảnh 2.

Đến ngày 15/10, giá vàng thế giới ở mức khoảng 4.154 USD/ounce. Với tỷ giá bán USD Vietcombank 26.080 đồng/USD, giá vàng quốc tế quy đổi tương đương 130,6 triệu đồng/lượng, chưa bao gồm thuế và các chi phí liên quan.

Thậm chí năm 2026 là đã chứng kiến hiện tượng hiếm thấy khi giá vàng quốc tế quy đổi có lúc tiến sát, thậm chí có thời điểm cao hơn giá vàng miếng SJC.

Điều này có nghĩa, việc chỉ theo dõi diễn biến giá vàng thế giới để lướt sóng vàng trong nước có thể tiềm ẩn rủi ro đáng kể. Bởi dù hai thị trường nhìn chung biến động cùng chiều, mức tăng, giảm không hoàn toàn tương ứng. Do đó, ngay cả khi dự đoán đúng xu hướng giá vàng quốc tế, nhà đầu tư vẫn có thể thua lỗ nếu giá vàng trong nước tăng chậm hơn, giảm mạnh hơn hoặc chênh lệch mua – bán nới rộng bởi nhiều yếu tố trong nước như tỷ giá, cung – cầu,…

NHNN công bố tiền gửi người dân lập kỷ lục 11,4 triệu tỷ, tăng không ngừng kể từ đầu năm

https://cafef.vn/nhnn-cong-bo-tien-gui-nguoi-dan-lap-ky-luc-114-trieu-ty-tang-khong-ngung-ke-tu-dau-nam-188261016154253267.chnMinh Vy | 16-10-2026 – 15:45 PM | Tài chính – ngân hàng

Từ đầu năm đến tháng 8/2026, tiền gửi tại hệ thống ngân hàng tăng gần 1,26 triệu tỷ đồng. Cứ 10 đồng gửi thêm vào ngân hàng thì 9 đồng đến từ người dân, trong khi tiền gửi doanh nghiệp tăng nhẹ.

NHNN công bố tiền gửi người dân lập kỷ lục 11,4 triệu tỷ, tăng không ngừng kể từ đầu năm - Ảnh 1.

Số liệu mới nhất do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố cho thấy, đến cuối tháng 8/2026, tổng tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 17,77 triệu tỷ đồng. So với cuối tháng 7, quy mô này tăng thêm hơn 310.000 tỷ đồng, tương đương 1,78%.

Đây là mức tăng theo tháng lớn thứ hai kể từ đầu năm, chỉ sau tháng 6/2026 (tăng khoảng 445.000 tỷ đồng, tương đương 2,62%), và cao hơn hẳn mức tăng gần như đi ngang của tháng 7 (chỉ tăng gần 21.000 tỷ đồng, tương đương 0,12%).

Lũy kế 8 tháng đầu năm, tổng tiền gửi tại hệ thống đã tăng gần 1,26 triệu tỷ đồng, tương đương 7,6% so với cuối năm 2025. Nếu so với cùng thời điểm tháng 7 của năm trước, tổng tiền gửi cuối tháng 7/2026 đã cao hơn khoảng 11%.

Tiền gửi dân cư lập kỷ lục

Động lực chính của tháng 8 tiếp tục đến từ khu vực dân cư. Tiền gửi của dân cư đạt khoảng 11,43 triệu tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay, tăng gần 214.000 tỷ đồng (1,91%) so với tháng trước.

Tính từ đầu năm, tiền gửi dân cư đã tăng gần 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương 10,63%, đóng góp khoảng 87,5% toàn bộ phần tăng thêm của tổng tiền gửi hệ thống. Đáng chú ý, tiền gửi dân cư chưa có tháng nào sụt giảm trong năm nay.

Tỷ trọng tiền gửi dân cư trong tổng tiền gửi hệ thống theo đó tiếp tục nới rộng, từ 62,58% cuối năm 2025 lên 64,34% cuối tháng 8/2026.

Tiền gửi doanh nghiệp hồi phục

Tiền gửi khu vực doanh nghiệp cuối tháng 8/2026 đạt khoảng 6,34 triệu tỷ đồng, tăng hơn 96.000 tỷ đồng (1,54%) so với tháng 7. Tuy nhiên, mức tăng này mới bù đắp được khoảng ba phần tư lượng tiền rút ra trong tháng 7 (giảm gần 131.000 tỷ đồng), nên quy mô tiền gửi doanh nghiệp vẫn thấp hơn mức đỉnh khoảng 6,37 triệu tỷ đồng của cuối tháng 6.

Diễn biến từ đầu năm cho thấy tiền gửi doanh nghiệp biến động thất thường, giảm trong tháng 1 và tháng 2 (giai đoạn cao điểm chi trả quanh Tết), tăng mạnh vào các tháng cuối quý như tháng 3 và tháng 6, rồi lại giảm ở tháng đầu quý kế tiếp.

Lũy kế 8 tháng, tiền gửi tổ chức kinh tế chỉ tăng gần 157.000 tỷ đồng, tương đương 2,54%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của khu vực dân cư.

NHNN công bố tiền gửi người dân lập kỷ lục 11,4 triệu tỷ, tăng không ngừng kể từ đầu năm - Ảnh 2.

Tín dụng vẫn chạy nhanh hơn huy động

Đà tăng của tiền gửi dù tích cực vẫn chưa theo kịp tốc độ bơm vốn ra nền kinh tế. Theo số liệu NHNN công bố tại họp báo quý III ngày 7/10, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đến 30/9/2026 đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025. Điều này khiến cuộc cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng chưa hạ nhiệt trong những tháng gần đây.

Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, tính đến ngày 20/9/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Lãnh đạo NHNN đánh giá tốc độ tăng đã chậm lại và mặt bằng lãi suất về cơ bản đang quanh mức mới.

NHNN cho biết vẫn giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời đã làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại, yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi đối với giao dịch phát sinh mới kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, giảm lãi suất niêm yết và lãi suất cho vay. NHNN các khu vực cũng được chỉ đạo họp với chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn và kiểm tra việc thực hiện.

Bối cảnh điều hành được đánh giá không dễ dàng khi căng thẳng tại Trung Đông đẩy giá dầu đi lên và một số ngân hàng trung ương lớn đã tăng lãi suất, trong khi NHNN vẫn ưu tiên kiểm soát lạm phát bình quân quanh 4,5% và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Dù có chỉ đạo giảm, mặt bằng lãi suất huy động thực tế trên thị trường vẫn ở mức cao. Thay vì nâng đồng loạt biểu niêm yết, nhiều ngân hàng chọn cạnh tranh bằng các chương trình cộng thêm lãi suất theo nhóm khách hàng, kênh giao dịch hoặc quy mô tiền gửi.

Theo khảo sát thực tế của Công ty chứng khoán MBS đối với các chương trình lãi suất ưu đãi, đến cuối tháng 9/2026, lãi suất kỳ hạn 6 tháng cao nhất ở mức 9,4%/năm, áp dụng cho khoản tiền gửi 500 triệu đồng qua kênh trực tuyến. Ở kỳ hạn 12 tháng, VPBank và Vikki Bank là hai ngân hàng trả cao nhất với 9,3%/năm.

Tính bình quân, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng Tier 1 (gồm BIDV, VietinBank, Vietcombank, MB, VPBank, Techcombank, ACB và SHB) đến cuối tháng 9 giảm nhẹ 3 điểm cơ bản so với cuối tháng 8, về 8,29%/năm, song vẫn cao hơn 253 điểm cơ bản so với đầu năm. Nhóm Tier 2 (gồm Sacombank, HDBank, LPBank, VIB, TPBank và Nam A Bank) đi theo hướng ngược lại, tăng 8 điểm cơ bản trong tháng lên 8,6%/năm, cao hơn 273 điểm cơ bản so với đầu năm. Theo đó, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại theo khảo sát của MBS tăng lên 8,45%/năm, cao hơn 263 điểm cơ bản so với đầu năm.

Việc mặt bằng lãi suất vẫ neo ở mức cao tiếp tục giúp cải thiện tốc độ huy động vốn trong tháng 9. Tính đến 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 0,6% so với cuối tháng 8, trong khi huy động tăng 1,5%. Dù vậy, MBS cho rằng mức chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy đọng vẫn tiếp tục duy trì khi so với cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 11,6%, trong khi huy động vốn tăng 9,8%.

Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030

https://cafef.vn/dieu-chinh-bo-sung-chien-luoc-no-cong-den-nam-2030-188261016065410252.chnTheo PL | 16-10-2026 – 07:31 AM | Tài chính – ngân hàng
Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 15/10/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030.

Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 về quan điểm xây dựng và thực hiện Chiến lược như sau:

"a) Bám sát, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đề ra tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Trung ương và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 – 2030. Công tác quản lý nợ công luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ, vay nợ phải bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Nợ công tiếp tục là đòn bẩy cho phát triển kinh tế – xã hội, tạo động lực tăng trưởng bền vững. Trong huy động vốn, tiếp tục thực hiện nguyên tắc nguồn vay trong nước là cơ bản, quyết định, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với nguồn vay nước ngoài là quan trọng."

Mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 – 2030

Đồng thời, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm b khoản 3 Điều 1 quy định về mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 – 2030 như sau:

"b) Giai đoạn 2026 – 2030

Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 – 2030; bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt, trong đó:

  • Nợ công hằng năm không quá 60% GDP, nợ Chính phủ hằng năm không quá 50% GDP.

  • Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước.

  • Nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia không quá 50% GDP."

Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi điểm c, điểm d và điểm đ khoản 4 Điều 1 về định hướng huy động và sử dụng vốn vay như sau:

"c) Thực hiện việc vay vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài gắn với khả năng trả nợ trong dài hạn; ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao; lựa chọn nguồn vốn và điều kiện vay phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.

d) Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương, bảo đảm trong hạn mức dư nợ theo quy định của pháp luật; bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn và tăng cường chủ động quản lý rủi ro từ hoạt động vay của địa phương.

đ) Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng, việc đảm bảo nguồn trả nợ được Chính phủ bảo lãnh; quản lý các khoản bảo lãnh, đảm bảo đúng quy định, hiệu quả trong phạm vi hạn mức bảo lãnh, tập trung ưu tiên nguồn vốn để bảo lãnh cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia, được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư. Kiểm soát hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm trong phạm vi hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm đã được Quốc hội quyết định; tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ và việc quyết định hạn mức trong trường hợp vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước thực hiện theo khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công. Lựa chọn một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng có tính chất lan tỏa, có khả năng tạo nguồn thu trả nợ để Chính phủ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài."

Cùng đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg bổ sung điểm b vào sau điểm a khoản 4 Điều 1 theo hướng tập trung đầu tư vào các chương trình, dự án trọng điểm nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài như sau:

"b) Tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài."

Theo đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg đổi ký hiệu các điểm b, c, d, đ và e hiện hành tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 thành các điểm c, d, đ, e và g tương ứng.

Sửa đổi một số nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi một số điểm thuộc khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược.

Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ giai đoạn 2026 – 2030 như sau:

"- Giai đoạn 2026 – 2030:

  • Tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật Quản lý nợ công đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy định chi tiết; tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và pháp luật có liên quan;

  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục nâng cao chất lượng thống kê, cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu xây dựng định hướng đổi mới khung chính sách quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm an toàn nợ quốc gia, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định."

Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi ba gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm b khoản 5 Điều 1 về thực hiện các công cụ, biện pháp quản lý nợ hiện đại thành hai gạch đầu dòng như sau:

"- Quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Chính phủ điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ theo thông lệ quốc tế và bối cảnh của Việt Nam. Đa dạng hóa việc huy động phù hợp với thị trường và yêu cầu huy động nguồn lực ngân sách nhà nước. Gắn kết chặt chẽ quản lý ngân sách nhà nước và nợ công với quản lý ngân quỹ nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước, bảo đảm thanh khoản của Chính phủ tại mọi thời điểm.

  • Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng cho thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ."

Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm d khoản 5 Điều 1 về giải pháp tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch về huy động, quản lý và sử dụng nợ công, nâng cao định mức tín nhiệm quốc gia như sau:

"- Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư; tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030."/.