Khi sự tín nhiệm là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/khi-su-tin-nhiem-la-dong-luc-tang-truong-cua-doanh-nghiep-20261030145534393.htmThứ sáu, 30/10/2026 – 15:02

(Dân trí) – Mới đây, giải pháp “biến niềm tin thành động lực tăng trưởng – Advocacy-led growth” đã được Golden Communication Group chia sẻ tại hội nghị MMA Impact 2026 dành cho các nhà lãnh đạo marketing toàn quốc.

Bối cảnh thị trường biến động, tràn ngập thông tin giả thật lẫn lộn khiến người tiêu dùng ngày càng dễ rời bỏ thương hiệu, đã và đang đặt ra bài toán khó cho doanh nghiệp: Làm thế nào để giữ vững đà tăng trưởng thương mại mà vẫn xây dựng được giá trị thương hiệu bền vững?

Câu trả lời nằm ở khả năng chuyển hóa "niềm tin thầm lặng" thành động lực phát triển mới cho doanh nghiệp.

Khi sự tín nhiệm là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp - 1Golden Communication Group chia sẻ giải pháp Advocacy-led Growth tại hội nghị MMA Impact 2026 (Ảnh: Golden Communication Group).

Áp lực kép của nhà quản trị thương hiệu

Theo số liệu từ WARC và The CMO Survey, có tới 55% nhà quản lý khu vực APAC nhận định mục tiêu kinh doanh ngắn hạn là nỗi lo hàng đầu. Các Giám đốc Marketing (CMO) phải đối mặt với sự kiểm soát chặt chẽ từ Giám đốc Tài chính (CFO) về tính hiệu quả và tỷ suất lợi nhuận đầu tư (ROI) trên từng đồng ngân sách. Do chạy theo mục tiêu ngắn hạn và áp lực “về số”, nhiều thương hiệu tập trung vào quảng cáo trả phí để kích cầu nhanh.

Tuy nhiên, cách tiếp cận này đang vấp phải rào cản bởi 58% người tiêu dùng APAC hoài nghi quảng cáo từ thương hiệu, 46% dùng công cụ chặn quảng cáo để tránh sự làm phiền của quảng cáo trực tuyến. Khi sự hoài nghi gia tăng, việc doanh nghiệp tự nói về mình không còn mang lại hiệu quả như trước.

Khi sự tín nhiệm là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp - 2Thách thức ngày càng khốc liệt cho các nhà quản trị thương hiệu (Ảnh: Golden Communication Group).

Tại Việt Nam, thách thức này càng trở nên khốc liệt hơn dưới tác động của khung pháp lý mới thắt chặt trách nhiệm của nhà quảng cáo cũng như KOL, KOC…, cùng tâm lý cẩn trọng của xã hội sau nhiều sự cố chất lượng sản phẩm trên thị trường.

Ngày nay, việc công khai đứng ra bảo chứng, quảng bá cho một thương hiệu đi kèm với chi phí rủi ro uy tín rất cao, dù đứng ở góc độ KOL/KOC hay người tiêu dùng, điều này khiến cả người ảnh hưởng lẫn người dùng thông thường chọn cách giữ im lặng.

Thực tế này dẫn đến hiện tượng mà các chuyên gia tại Golden Communication Group gọi là "Silent Trust Gap" (Khoảng trống niềm tin thầm lặng). Người tiêu dùng có thể tin tưởng, lựa chọn và sử dụng sản phẩm đều đặn, nhưng niềm tin đó dừng lại ở mức trải nghiệm cá nhân và hiếm khi chia sẻ công khai ra bên ngoài.

Sự tín nhiệm: Đòn bẩy trực tiếp cho chỉ số lợi nhuận

Nghiên cứu của PwC và Edelman chỉ ra rằng, niềm tin không còn là một chỉ số hình thức trên các báo cáo khảo sát sức khỏe thương hiệu, mà đã trở thành động lực trực tiếp tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh (P&L) khi 46% người tiêu dùng sẵn sàng mua nhiều hơn và 28% chấp nhận trả mức giá cao hơn cho các thương hiệu họ tin tưởng. Cùng lúc đó, 61% khách hàng chủ động giới thiệu doanh nghiệp uy tín cho gia đình và bạn bè, giúp giảm đáng kể chi phí tiếp thị.

Các tiếng nói tự nguyện từ cộng đồng và người dùng thực tế (Earned voices) được ghi nhận có khả năng xây dựng niềm tin cao gấp 5 lần so với quảng cáo trả phí của doanh nghiệp.

Khi sự tín nhiệm là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp - 3Bà Nhi Đỗ, đại diện Golden Communication Group (Ảnh: Golden Communication Group).

Bà Nhi Đỗ, đại diện Golden Communication Group chia sẻ: "Nếu niềm tin đã là động lực tạo ra giá trị kinh doanh, câu hỏi đặt ra là làm sao để giá trị đó vượt ra khỏi quyết định mua sắm của một cá nhân riêng lẻ, tạo thành sức mạnh lan tỏa cho thương hiệu".

Khung chiến lược 4 bước biến sự tín nhiệm thành hệ thống lan tỏa niềm tin cho thương hiệu

Để giải quyết khoảng trống này, Golden Communication Group giới thiệu mô hình Advocacy-led Growth (Tăng trưởng dựa trên sự tín nhiệm). Thay vì xem các hoạt động lan tỏa là chiến dịch ngắn hạn bùng nổ rồi biến mất, doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống vận hành khép kín gồm 4 giai đoạn.

Khi sự tín nhiệm là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp - 44 giai đoạn của mô hình Advocacy-led Growth (Tăng trưởng dựa trên sự tín nhiệm) (Ảnh: Golden Communication Group).

Nhận diện niềm tin (Find the Trust): Nhận diện chính xác nơi niềm tin đang tồn tại thầm lặng (khách hàng trung thành im lặng, sự giới thiệu trong nhóm kín, hay các thắc mắc đã được giải đáp) thay vì chỉ chọn KOL/KOC dựa trên độ nổi tiếng.

Kiến tạo khoảnh khắc (Create the Moment): Đưa ra những lời mời gọi đúng thời điểm phù hợp để người dùng tham gia vào cuộc hội thoại, chia sẻ trải nghiệm thực tế thay vì áp đặt thông điệp quảng cáo một chiều.

Khuếch đại tiếng nói (Carry the Voice): Đưa tiếng nói chân thực lan tỏa theo lộ trình từ tầng cơ sở (người dùng, KOC) lên các nhóm ảnh hưởng lớn hơn (chuyên gia ngành, đối tác tuyến đầu) để tối ưu hóa độ tin cậy.

Tái đầu tư và tích lũy (Reinvest): Đo lường dữ liệu thực tế về thông điệp và kênh tạo tác động cao nhất, áp dụng bài học vào hệ thống để nâng dần điểm chuẩn (baseline) tăng trưởng cho chu kỳ tiếp theo.

Động lực tăng trưởng dài hạn cho doanh nghiệp

Mô hình Advocacy-led Growth không nhằm thay thế các chiến dịch marketing truyền thống, mà đóng vai trò đảm bảo những gì chiến dịch tạo ra không bị mất đi khi chiến dịch kết thúc. Qua từng chu kỳ vận hành, thương hiệu sẽ tích lũy được niềm tin khách hàng, tiếng nói uy tín, mối quan hệ bền vững với người tiêu dùng.

Bà Nhi Đỗ nhấn mạnh: "Chúng ta đã làm việc rất vất vả để giành lấy niềm tin của người tiêu dùng. Nhưng liệu doanh nghiệp đã cho họ lý do, sự tự tin, để cất tiếng nói chia sẻ về thương hiệu?".

Khi sự minh bạch và tính chân thực được quan tâm, năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp nằm ở khả năng biến niềm tin thầm lặng của khách hàng thành hệ thống tăng trưởng tự nhiên và bền vững.

Giảm liên tiếp, quy mô thị trường chứng khoán vẫn vượt 10 triệu tỷ đồng

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/giam-lien-tiep-quy-mo-thi-truong-chung-khoan-van-vuot-10-trieu-ty-dong-20261030161245444.htmThứ sáu, 30/10/2026 – 18:14

(Dân trí) – Tính đến 21/10, quy mô thị trường cổ phiếu đã đạt 79,1% GDP ước tính năm 2025. Thị trường chứng khoán đang là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Chốt phiên ngày 30/10, VN-Index dừng tại 1.742 điểm, giảm gần 14 điểm so với phiên trước và là phiên giảm thứ hai liên tiếp của thị trường.

VN-Index đang ở vùng tích lũy trong khoảng 3 tháng qua nhưng cổ phiếu nhiều dòng vẫn trong xu hướng đi xuống, thanh khoản duy trì ở vùng thấp. Dù vậy, số liệu thống kê tại Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 với chủ đề “Dòng vốn mới – Vị thế mới của thị trường chứng khoán Việt Nam”, do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) phối hợp cùng báo Tuổi trẻ tổ chức cùng ngày, cho thấy quy mô thị trường vẫn gia tăng.

Cụ thể, thống kê đến ngày 21/10, quy mô thị trường cổ phiếu ở mức 10,16 triệu tỷ đồng, tương đương 79,1% GDP ước tính năm 2025. Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết khoảng 2,94 triệu tỷ đồng, tương đương 22,9% GDP. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đã vượt 14 triệu.

Phát biểu tại diễn đàn, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch UBCKNN, cho biết sau 30 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

5 nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán

Theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn đầu tư của Việt Nam dự kiến lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó tín dụng ngân hàng vẫn đang đảm nhận vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Thực tế này đòi hỏi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các định chế đầu tư dài hạn tiếp tục phát triển, chia sẻ áp lực cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng.

Lãnh đạo UBCKNN nhấn mạnh dấu mốc nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell mở ra cơ hội tiếp cận rộng hơn với các nhà đầu tư tổ chức và dòng vốn quốc tế. Thông tin tại hội thảo cũng nêu, việc nâng hạng đưa Việt Nam gia nhập hệ sinh thái đầu tư nơi có khoảng 20.000 tỷ USD tài sản toàn cầu đang lấy các chỉ số FTSE Russell làm chuẩn tham chiếu.

Đây sẽ là bước khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới, song song đặt ra yêu cầu cho thị trường phải tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Giảm liên tiếp, quy mô thị trường chứng khoán vẫn vượt 10 triệu tỷ đồng - 1

Bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch UBCKNN (Ảnh: BTC).

Chủ tịch UBCKNN đã đưa ra 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cho thị trường chứng khoán.

Thứ nhất, cải thiện khuôn khổ pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao chất lượng hàng hóa, phát triển nhà đầu tư tổ chức và tăng cường giám sát thị trường.

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán đang được Quốc hội xem xét, thảo luận thông qua, với nhiều nội dung hướng tới đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn và nhà đầu tư tham gia thị trường.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao dịch, thanh toán, bù trừ, trong đó có triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) đối với thị trường chứng khoán cơ sở theo lộ trình.

Thứ ba, nâng cao chất lượng hàng hóa và đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường.

Thứ tư, phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng chuyên nghiệp và bền vững.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và tăng cường kỷ luật, kỷ cương thị trường.

Chủ tịch UBCKNN cũng nhấn mạnh doanh nghiệp niêm yết cần nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch thông tin, bảo vệ quyền lợi cổ đông và tăng cường cung cấp thông tin bằng tiếng Anh.

Đại diện FTSE Russell nêu 3 yếu tố quyết định khả năng thu hút dòng vốn quốc tế

Giảm liên tiếp, quy mô thị trường chứng khoán vẫn vượt 10 triệu tỷ đồng - 2

Bà Wanming Du (ngoài cùng bên tay trái) – Giám đốc Chính sách Chỉ số khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APAC) của FTSE Russell (Ảnh: BTC).

Đại diện FTSE Russell là bà Wanming Du – Giám đốc Chính sách Chỉ số khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APAC) – cho rằng Việt Nam cần tiếp tục cải thiện ba khía cạnh quan trọng liên quan trực tiếp đến trải nghiệm của nhà đầu tư nước ngoài.

Trước hết là mức độ thuận tiện khi gia nhập thị trường. Theo bà, đối với các nhà đầu tư tổ chức toàn cầu, việc mở rộng đầu tư sang một thị trường mới không chỉ là lựa chọn cổ phiếu hay doanh nghiệp có triển vọng. Họ còn phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến mở tài khoản, lựa chọn ngân hàng lưu ký, kết nối với công ty chứng khoán và đáp ứng các yêu cầu tuân thủ, vận hành.

Yếu tố thứ hai là hiệu quả giao dịch và thanh toán.

Cuối cùng là khả năng tiếp cận thị trường ngoại hối. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư chứng khoán luôn gắn với nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ, quản lý dòng tiền và chuyển vốn, lợi nhuận về nước. Do đó, tính minh bạch, thanh khoản và sự thuận tiện trong các giao dịch ngoại hối cũng là những điều kiện quan trọng quyết định khả năng tiếp cận thị trường.

Đại biểu Quốc hội: “Người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP”

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/dai-bieu-quoc-hoi-nguoi-dan-con-giu-khoang-500-tan-vang-xap-xi-12-gdp-20261030151942807.htmThứ sáu, 30/10/2026 – 15:25

(Dân trí) – Đại biểu Lê Hoàng Anh chỉ ra nghịch lý vốn có sẵn, nhưng không chảy vào sản xuất. Ông cho biết tiền gửi dân cư đã vượt 11,2 triệu tỷ đồng; người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP.

Những con số này được đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) đưa ra khi thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội, ngân sách Nhà nước, trong phiên làm việc tại Quốc hội chiều 30/10.

Tăng trưởng 2 con số chỉ bền vững khi được nuôi bằng vốn và niềm tin dài hạn

Giữa nhiều cú sốc từ bên ngoài, đại biểu Lê Hoàng Anh nhắc nhiều “điểm sáng” như GDP 9 tháng vẫn tăng 9,01%, xuất khẩu tăng 24,5%, Việt Nam bước vào nhóm nước thu nhập trung bình cao, thị trường chứng khoán được nâng hạng, tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư; thủ tục hành chính giảm hơn một nửa cả thời gian lẫn chi phí.

Song câu hỏi lớn hơn ông đặt ra, là “năm 2027 lấy vốn dài hạn ở đâu để đi đường dài?”.

Đại biểu Quốc hội: “Người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP” - 1

Đại biểu Quốc hội Lê Hoàng Anh (Ảnh: Minh Nam).

Theo phân tích của đại biểu tỉnh Gia Lai, nền kinh tế hiện nay gần như dựa vào một nguồn là tín dụng ngân hàng. “Tín dụng đã khoảng 155% GDP; gần 80% vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi một nửa dư nợ là trung, dài hạn”, ông Hoàng Anh nói và cho rằng không thể đi đường dài bằng nguồn vốn ngắn hạn.

Chỉ ra áp lực, vị đại biểu nhận định thị trường vốn càng mỏng, áp lực lên nguồn vốn dài hạn càng lớn.

Trong khi đó, có một nghịch lý được đại biểu chỉ ra là vốn có sẵn, nhưng không chảy vào sản xuất. “Tiền gửi dân cư đã vượt 11,2 triệu tỷ đồng; người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp chỉ khoảng 11% GDP”, ông Hoàng Anh dẫn số liệu, đồng thời khẳng định cái thiếu không phải là vốn, mà là đường dẫn vốn.

Và khi thiếu đường dẫn trong nước, vốn sẽ tìm đường ra ngoài. “Không ít doanh nghiệp công nghệ do người Việt sáng lập, phục vụ khách hàng Việt, nhưng công ty mẹ đặt ở ngoài Việt Nam chúng ta; mỗi lần gọi vốn thành công, giá trị tăng thêm lại được ghi nhận ở nước ngoài. Chúng ta giữ được nhà máy, nhưng vốn và quyền quyết định lại đặt ở nơi khác”, đại biểu Hoàng Anh chia sẻ trăn trở.

Theo ông, vốn dài hạn chỉ đi theo niềm tin dài hạn, và niềm tin ấy trước hết là niềm tin vào pháp luật. Vì vậy, đại biểu cho rằng trước hết cần bảo đảm sự ổn định và tiên liệu được của pháp luật.

Đại biểu Quốc hội: “Người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP” - 2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Lê Minh Hưng tại phiên thảo luận chiều 30/10 (Ảnh: Minh Nam).

Nêu kiến nghị, đại biểu Lê Hoàng Anh nhấn mạnh cần cụ thể hóa chủ trương cho vay theo dữ liệu, dòng tiền của Nghị quyết 68: khi doanh nghiệp đồng ý, ngân hàng được dùng dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, dữ liệu xuất nhập khẩu thay cho tài sản bảo đảm là đất.

Bên cạnh đó, cần giữ vốn chủ sở hữu ở trong nước; nối tiết kiệm của dân với doanh nghiệp qua quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ mở và nghiên cứu thí điểm chứng chỉ vàng.

“Tăng trưởng hai con số bắt đầu từ quyết tâm, nhưng chỉ bền vững khi được nuôi bằng vốn dài hạn và niềm tin dài hạn. Doanh nghiệp của người Việt, vốn của người Việt thì giá trị gia tăng phải ở lại Việt Nam”, ông Hoàng Anh nhấn mạnh.

Theo dõi riêng mặt hàng thiết yếu và công khai trước lộ trình điều chỉnh giá

Đại biểu Trần Quốc Tuấn (Vĩnh Long), cũng nhìn nhận năm 2027 với mục tiêu cao hơn đòi hỏi điều hành phải sát với thực tiễn hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

Lưu ý đầu tiên được ông nhấn mạnh là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, coi đây là nền móng của mục tiêu tăng trưởng.

Ông dẫn báo cáo thẩm tra cho biết CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%; giao thông tăng 6,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%.

“Với người lao động, khi tiền điện, tiền ăn, nhà ở và đi lại tăng thì phần thu nhập còn lại cho học hành, khám chữa bệnh và tiết kiệm sẽ bị thu hẹp”, đại biểu Tuấn nhận định.

Đại biểu Quốc hội: “Người dân còn giữ khoảng 500 tấn vàng, xấp xỉ 12% GDP” - 3

Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn (Ảnh: Minh Nam).

Còn với doanh nghiệp, nhiên liệu, vận tải và nguyên liệu đắt lên sẽ làm chi phí sản xuất tăng. Nếu tăng giá bán, doanh nghiệp có thể mất khách, còn nếu giữ giá bán thì lợi nhuận sẽ bị giảm đi.

Vì thế, ông Tuấn đề nghị Chính phủ có giải pháp điều hành giá theo một kịch bản thống nhất, theo dõi riêng các mặt hàng thiết yếu và công khai trước lộ trình điều chỉnh giá do Nhà nước quản lý.

Đặc biệt, ông Tuấn góp ý cần theo dõi riêng giá hàng thiết yếu và hỗ trợ có mục tiêu cho nhóm dễ bị tổn thương. “Khi giá cả ổn định thì tiền lương của công nhân, thu nhập của người dân mới có thể lo được cuộc sống hằng này, doanh nghiệp cũng yên tâm sản xuất kinh doanh”, đại biểu Tuấn chia sẻ.

Bên cạnh đó, ông nhấn mạnh cần khơi thông nguồn vốn cho sản xuất, giúp doanh nghiệp vay được vốn với chi phí hợp lý. Đại biểu tỉnh Vĩnh Long cho rằng một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhờ vốn vay, nhưng tăng trưởng bền vững phải dựa vào dự án tạo ra sản phẩm, năng suất và dòng tiền.

Xuất khẩu cá ngừ sang Mỹ khởi sắc, thu về 280 triệu USD

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/xuat-khau-ca-ngu-sang-my-khoi-sac-thu-ve-280-trieu-usd-20261030105827557.htmThứ sáu, 30/10/2026 – 13:14

(Dân trí) – Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang Mỹ đang phục hồi nhưng doanh nghiệp có thể đối mặt thêm sức ép từ cạnh tranh nguồn cung và các quy định mới về truy xuất nguồn gốc.

Thông tin từ Hiệp hội Chế biến Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), sau 6 tháng đầu năm liên tục giảm, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang Mỹ đã tăng mạnh trở lại trong những tháng gần đây.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường này đạt hơn 280 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ cá ngừ lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 39% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.

Kết quả này đạt được trong bối cảnh tổng nhập khẩu cá ngừ của Mỹ trong 8 tháng đầu năm suy giảm. Điều này cho thấy cá ngừ Việt Nam đang cải thiện khả năng cạnh tranh và tận dụng được cơ hội tại thị trường Mỹ, dù nhu cầu nhập khẩu chung chưa thực sự phục hồi.

Xuất khẩu cá ngừ sang Mỹ khởi sắc, thu về 280 triệu USD - 1

Cá ngừ là một trong những hải sản xuất khẩu lớn của Việt Nam (Ảnh: Nam Bình).

Xét theo cơ cấu sản phẩm, thịt cá ngừ đông lạnh tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng, trong khi cá ngừ đóng hộp chỉ ghi nhận mức tăng nhẹ.

Diễn biến này phản ánh sự khác biệt trong nhu cầu giữa phân khúc nguyên liệu phục vụ chế biến và nhóm thành phẩm tiêu dùng.

VASEP cho biết, trước những dự báo về khả năng thay đổi chính sách thuế của Mỹ, một số nhà nhập khẩu đã đẩy nhanh tiến độ ký kết hợp đồng và nhận hàng sớm nhằm chủ động nguồn cung, hạn chế rủi ro chi phí tăng.

Tính chung các thị trường, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam trong 9 tháng đạt gần 720 triệu USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, kim ngạch đạt gần 86 triệu USD, tăng 18%, đánh dấu tháng tăng trưởng thứ tư liên tiếp.

Mỹ siết kiểm soát nguồn gốc cá ngừ nhập khẩu

Trong khi xuất khẩu có dấu hiệu khởi sắc, doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam cần lưu ý những thay đổi trong chính sách quản lý thủy sản của Mỹ.

Theo đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký ban hành Đạo luật Thực thi chống khai thác bất hợp pháp cá hồng và cá ngừ. Động thái này nhằm hướng đến tăng cường kiểm soát thủy sản khai thác bất hợp pháp và ngăn chặn hành vi gian lận xuất xứ đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Mỹ.

Theo quy định mới, Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST) sẽ phối hợp với Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Mỹ (NOAA) xây dựng phương pháp tiêu chuẩn nhằm xác định xuất xứ của cá hồng và một số loài cá ngừ nhập khẩu vào nước này.

Đáng chú ý, Mỹ sẽ phát triển bộ công cụ kiểm tra nhanh tại hiện trường, cho phép xác định cá được khai thác tại vùng biển Mỹ hay vùng biển nước ngoài thông qua các phân tích khoa học.

Công cụ này được kỳ vọng hỗ trợ cơ quan chức năng phát hiện cá khai thác bất hợp pháp hoặc bị cố tình khai báo sai xuất xứ trước khi đưa ra thị trường.

Động thái này cho thấy Mỹ đang tăng cường ứng dụng phương pháp khoa học trong xác minh nguồn gốc thủy sản, bên cạnh hệ thống hồ sơ truy xuất truyền thống.

VASEP cho rằng, đối với doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam, đây là diễn biến cần đặc biệt theo dõi. Trong bối cảnh xuất khẩu đang phục hồi nhưng cạnh tranh nguồn cung ngày càng lớn, khả năng chứng minh nguồn gốc khai thác, tính minh bạch của chuỗi cung ứng và độ chính xác của thông tin ghi nhãn sẽ ngày càng quan trọng để duy trì thị phần tại Mỹ.

Lãi suất hạ, doanh nghiệp vẫn ‘khát’ vốn

https://thanhnien.vn/lai-suat-ha-doanh-nghiep-van-khat-von-185261030153706931.htm30/10/2026 15:47 GMT+7
Hàng chục ngân hàng đồng loạt công bố giảm mặt bằng lãi suất huy động và các gói tín dụng ưu đãi. Tuy nhiên, để lãi suất giảm thực chất và đến được tay doanh nghiệp đang khát vốn, thị trường vẫn phải vượt qua độ trễ chính sách cùng những rào cản về chi phí vốn đầu vào.

Trong hơn 1 tuần cuối tháng 10, gần 30 ngân hàng thương mại thông báo giảm lãi suất tiết kiệm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Ở chiều cho vay, thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy ít nhất 22 nhà băng đã cam kết giảm lãi suất phổ biến từ 1,5 – 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Trong đó, 15 ngân hàng công bố các gói tín dụng ưu đãi với tổng quy mô hơn 451.000 tỉ đồng, tương đương khoảng 2,2% dư nợ toàn hệ thống.

Dù Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh sẽ theo dõi sát số liệu lãi suất bình quân của các giao dịch phát sinh thay vì biểu niêm yết, bức tranh giảm lãi suất trên thực tế vẫn còn khoảng vênh đáng kể so với biểu niêm yết hay báo cáo thống kê.

Dù giảm trên biểu niêm yết về mức 6,6 – 7%/năm, nhiều ngân hàng đang khát vốn vẫn lách quy định bằng cách cộng thêm biên độ ưu đãi từ 1 – 3%/năm, đẩy lãi suất huy động thực tế vượt ngưỡng 8,3% đến trên 9%/năm.

Lãi suất hạ, doanh nghiệp vẫn 'khát' vốn - Ảnh 1.

Lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều hạ nhiệt, song để chi phí vốn cho doanh nghiệp giảm vẫn cần độ trễ

ẢNH: NGỌC THẮNG

Trong khi đó, các gói vay giảm lãi suất được cống bố tập trung vào vốn lưu động kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng và không có chương trình cho vay tiêu dùng, mua nhà, ô tô.

Các lĩnh vực bị kiểm soát rủi ro chặt chẽ như bất động sản, mặt bằng lãi suất vẫn neo ở mức cao từ 12 – 14%, thậm chí thả nổi lên tới 15 – 16%. Nhiều doanh nghiệp bất động sản ở quy mô vừa và nhỏ rơi vào thế "lưỡng nan" khi doanh thu từ thị trường đứt gãy còn lãi suất ngân hàng tăng quá ngưỡng chịu đựng.

Ngay cả với doanh nghiệp sản xuất, nhiều doanh nghiệp than thở với biên lợi nhuận chỉ khoảng 15%, việc lãi vay trên 10%/năm thì coi như doanh nghiệp… "làm không công", đừng nói có lãi.

Ngân hàng cũng khó?

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU), phân tích, lãi suất huy động giảm tạo nền tảng hạ chi phí cho vay, nhưng quá trình truyền dẫn cần thời gian. "Ngân hàng vẫn phải trả lãi theo thỏa thuận với tiền gửi cũ; chi phí vốn bình quân chỉ giảm dần khi nguồn vốn được tái định giá", ông Huy lưu ý.

Đồng quan điểm, bà Lê Lan Thư, Giám đốc Khối Tư vấn quản trị tài chính TAS Consulting, chỉ rõ việc giảm lãi suất huy động không đồng nghĩa chi phí vay vốn của doanh nghiệp sẽ ngay lập tức giảm tương ứng. Theo bà Thư, một khoản vay có lãi suất danh nghĩa thấp nhưng đi kèm các khoản phí, điều kiện duy trì số dư hoặc nghĩa vụ bổ sung có thể khiến lợi ích tài chính mà doanh nghiệp nhận được không đáng kể.

"Điều cần đánh giá không chỉ là ngân hàng giảm bao nhiêu lãi suất, mà là doanh nghiệp thực sự tiết kiệm được bao nhiêu chi phí vốn, trong khoảng thời gian nào", bà Thư nhấn mạnh.

Ngược lại, ông Trần Tuấn Anh, Giám đốc Khối Ngân hàng và Đầu tư Mirae Asset Việt Nam, cho rằng, các ngân hàng quốc doanh đã tiêu tốn hết phần phân bổ hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp từ rất sớm, khiến dòng tiền giải ngân thực tế bị nghẽn lại. Huy động vốn khó, chi phí vốn đầu vào dâng cao buộc lãi suất cho vay phải neo ở mức cao. "Lãi suất 14% đã là khó với ngân hàng", ông Tuấn Anh nói.

Tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi) thực tế của nhiều ngân hàng theo ông Trần Tuấn Anh, đã vượt mức 110%, chứ không chỉ 95% như quy định.

Để thực sự khơi thông dòng vốn

Nhận định về xu hướng thời gian tới, giới chuyên gia dự báo mặt bằng lãi suất sẽ tiếp tục phân hóa mạnh theo khẩu vị rủi ro và mục đích sử dụng vốn. Trong kịch bản khả thi nhất cuối năm 2026, Viện Nghiên cứu DXS-FERI dự báo lãi suất cho vay thả nổi trên thị trường sẽ duy trì ở vùng 11 – 13%/năm.

Tuy nhiên, bà Trần Nguyệt Quỳnh Hoa, Giám đốc Phát triển kinh doanh BIDV Home, đánh giá các nhịp giảm lãi suất hiện nay mang tính chất điều hành linh hoạt để hỗ trợ khu vực sản xuất.

Bà Hoa dự báo đến khoảng năm 2027, khi dòng tiền giải ngân đầu tư công và đền bù giải phóng mặt bằng thẩm thấu mạnh vào nền kinh tế, kích hoạt hệ số nhân tiền và cải thiện thanh khoản huy động của ngân hàng, thị trường sẽ đón nhận thêm nhịp hạ lãi suất rộng hơn.

Để việc giảm lãi suất thực sự khơi thông dòng vốn, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng hiệu quả hỗ trợ cần được thể hiện đồng thời ở chi phí hợp lý, khả năng tiếp cận và tiến độ giải ngân.

"Một khoản vay có giá hợp lý nhưng đến chậm vẫn có thể làm lỡ cơ hội kinh doanh", ông Huy lưu ý và khuyến nghị ngân hàng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển tiền gửi không kỳ hạn (CASA) để giảm chi phí vốn bền vững, đồng thời minh bạch lãi suất sau ưu đãi và công thức điều chỉnh.

Ở chiều ngược lại, bà Lê Lan Thư khẳng định giảm lãi suất không thể thay thế năng lực quản trị dòng tiền và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Thay vì dàn trải nguồn lực hoặc dùng vốn vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn, doanh nghiệp cần chủ động tái cấu trúc danh mục, rà soát hàng tồn kho, xây dựng kế hoạch dòng tiền tối thiểu 12 tháng và minh bạch hóa sổ sách tài chính.

"Chỉ khi chi phí hợp lý đi cùng năng lực hấp thụ vốn lành mạnh và giải ngân đúng thời điểm, chính sách giảm lãi suất mới thực sự chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững", bà Thư nói.

TP.HCM phát hành trái phiếu đô thị thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế

https://thanhnien.vn/tphcm-phat-hanh-trai-phieu-do-thi-thong-qua-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-185261030143438784.htm30/10/2026 15:05 GMT+7
TP.HCM sẽ phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Tại Kỳ họp thứ sáu, Hội đồng nhân dân TP.HCM khóa XI đã thông qua Nghị quyết quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm tài chính Quốc tế tại Việt Nam. Để triển khai Nghị quyết này, thành phố dự kiến lựa chọn một số dự án tiên phong để phát hành trái phiếu tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) trong giai đoạn đầu. VIFC và các đơn vị của thành phố đang phối hợp xây dựng danh mục các dự án khả thi, phù hợp với nhu cầu huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu này. Các đợt phát hành trái phiếu tại VIFC hướng tới các nhà đầu tư quốc tế và các thành viên của VIFC.

TP.HCM phát hành trái phiếu đô thị thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế- Ảnh 1.

TP.HCM phát hành trái phiếu đô thị thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Theo quy định, việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình của thành phố được áp dụng đối với các dự án trọng điểm đáp ứng các điều kiện, thủ tục về đầu tư, bảo vệ môi trường và các điều kiện pháp lý khác theo quy định; ưu tiên dự án phát triển hạ tầng đô thị, công trình kết cấu hạ tầng hoặc công trình trọng điểm gắn với các tiêu chuẩn xanh, xã hội, bền vững và bảo vệ môi trường. Nguồn vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, dự án trong phạm vi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không sử dụng cho chi thường xuyên hoặc các mục đích trái quy định pháp luật. Việc chào bán, phát hành, giao dịch, đầu tư trái phiếu và cơ chế giải quyết tranh chấp thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan. Về trách nhiệm thanh toán, UBND TP.HCM chịu trách nhiệm toàn diện trong việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục đích; bố trí kinh phí từ ngân sách thành phố để bảo đảm thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi và chi phí hợp pháp liên quan đến trái phiếu phát hành theo Nghị quyết.

Việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ mở rộng khả năng huy động nguồn lực cho các dự án trọng điểm của TP.HCM, mà còn tạo tiền đề phát triển thị trường trái phiếu quốc tế – một trong bốn trụ cột sản phẩm chiến lược của VIFC-HCMC.

Theo ông Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, huy động vốn quốc tế không chỉ là việc của một cơ quan hay chỉ là một giao dịch. Đó là kết quả của quy hoạch, kỷ luật tài chính, chuẩn bị dự án và khuôn khổ pháp lý cùng được vận hành đồng bộ. Nghị quyết được ban hành là căn cứ pháp lý để UBND thành phố tiến hành chuẩn bị cho đợt phát hành đầu tiên. Đợt phát hành đầu tiên chắc chắn sẽ là đợt phát hành có nhiều thách thức, nhưng cũng là đợt phát hành có ý nghĩa nhất. Đợt phát hành này sẽ đặt nền tảng cho uy tín của thành phố trên thị trường vốn quốc tế, mở đường cho các đợt phát hành tiếp theo, đồng thời mở ra cơ hội để các doanh nghiệp tiếp bước phát hành tại VIFC-HCMC.

Trong giai đoạn 2026 – 2030, nhu cầu đầu tư công cấp thành phố ước khoảng 3,1 triệu tỉ đồng, trong khi nguồn vốn ngân sách dự kiến chỉ đáp ứng khoảng 31%. Thành phố hiện có gần 100 công trình, dự án giao thông và hạ tầng kỹ thuật trọng điểm với tổng mức đầu tư gần 1,5 triệu tỉ đồng, cùng danh mục 90 dự án kêu gọi đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) giai đoạn 2026 – 2031 với tổng mức đầu tư hơn 1,27 triệu tỉ đồng. Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân "hai con số" (10 – 11%/năm) và tổng vốn đầu tư xã hội bình quân 5 năm đạt khoảng 35 – 40% GRDP.

Chia nhỏ thanh toán mua bán vàng né quy định không dùng tiền mặt sẽ bị xử lý

https://thanhnien.vn/chia-nho-thanh-toan-mua-ban-vang-ne-quy-dinh-khong-dung-tien-mat-se-bi-xu-ly-185261030142038967.htm30/10/2026 14:32 GMT+7

Cá nhân khi mua, bán vàng có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ khi thực hiện giao dịch mua, bán vàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đây là một trong những nội dung trả lời của Ngân hàng Nhà nước đối với Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu về việc khách hàng thanh toán giao dịch mua bán vàng.

Theo phản ánh của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu, quy định thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán đang tồn tại hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất, xác định theo giá trị thanh toán thực tế trong ngày. Cách hiểu thứ hai, xác định theo tổng giá trị vàng mua, bán trong ngày. Như vậy, trường hợp khách hàng mua, bán vàng có tổng giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nhưng áp dụng phương thức thanh toán trả chậm, chia làm nhiều đợt thì có bắt buộc phải thực hiện thanh toán qua tài khoản hay không?

Khách mua bán vàng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng

ẢNH; NGỌC THẮNG

Trong hoạt động kinh doanh, một khách hàng có thể phát sinh nhiều giao dịch trong ngày, mỗi lần trị giá dưới 20 triệu đồng và thanh toán bằng tiền mặt ngay tại thời điểm giao dịch. Vậy, công ty có bắt buộc phải hoàn trả tiền mặt của giao dịch trước, thu hồi sản phẩm và yêu cầu khách hàng chuyển khoản lại toàn bộ cho tổng giá trị các giao dịch phát sinh trong ngày hay không? Hay công ty chỉ phải ghi nhận thông tin thanh toán, và đối với các phát sinh giao dịch tiếp theo trong ngày mà tổng mức đạt từ ngưỡng 20 triệu đồng trở lên thì chỉ yêu cầu chuyển khoản đối với phần giao dịch phát sinh sau đó?

Giải đáp thắc mắc này, Ngân hàng Nhà nước cho biết ngày 16.10.2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 390/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/202). Theo đó, việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 5 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt (quy định cũ là 20 triệu đồng – PV).

Quy định này nhằm tăng cường tính minh bạch của giao dịch mua, bán vàng, nâng cao khả năng kiểm tra, đối chiếu dòng tiền, phòng, chống thất thu thuế và hỗ trợ công tác phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh vàng; ngưỡng 5 triệu đồng được xác định thống nhất với ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt theo pháp luật về thuế. Căn cứ quy định nêu trên, ngưỡng giá trị 5 triệu đồng được xác định trên cơ sở tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng, không xác định riêng biệt theo giá trị của từng lần giao dịch hoặc từng đợt thanh toán.

Đối với giao dịch làm cho tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày đạt ngưỡng 5 triệu đồng trở lên và các giao dịch tiếp theo trong ngày (nếu có), việc thanh toán phải được thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định nói trên.

Tổ chức, cá nhân khi mua, bán vàng có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ khi thực hiện giao dịch mua, bán vàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Qua đó đề nghị Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu căn cứ các quy định nêu trên và quy định pháp luật có liên quan để tổ chức thực hiện, bảo đảm tuân thủ quy định về phương thức thanh toán khi mua, bán vàng.

Thế ‘lưỡng nan’ của doanh nghiệp bất động sản

https://thanhnien.vn/the-luong-nan-cua-doanh-nghiep-bat-dong-san-18526103010061061.htm30/10/2026 10:47 GMT+7

Khi mặt bằng lãi suất đảo chiều đi lên và hạn mức tín dụng bị kiểm soát chặt, các doanh nghiệp địa ốc quy mô vừa và nhỏ đang rơi vào thế ‘tiến thoái lưỡng nan’ khi dòng tiền từ thị trường đứt gãy.

Cầm bản hợp đồng nguyên tắc từ ngân hàng với mức lãi suất giải ngân lên tới 14%/năm cho dự án tòa nhà cao tầng đã hoàn thiện phần thô, bà N.T.H.N, chủ một công ty đầu tư bất động sản, không khỏi trăn trở.

Dù dự án đang triển khai đúng tiến độ, nhưng doanh thu từ thị trường bắt đầu đứt gãy, lãi suất ngân hàng tăng quá ngưỡng chịu đựng đang đẩy doanh nghiệp vào thế "lưỡng nan": dừng thi công hay chấp nhận vay ngân hàng với mức 14% để đi tiếp.

"Nếu bán ra thị trường bây giờ thì vừa không bán được mà vừa phải bán lỗ vì thị trường đang có những dòng sản phẩm cắt lỗ rất sâu", bà N. chia sẻ.

Với các dự án đang ở giai đoạn làm hạ tầng, việc chính quyền địa phương đôn đốc định giá, giao đất để thu ngân sách trong khi đầu ra thị trường bế tắc càng đẩy doanh nghiệp địa ốc vào thế bế tắc. Dù có tỷ lệ vốn tự có cao, bà N. dự kiến phải bán bớt dự án hoặc chia sẻ cổ phần, kéo thêm nhà đầu tư cùng đối ứng để duy trì qua nhịp trầm lắng thay vì trông chờ vào nguồn vốn ngân hàng.

Thế 'lưỡng nan' của doanh nghiệp bất động sản - Ảnh 1.

Ông Trần Tuấn Anh, Giám đốc Khối Ngân hàng và Đầu tư Mirae Asset Việt Nam, chia sẻ tại diễn đàn

ẢNH: TAS Consulting

Ông P.T, giám đốc một doanh nghiệp bất động sản nghỉ dưỡng, cho biết, cách đây 2 năm, tận dụng sóng thị trường thì các bất động sản ven biển bán rất tốt, nhưng hiện nay gần như hoàn toàn đóng băng. "Tiền đã rất khó, tiền vào bất động sản còn khó hơn nữa", ông T. cho hay.

Theo ông T., năm 2027 sẽ là giai đoạn khó khăn đỉnh điểm và đến năm 2028 thị trường mới bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. "Thị trường bắt buộc phải chờ đợi", ông nói thêm.

Doanh nghiệp có tài sản, có hạn mức nhưng tiền vẫn "nghẽn"?

Tại Diễn đàn giám đốc bất động sản có chủ đề tháo gỡ bài toán tài chính trong doanh nghiệp bất động sản do TAS Consulting tổ chức mới đây, bà Lê Lan Thư, Giám đốc Khối tư vấn quản trị tài chính (TAS Consulting), cho hay, thực tế, bức tranh tín dụng năm 2026 ghi nhận sự đảo chiều rõ rệt khi mặt bằng lãi suất huy động và cho vay mua nhà đi lên. Đến tháng 9.2026, lãi suất cho vay bình quân tiền đồng đã tiến gần sát mốc 11%/năm.

Dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước liên tục yêu cầu giảm lãi suất cho vay từ 1,5 – 2%/năm, làn sóng giảm lãi suất tại hơn 20 ngân hàng vừa qua chủ yếu tập trung vào vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh kỳ hạn dưới 6 tháng. Tín dụng bất động sản và vay tiêu dùng mua nhà vẫn chịu sự chọn lọc khắt khe nhằm kiểm soát rủi ro hệ thống.

Lý giải hiện tượng doanh nghiệp có tài sản, thậm chí đã ký hợp đồng hạn mức tín dụng nhưng vẫn không thể giải ngân, ông Trần Tuấn Anh, Giám đốc Khối Ngân hàng và Đầu tư Mirae Asset Việt Nam, chỉ ra 2 nút thắt lớn.

Đầu tiên là tình trạng cạn "room" tín dụng từ sớm. Các ngân hàng quốc doanh đã tiêu tốn hết phần phân bổ hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp từ rất sớm, khiến dòng tiền giải ngân thực tế bị nghẽn lại. Huy động vốn khó, chi phí vốn đầu vào dâng cao buộc lãi suất cho vay phải neo ở mức cao.

"Lãi suất 14% đã là khó với ngân hàng, ông Tuấn Anh nói. Tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi) thực tế của nhiều ngân hàng theo ông Tuấn Anh, đã vượt mức 110%, chứ không chỉ 95% như quy định.

Cạnh đó, trong "mùa đông" kinh tế, khẩu vị của ngân hàng và các quỹ đầu tư đã thay đổi hoàn toàn. Thay vì nhìn vào tài sản đảm bảo là đất đai như giai đoạn thị trường đi lên, các định chế tài chính hiện ưu tiên đánh giá khả năng tạo doanh thu và dòng tiền thực tế của dự án trong vòng 12 – 24 tháng.

Khi nào bất động sản thấy "ánh sáng ở cuối đường hầm"?

Mặc dù nhiều ý kiến lo ngại chu kỳ trầm lắng sẽ kéo dài đến năm 2028 – 2030 theo lý thuyết chu kỳ kinh tế, song các chuyên gia vẫn nhìn thấy những "biến số" đặc thù tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Hữu Thanh, chuyên gia về tài chính, đầu tư, chỉ ra rằng dòng tiền đầu tư hạ tầng quy mô lớn đang chảy mạnh vào nền kinh tế. Một khi niềm tin thị trường trở lại cùng sự điều hành khéo léo, hệ số nhân tiền sẽ được kích hoạt tích cực.

Đồng quan điểm, bà Trần Nguyệt Quỳnh Hoa, Giám đốc Phát triển kinh doanh BIDV Home, đánh giá sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Chính phủ cùng dòng tiền đầu tư công sẽ giúp thị trường xuất hiện các nhịp phục hồi sớm hơn dự báo từ 1,5 – 2 năm.

Thế 'lưỡng nan' của doanh nghiệp bất động sản - Ảnh 2.

Bà Trần Nguyệt Quỳnh Hoa, Giám đốc Phát triển kinh doanh BIDV Home, đánh giá thị trường bất động sản có nhịp hồi sớm hơn dự báo từ 1,5 – 2 năm

ẢNH: TAS Consulting

Về dài hạn, bà Nguyễn Hoài An, Giám đốc Cấp cao CBRE Việt Nam, nhấn mạnh tỷ lệ đô thị hóa tại Việt Nam mới đạt dưới 40%, thấp hơn nhiều mức trung bình 65 – 66% của châu Á. Đây là bảo chứng cho dư địa nhu cầu nhà ở thực còn rất lớn.

Để sinh tồn và tháo gỡ sự lệch pha giữa dòng tiền, tiến độ thi công và doanh thu, chuyên gia khuyến nghị các doanh nghiệp phải lập tức xoay trục chiến lược.

Theo bà Lê Lan Thư, doanh nghiệp cần tối ưu hóa quy mô phân khu, chấm dứt tình trạng ôm đồm các đại dự án hàng trăm ha vượt quá năng lực quản trị. Việc tập trung vào các dự án quy mô vừa từ 5 – 10 ha giúp doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm cổ đông đối ứng và thu hồi vốn nhanh.

Bên cạnh đó, chủ đầu tư phải chủ động chuyển dịch cấu trúc dòng vốn từ ngắn hạn sang dài hạn. Dù chi phí lãi vay dài hạn có thể cao hơn, cấu trúc này giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ dồn dập khi thanh khoản thị trường đi xuống, tạo không gian cho vòng quay vốn.

Với trường hợp như dự án triển khai xong phần thô như của bà N.T.H.N, ông Trần Tuấn Anh cho rằng, có thể làm việc với ngân hàng để sử dụng hạn mức tín dụng hiện có chuyển sang hình thức phát hành trái phiếu được ngân hàng bảo lãnh thanh toán.

Cạnh đó, ông cũng cho rằng, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa các kênh huy động vốn thông qua việc tìm kiếm các cổ đông chiến lược mới hoặc các quỹ gia đình có nguồn tài chính dồi dào tại Việt Nam bằng phương án kinh doanh đủ hấp dẫn. Trường hợp doanh nghiệp đủ năng lực, theo ông Trần Tuấn Anh, việc IPO có thể đem lại nguồn vốn bền vững dài hạn.

Doanh nghiệp ‘đắp chiếu’ 19 năm: Sắp tới giải thể chỉ tốn vài triệu?

https://thanhnien.vn/doanh-nghiep-dap-chieu-19-nam-sap-toi-giai-the-chi-ton-vai-trieu-185261030013123673.htm30/10/2026 06:41 GMT+7
Một doanh nghiệp ngừng hoạt động 19 năm, có tổng khoản nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt hơn 78 triệu đồng, có thể chỉ còn phải nộp 6,9 triệu đồng nếu các chính sách xóa nợ, giảm phạt do Bộ Tài chính đề xuất được thông qua.

Đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài, giảm mạnh tiền phạt

Bộ Tài chính vừa đề xuất nhiều chính sách nhằm tháo gỡ vướng mắc về nghĩa vụ thuế, giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng hoạt động nhiều năm thuận lợi giải thể.

Tại dự thảo nghị quyết của Chính phủ về chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế đang lấy ý kiến, Bộ Tài chính đề xuất giảm mức phạt đối với hành vi vi phạm thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của người nộp thuế có mã số thuế ở trạng thái 03 (ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế) và 06 (không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký).

Doanh nghiệp 'đắp chiếu' 19 năm: Sắp tới giải thể chỉ tốn vài triệu? - Ảnh 1.

Bộ Tài chính đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài phát sinh đến hết năm 2025 cùng tiền chậm nộp của khoản nợ

ẢNH: NGỌC THẮNG

Theo đó, người nộp thuế sau khi nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu, sẽ được giảm mức phạt tùy theo thời điểm hoàn thành nghĩa vụ.

Cụ thể, áp dụng mức phạt tiền chỉ bằng 30% mức phạt theo quy định nếu nộp hồ sơ khai thuế từ ngày nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30.6.2027; bằng 50% nếu nộp từ ngày 1.7.2027 đến hết ngày 31.12.2027; bằng 70% nếu nộp từ ngày 1.1.2028 đến hết ngày 30.6.2028.

Dự kiến, nghị quyết được trình Chính phủ xem xét, ban hành trước ngày 15.12.2026, áp dụng đến hết ngày 30.6.2028.

Tại dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chính sách đặc thù xử lý nợ thuế, Bộ Tài chính đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài phát sinh đến hết năm 2025 cùng tiền chậm nộp của khoản nợ này.

Cạnh đó, xóa tiền chậm nộp cho người nộp thuế ở trạng thái 03 hoặc 06, tính đến thời điểm nghị quyết có hiệu lực thi hành.

Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét bổ sung dự án nghị quyết vào Chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI đang diễn ra. Nghị quyết sẽ có hiệu lực kể từ ngày Quốc hội thông qua, được tổ chức thực hiện đến hết ngày 30.6.2028.

Doanh nghiệp ‘đắp chiếu’ 19 năm, khoản phải nộp có thể giảm hơn 90%

Trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, đánh giá những đề xuất trên giúp tháo gỡ điểm nghẽn lớn trong giải thể các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu.

Trong gánh nặng tài chính cho quá trình giải thể, tiền truy thu lệ phí môn bài và tiền phạt chậm nộp lệ phí môn bài là 2 khoản lớn nhất, có thể đến hàng chục triệu đồng, nếu doanh nghiệp đã "thả trôi" nhiều năm.

Để làm rõ tác động của chính sách, ông Tuấn dẫn ví dụ trường hợp một doanh nghiệp ngừng hoạt động từ năm 2007 đến nay, có tổng số tiền nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt vi phạm thời hạn nộp hồ sơ khai thuế lên tới 78,27 triệu đồng.

Trong đó, nợ lệ phí môn bài là 28 triệu đồng, tiền chậm nộp lệ phí môn bài 27,27 triệu đồng và tiền phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế 23 triệu đồng.

Nếu các đề xuất của Bộ Tài chính được thông qua và doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện áp dụng, khoản nợ lệ phí môn bài cùng tiền chậm nộp, tổng cộng 55,27 triệu đồng sẽ được xóa.

Đối với khoản tiền phạt 23 triệu đồng, số tiền phải nộp sẽ phụ thuộc vào thời điểm doanh nghiệp hoàn thành các hồ sơ còn thiếu.

Nếu hoàn thành trong giai đoạn đầu, khi mức phạt được giảm 70%, doanh nghiệp chỉ phải nộp 6,9 triệu đồng. Nếu hoàn thành trong giai đoạn tiếp theo, số tiền phạt là 11,5 triệu đồng; còn ở giai đoạn cuối là 16,1 triệu đồng.

Như vậy, từ tổng nghĩa vụ tài chính 78,27 triệu đồng, số tiền doanh nghiệp phải nộp theo 3 phương án có thể giảm xuống tương ứng còn 6,9 triệu đồng, 11,5 triệu đồng hoặc 16,1 triệu đồng.

Riêng phương án hoàn thành hồ sơ sớm nhất, tổng số tiền được giảm lên tới 71,37 triệu đồng, tương đương khoảng 91,2%.

Doanh nghiệp 'đắp chiếu' 19 năm: Sắp tới giải thể chỉ tốn vài triệu? - Ảnh 2.

ĐỒ HỌA ĐƯỢC HỖ TRỢ THIẾT KẾ BỞI AI

Khuyến nghị doanh nghiệp sớm rà soát hồ sơ để tận dụng chính sách

Ông Nguyễn Văn Thức, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH đại lý thuế BCTC, nhận định nếu các đề xuất được thông qua, đặc biệt là chính sách giảm tới 70% mức phạt, đây sẽ là cơ hội rất đáng tận dụng.

Các doanh nghiệp có mã số thuế ở trạng thái 03 và 06 nên chủ động rà soát tình trạng pháp lý, nghĩa vụ thuế, hồ sơ khai thuế còn thiếu và chuẩn bị các thủ tục cần thiết để sẵn sàng thực hiện khi chính sách có hiệu lực.

Để các chính sách đề xuất và những hướng dẫn trước đó về giải thể doanh nghiệp, hộ kinh doanh được triển khai thuận lợi, ông Lê Văn Tuấn kiến nghị Bộ Tài chính sớm ban hành quy trình hướng dẫn giải thể theo hướng rút gọn, tinh giản thủ tục.

Bộ quy trình cần sự đồng bộ, không chỉ áp dụng cho ngành thuế mà còn áp dụng cho các cơ quan liên quan khác như sở tài chính, cơ quan hải quan.

"Về lâu dài, vẫn cần rút gọn và đơn giản hóa quy trình giải thể theo hướng áp dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu, để từ đó chấp nhận giải thể doanh nghiệp nhanh chóng cho các hồ sơ thuế ít rủi ro", ông Tuấn nhấn mạnh.

Xuất nhập khẩu lập đỉnh mới, vượt 1.000 tỉ USD

https://thanhnien.vn/xuat-nhap-khau-lap-dinh-moi-vuot-1000-ti-usd-185261029174800742.htm29/10/2026 18:43 GMT+7
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 10 tháng năm 2026 đã chính thức vượt mốc 1.000 tỉ USD.

Bộ Công thương cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 10 tháng đạt 1.010,6 tỉ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2025, chính thức vượt mốc 1.000 tỉ USD. Riêng trong tháng 10, kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 122,2 tỉ USD, tăng 47,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Xuất nhập khẩu lập đỉnh mới, vượt 1.000 tỉ USD- Ảnh 1.

Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỉ USD

ẢNH: NHẬT THỊNH

Đặc biệt, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng mạnh, với kim ngạch ước đạt 499 tỉ USD trong 10 tháng, tăng 27,4% đã tạo động lực tích cực để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 – 16% cả năm 2026.

Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng trong cả 2 khu vực kinh tế trong nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm 87,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đáng lưu ý, xuất khẩu ghi nhận mức tăng trưởng tích cực tại nhiều thị trường lớn: Trung Quốc, Mỹ, EU, Hàn Quốc và ASEAN.

Về cán cân thương mại, tháng 10 ước xuất siêu 6,8 tỉ USD, đánh dấu tháng thứ hai liên tiếp xuất siêu, đưa mức nhập siêu lũy kế 10 tháng xuống còn khoảng 12,7 tỉ USD. Kết quả này cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khẳng định vai trò quan trọng của thương mại hàng hóa đối với tăng trưởng kinh tế.

Trong quý 4/2026, Bộ Công thương sẽ đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực tuân thủ; tập trung khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, mở rộng các thị trường mới.

Bộ Công thương tiếp tục nâng cao năng lực cảnh báo sớm về các vụ việc phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và quy định xuất xứ; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và minh bạch chuỗi cung ứng…

Đưa Việt Nam vào top 10 xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới

Bộ Công thương đang xây dựng dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với tham vọng đưa xuất khẩu tăng trưởng hai con số bền vững.

Cụ thể, trong giai đoạn 2026 – 2030, chiến lược hướng tới việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu cao, đạt bình quân 15 – 16%/năm. Đến năm 2045, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm 10 nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới.

Phấn đấu tăng trưởng nhập khẩu bình quân 12 – 13%/năm trong cùng thời kỳ, hướng tới mục tiêu vào nhóm 10 nước kim ngạch nhập khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2045; tỷ trọng xuất siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân 3 – 6% (giai đoạn 2026 – 2030) và nâng lên 7 – 10% vào năm 2045.

Chiến lược định hướng tăng trưởng xuất nhập khẩu theo chiều sâu, giảm phụ thuộc vào gia công thô và tăng tỷ trọng đóng góp từ các doanh nghiệp trong nước. Cụ thể, tăng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước lên 28 – 30% vào năm 2030 và đạt 38 – 40% vào năm 2045; nâng tỷ trọng hàng hóa qua chế biến hoặc tinh chế đạt 89 – 90% (năm 2030) và vượt 92% (năm 2045) trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Chiến lược đặt mục tiêu tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao chiếm 50% giá trị xuất khẩu nhóm hàng chế biến, chế tạo vào năm 2030 và đạt trên 55% vào năm 2045.

Chiến lược xác định đến năm 2030, Việt Nam không có thị trường xuất khẩu nào chiếm quá 25% tổng kim ngạch và không còn thị trường nhập khẩu nào chiếm quá 35%; giảm phụ thuộc vào các thị trường lớn, đưa tỷ trọng cộng gộp của 3 thị trường lớn nhất sẽ giảm xuống dưới 55% vào năm 2030 và dưới 50% vào năm 2045.

Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ nâng thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD lên trên 45 thị trường (năm 2030) và 55 thị trường (năm 2045); đẩy mạnh xuất khẩu sang các khu vực tiềm năng như Nam Á, Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh, nâng tỷ trọng nhóm này lên 10% vào năm 2030 và 15% vào năm 2045.