Diễn biến lạ của vàng: Thế giới tăng, vàng SJC giảm 1,3 triệu đồng/lượng

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/dien-bien-la-cua-vang-the-gioi-tang-vang-sjc-giam-13-trieu-dongluong-20260903133227843.htmThứ năm, 03/09/2026 – 13:49

(Dân trí) – Sáng 3/9, giá vàng SJC trong nước giảm mạnh. Trên thế giới, giá vàng giao ngay tăng 1,3% lên 4.385 USD/ounce. Vàng đang trong giai đoạn nhạy cảm trước loạt thông tin chi phối.

Hiện, vàng miếng SJC đang niêm yết 144,4 triệu đồng/lượng mua vào và 147,4 triệu đồng/lượng bán ra, cùng giảm 1,3 triệu đồng so với ngày 2/9.

Trong khi đó, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 1,3% lên 4.385 USD/ounce vào lúc 16h16 tại New York (rạng sáng nay theo giờ Việt Nam). Bạc tăng 1,9%. Bạch kim và palladium cũng đi lên. Chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index, thước đo sức mạnh của đồng USD, giảm 0,21%.

Do diễn biến trái chiều khiến chênh lệch vàng SJC và thế giới thu hẹp xuống còn khoảng 8,6 triệu đồng/lượng – chưa gồm thuế, phí (so với gần 10 triệu đồng hôm qua).

Thị trường quốc tế đang trong giai đoạn biến động nhạy cảm. Ghi nhận, giá vàng liên tục rớt mạnh đầu tháng 9, và vừa phục hồi hơn 1% sau khi đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ rời vùng cao.

Dù vậy, giới đầu tư vẫn đặt cược tương đối cao vào khả năng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong cuộc họp tháng 9.

Trong khi lợi suất và USD giảm tạo lực đỡ cho vàng, thì triển vọng lãi suất cao hơn lại hạn chế khả năng giá tăng liên tục của kim loại quý này.

Tâm điểm đang đổ dồn về báo cáo việc làm phi nông nghiệp dự kiến công bố vào ngày 4/9. Dự báo hiện tại cho thấy kinh tế Mỹ có thể tạo thêm khoảng 56.000 việc làm. Nếu số liệu thấp hơn đáng kể kỳ vọng, thị trường có thể giảm đặt cược Fed tăng lãi suất. Đồng USD và lợi suất trái phiếu khi đó có khả năng giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho vàng.

Ngược lại, một báo cáo việc làm mạnh có thể củng cố quan điểm Fed còn dư địa thắt chặt, từ đó tạo sức ép lên kim loại quý.

Diễn biến lạ của vàng: Thế giới tăng, vàng SJC giảm 1,3 triệu đồng/lượng - 1

Vàng miếng SJC (Ảnh: DT).

Bên cạnh lãi suất, giá vàng đang chịu tác động đáng kể từ căng thẳng địa chính trị và thị trường năng lượng. Các diễn biến mới giữa Mỹ và Iran đã làm gia tăng biến động của dầu thô. Giá dầu tăng kéo theo lo ngại lạm phát, qua đó có thể khiến các ngân hàng trung ương duy trì chính sách tiền tệ cứng rắn hơn.

Nếu căng thẳng leo thang, nhu cầu tìm kiếm tài sản trú ẩn thường tăng và hỗ trợ vàng. Nhưng nếu xung đột khiến dầu tăng quá mạnh, lạm phát và lợi suất trái phiếu cũng có thể đi lên, gây áp lực ngược lại.

Dù ngắn hạn khá nhạy cảm khi chịu chi phối bởi nhiều yếu tố, vàng về dài hạn vẫn được dự báo lạc quan. Một trong những động lực là nhu cầu mua ròng của ngân hàng trung ương.

Thống kê quý II, các ngân hàng trung ương mua ròng 289 tấn vàng, tăng mạnh so với quý đầu năm. Trong khảo sát năm 2026, 89% các đơn vị quản lý dự trữ tham gia cho rằng lượng vàng do ngân hàng trung ương toàn cầu nắm giữ sẽ tiếp tục tăng trong 12 tháng tới.

Xu hướng đa dạng hóa tài sản dự trữ, bất ổn địa chính trị và nhu cầu phòng ngừa rủi ro tiếp tục tạo lực đỡ cho vàng trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, điều này không loại trừ những nhịp điều chỉnh mạnh khi đồng USD hoặc lợi suất trái phiếu tăng.

Lợi suất trái phiếu toàn cầu lập đỉnh nhiều thập kỷ trước nỗi lo lạm phát

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/loi-suat-trai-phieu-toan-cau-lap-dinh-nhieu-thap-ky-truoc-noi-lo-lam-phat-20260903093756853.htmThứ năm, 03/09/2026 – 13:37

(Dân trí) – Trái phiếu chính phủ trên toàn cầu tiếp tục bị bán tháo trong phiên 2/9, kéo lợi suất lên các mức cao nhất trong hàng thập kỷ. Nhiều ngân hàng trung ương lớn được dự báo sẽ tăng lãi suất trong tháng này.

Vào ngày 2/9, lợi suất trái phiếu chính phủ Đức kỳ hạn 10 năm tăng 4 điểm cơ bản lên 3,378%, cao nhất kể từ năm 2011. Lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản cùng kỳ hạn cũng tăng tiếp lên 3,016%, sau khi lần đầu vượt mốc 3% trong ba thập kỷ vào ngày 1/9.

Tại Mỹ, lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm có thời điểm tăng lên 4,814%, cao nhất kể từ tháng 11/2023. Lợi suất trái phiếu chính phủ Anh kỳ hạn 10 năm cũng chạm 5,25%, mức cao nhất kể từ năm 2008. Cả hai lợi suất này đều hạ nhẹ vào cuối phiên.

Theo tờ CNBC, các nhà đầu tư đang lo lắng về sự trỗi dậy của áp lực lạm phát, đặc biệt trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông khiến giá dầu tăng cao. Diễn biến này càng làm tăng những lo ngại về tình hình tài khóa và gánh nặng nợ nần của các nền kinh tế lớn, từ Mỹ đến Nhật Bản và Pháp.

Lợi suất trái phiếu toàn cầu lập đỉnh nhiều thập kỷ trước nỗi lo lạm phát - 1

Lợi suất trái phiếu của Mỹ và Nhật Bản cùng tăng (Ảnh minh họa: Getty)

Trong khi đó, nhiều ngân hàng trung ương lớn trên toàn cầu được dự báo sẽ tăng lãi suất trong tháng này, qua đó càng làm tăng áp lực đối với trái phiếu.

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh đã phát tín hiệu "cứng rắn" với lạm phát tại hội nghị Jackson Hole vào tuần trước. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) được cho là có thể tăng lãi suất để hỗ trợ đồng yen. Các thị trường cũng đang kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ tăng lãi suất vào ngày 10/9, sau khi lạm phát tháng 8 vượt mốc 3%.

Hệ quả, thị trường chứng khoán toàn cầu từ Mỹ, châu Âu đến châu Á đều đã sụt giảm trong những phiên gần đây, khi lợi suất toàn cầu tăng mạnh.

Ông George Maris, Giám đốc đầu tư tại Principal Asset Management, chia sẻ trên chương trình của CNBC vào ngày 2/9: “Các nền tảng cơ bản trên thị trường đang trở nên kém vững chắc hơn đôi chút so với trước đây. Khi chi phí vốn đi lên thì chi phí rủi ro cũng tăng theo. Đó chính là điều đang diễn ra khi lợi suất trái phiếu toàn cầu leo thang”.

Vị này cho biết, mức nợ công trên khắp thế giới đang ở mức cao ngất ngưởng và vẫn tiếp tục tăng. Hiện vẫn chưa có bất kỳ giải pháp rõ ràng nào để giải quyết tình trạng này… Việc nợ nần gia tăng ngay trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng lành mạnh đồng nghĩa với việc chúng ta đang ở vào vị thế bấp bênh hơn nếu xảy ra bất kỳ cú sốc hay biến động lớn nào.

Trong nước, tuần cuối tháng 8 và tuần trước kỳ nghỉ lễ (24/8-28/8), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có động thái quay đầu bơm ròng mạnh thanh khoản trên kênh thị trường mở khi bơm ròng xấp xỉ 54.900 tỷ đồng. Phiên cuối tuần có lượng bơm ròng mạnh nhất hơn 36.262 tỷ đồng, đưa lãi suất liên ngân hàng qua đêm giảm mạnh về 1,19%/năm.

Trước đó, lãi suất liên ngân hàng qua đêm duy trì đà giảm trong suốt tháng 7, chạm đáy hơn 2 năm tại 0,75%/năm vào ngày 30/7, sau đó tăng trở lại lên mức 6,32%/năm vào ngày cuối tháng và giảm dần đến cuối tháng 8.

Theo nhận định từ Bộ phận Phân tích Kinh tế và Tình hình Tài chính Techcombank, nếu NHNN và Chính phủ triển khai các biện pháp nới lỏng khác như gia tăng cung trên nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn dài hơn, triển khai các chương trình tái cấp vốn hay tăng lượng tiền Kho bạc Nhà nước có thể gửi vào hệ thống ngân hàng… lãi suất liên ngân hàng đối với các kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng có thể giảm và duy trì ổn định trong vùng 4-6%.

Chuyên gia ngân hàng này cũng nhìn nhận, nếu mặt bằng lãi suất liên ngân hàng duy trì thấp và ổn định đủ lâu, điều này cũng có thể tạo thêm dư địa để lãi suất tiền gửi giảm nhẹ, khoảng 40 điểm cơ bản vào quý IV năm nay.

Giá xăng tăng mạnh đẩy CPI đi lên

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/gia-xang-tang-manh-day-cpi-di-len-20260903123621061.htmThứ năm, 03/09/2026 – 13:14

(Dân trí) – Giá xăng tăng 9,53%, dầu diesel tăng hơn 22% trong tháng 8 khiến nhóm giao thông tăng mạnh, đóng góp 0,41 điểm phần trăm vào mức tăng CPI chung.

Theo báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI tăng 3,57%; còn so với cùng kỳ năm trước tăng 4,89%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm tăng giá. Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%.

Đáng chú ý, giao thông là nhóm tăng giá mạnh nhất với 4,09% so với tháng trước, tác động làm CPI chung tăng 0,41 điểm phần trăm. Như vậy, biến động của nhóm này chiếm phần lớn mức tăng CPI trong tháng 8.

Giá xăng tăng mạnh đẩy CPI đi lên - 1

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước (Ảnh: NSO).

Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá nhiên liệu. Cục Thống kê cho biết chỉ số giá dầu diesel tăng 22,15%, giá xăng tăng 9,53% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước theo diễn biến nhiên liệu thế giới.

Một số chi phí liên quan đến phương tiện cũng tăng trong tháng. Giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,4%; phí học bằng lái xe tăng 0,37%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,33% và phụ tùng tăng 0,11%.

Ở chiều ngược lại, giá ô tô đã qua sử dụng giảm 0,63%, ô tô mới giảm 0,5% và xe máy giảm 0,18% khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình ưu đãi, hỗ trợ người tiêu dùng mua sắm.

Giá một số dịch vụ vận tải cũng đi xuống. Vận tải hành khách bằng đường sắt giảm 9,86%, hàng không giảm 0,81% và xe buýt giảm 0,29%, chủ yếu do nhu cầu đi lại, du lịch hạ nhiệt khi bước vào cuối mùa cao điểm hè.

Ngoài xăng dầu, giá gas tháng 8 tăng 4,19%, dầu hỏa tăng 4,63%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng vì vậy tăng 0,1% so với tháng trước.

Tính chung 8 tháng, CPI bình quân tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 3,25% của cùng kỳ năm ngoái.

Ba nhóm tác động đáng kể nhất đến CPI 8 tháng là hàng ăn và dịch vụ ăn uống, đóng góp 1,7 điểm phần trăm; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng đóng góp 1,52 điểm phần trăm; giao thông đóng góp 0,54 điểm phần trăm.

Trong khi đó, lạm phát cơ bản bình quân 8 tháng tăng 4,24%, thấp hơn CPI chung. Cục Thống kê lý giải nguyên nhân là giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI tăng, trong khi những mặt hàng này được loại trừ khi tính lạm phát cơ bản.

Thực thi EPR: Doanh nghiệp trả tiền để “xử lý hậu quả”, trách nhiệm tới đâu

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/thuc-thi-epr-doanh-nghiep-tra-tien-de-xu-ly-hau-qua-trach-nhiem-toi-dau-20260902164310120.htmThứ năm, 03/09/2026 – 11:47

(Dân trí) – Khi Việt Nam từng bước đưa EPR (Extended Producer Responsibility – trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) vào thực tiễn, một câu hỏi lớn cũng được đặt ra đó là trách nhiệm của doanh nghiệp đến đâu?

Thực thi EPR: Doanh nghiệp trả tiền để xử lý hậu quả, trách nhiệm tới đâu - 1

Sử dụng bao bì phù hợp có thể giúp giảm lượng khí thải carbon (Ảnh: Tetrapak).

Từ “người gây ô nhiễm trả tiền” đến trách nhiệm vòng đời sản phẩm

Theo cách hiểu phổ biến, EPR là cơ chế yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu có trách nhiệm đối với sản phẩm và bao bì mà mình đưa ra thị trường sau khi người tiêu dùng đã sử dụng.

Điểm đáng chú ý của EPR là sự dịch chuyển trách nhiệm. Nếu trước đây phần lớn chi phí thu gom và xử lý chất thải được đặt lên vai ngân sách nhà nước, các đơn vị vệ sinh môi trường và cộng đồng thì với EPR doanh nghiệp phải tham gia trực tiếp hơn vào quá trình giải quyết lượng chất thải phát sinh từ chính sản phẩm của mình.

Nguyên tắc này phù hợp với tư duy “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Nhưng EPR không chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp trả tiền để “xử lý hậu quả”. Bản chất sâu hơn của cơ chế này là tạo áp lực và động lực để doanh nghiệp thay đổi ngay từ đầu nguồn.

Một sản phẩm được thiết kế dễ tái chế hơn sẽ có chi phí xử lý thấp hơn. Một loại bao bì sử dụng ít vật liệu hơn sẽ giảm lượng chất thải phát sinh. Một doanh nghiệp tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế có thể góp phần hình thành thị trường cho vật liệu thứ cấp.

Như vậy, EPR tạo ra một chuỗi liên kết từ thiết kế sản phẩm – sản xuất – tiêu dùng – thu gom – tái chế – quay trở lại sản xuất. Đó cũng là logic của nền kinh tế tuần hoàn mà Việt Nam đang hướng tới.

Trong mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống, nguyên liệu được khai thác, sản phẩm được sản xuất, sử dụng rồi trở thành rác thải. Nhưng trong kinh tế tuần hoàn, chất thải cần được xem như một nguồn tài nguyên có thể quay trở lại chu trình sản xuất. EPR chính là một trong những công cụ quan trọng để thúc đẩy sự chuyển dịch ấy.

Một động thái thể hiện trách nhiệm thực hiện EPR của doanh nghiệp: Tháng 3 năm nay, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) và Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MoU) nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị bao bì nhựa và kiến tạo hệ sinh thái bao bì bền vững tại Việt Nam theo định hướng kinh tế tuần hoàn.

Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam, nhấn mạnh, sự hợp tác này mở ra một giai đoạn mới cho lộ trình xanh hóa ngành nhựa Việt Nam. Qua đó, các nhà sản xuất không chỉ nâng cao chất lượng nhựa tái sinh (PCR), mà còn từng bước trở thành đối tác quan trọng trong việc cung cấp các giải pháp bền vững, hỗ trợ khách hàng thực hiện hiệu quả trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

Điều này không chỉ là nỗ lực nâng cao giá trị gia tăng cho ngành nhựa mà còn thể hiện rõ trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường, xã hội và định hướng phát triển bền vững.

Thực thi EPR: Doanh nghiệp trả tiền để xử lý hậu quả, trách nhiệm tới đâu - 2

Chương trình Chai nhựa tái sinh – Hành trình tiếp nối của Coca Cola (Ảnh: Coca Cola VN).

Doanh nghiệp đang đứng trước những trách nhiệm nào?

Việc thực thi EPR đặt doanh nghiệp trước nhiều yêu cầu mới. Trong đó, quan trọng nhất là trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì theo quy định và trách nhiệm đóng góp tài chính cho hoạt động xử lý chất thải đối với một số nhóm sản phẩm.

Tuy nhiên, nhìn rộng hơn, trách nhiệm của doanh nghiệp không nên được hiểu theo nghĩa “hoàn thành thủ tục”. Bởi nếu chỉ coi EPR là một khoản chi phí phải nộp, mục tiêu lớn nhất của chính sách có thể khó đạt được.

Thách thức thực sự nằm ở việc doanh nghiệp phải trả lời được một loạt câu hỏi, đó là sản phẩm của mình sau khi sử dụng sẽ đi đâu? Có bao nhiêu phần trăm vật liệu có thể được thu hồi? Thiết kế bao bì hiện nay có thực sự thuận lợi cho việc tái chế? Doanh nghiệp có thể giảm vật liệu nguyên sinh hay không? Có thể tăng tỷ lệ vật liệu tái chế trong sản phẩm hay không? Và quan trọng hơn, doanh nghiệp có sẵn sàng đầu tư cho một hệ thống trách nhiệm kéo dài vượt ra ngoài cổng nhà máy?

Thay đổi này thực sự không nhỏ. EPR đang buộc doanh nghiệp phải nhìn sản phẩm của mình theo một vòng đời dài hơn.

Nếu doanh nghiệp chỉ coi đây là một khoản chi phí bắt buộc, việc thực thi có thể trở thành một dạng “mua quyền được tiếp tục tạo ra chất thải”. Trong khi điều mà chính sách hướng đến lại là thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Một doanh nghiệp có trách nhiệm không nên chỉ đặt câu hỏi: “Tôi phải đóng bao nhiêu tiền?” Câu hỏi quan trọng hơn cần là: “Tôi có thể giảm bao nhiêu chất thải ngay từ đầu?” Đây là điểm khác biệt giữa việc tuân thủ tối thiểu và thực hiện trách nhiệm thực chất.

Theo TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (nay là Liên đoàn Doanh nghiệp TPHCM), để thực thi EPR, doanh nghiệp phải làm một cách kiên trì và bền bỉ, không chỉ làm một lần là xong. Và với Việt Nam, đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp phải đặt ra lộ trình tùy theo nguồn lực và đòi hỏi của thị trường.

Gánh nặng lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Không thể phủ nhận rằng EPR có thể tạo thêm áp lực đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong bối cảnh chi phí nguyên liệu, logistics, nhân công và yêu cầu thị trường đều gia tăng, khoản đầu tư cho môi trường có thể trở thành một bài toán không đơn giản.

Nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa có bộ phận chuyên trách về phát triển bền vững. Không ít đơn vị cũng thiếu thông tin về cách tính toán nghĩa vụ, lựa chọn phương án thực hiện hay tìm kiếm đối tác tái chế phù hợp. Thậm chí, với một số doanh nghiệp, khái niệm “thiết kế vì khả năng tái chế” vẫn còn khá mới mẻ.

Vì vậy, thực thi EPR không thể chỉ dừng ở việc ban hành quy định và yêu cầu doanh nghiệp tự tìm cách thích ứng. Cần có hệ thống hướng dẫn rõ ràng, minh bạch và dễ tiếp cận. Doanh nghiệp cần biết mình thuộc nhóm đối tượng nào, phải thực hiện nghĩa vụ ra sao và có những phương án nào để đáp ứng yêu cầu.

Đặc biệt, cần phát triển các tổ chức trung gian, các đơn vị tái chế và mạng lưới hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tham gia EPR với chi phí hợp lý. Đối với doanh nghiệp nhỏ, việc liên kết có thể là một lời giải.

Thay vì từng doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống thu gom và tái chế riêng, các doanh nghiệp có thể tham gia những cơ chế chung, cùng đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu môi trường. Đây cũng là cách để EPR trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng doanh nghiệp, thay vì biến thành rào cản khiến các doanh nghiệp nhỏ thêm khó khăn.

Thực thi EPR: Doanh nghiệp trả tiền để xử lý hậu quả, trách nhiệm tới đâu - 3

Nhiều công ty hướng tới giải pháp bao bì bền vững (Ảnh: Nestle VN).

Làm sao nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp?

Câu trả lời không thể chỉ gói gọn trong một tỷ lệ tái chế hay một khoản đóng góp tài chính. Trách nhiệm ấy bắt đầu từ thiết kế sản phẩm, kéo dài qua quá trình lựa chọn nguyên liệu, sản xuất và phân phối, tiếp tục ở khâu thu gom, tái chế và xử lý khi sản phẩm kết thúc vòng đời. Và xa hơn nữa là trách nhiệm thay đổi tư duy phát triển.

Doanh nghiệp có thể hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, nhưng để trở thành một doanh nghiệp có trách nhiệm thực sự, cần đi xa hơn yêu cầu tối thiểu. Đó là chủ động giảm chất thải thay vì chỉ trả tiền để xử lý chất thải. Chủ động đầu tư cho công nghệ sạch thay vì chờ đến khi bị bắt buộc. Chủ động hợp tác với các đơn vị tái chế thay vì coi đó là phần việc của một ai khác. Và quan trọng nhất, phải nhìn nhận rằng lợi nhuận của hôm nay không thể được đánh đổi bằng những chi phí môi trường mà xã hội phải gánh chịu trong ngày mai.

Thực thi EPR vì thế là một phép thử. Phép thử đối với năng lực thích ứng của doanh nghiệp. Phép thử đối với hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước. Và cũng là phép thử đối với quyết tâm chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh, tuần hoàn và bền vững hơn.

Ông Bùi Phước Hòa – Giám đốc Dự án Hàng Việt Nam Chất lượng cao – Chuẩn hội nhập (BSAS) cho rằng, để thực thi tốt EPR, doanh nghiệp cần sự hỗ trợ của nhà nước về thuế, phí. Vì khi sản xuất liên quan đến tái chế hay tái sinh nó rất tốn kém. Một nhà máy làm ra sản phẩm từ nhựa nguyên sinh sẽ ít tốn chi phí hơn, bán lời hơn. Nhưng một nhà máy tái chế làm vất vả, chi phí nhiều, lời thì ít.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn có thể tìm tới sự hỗ trợ từ các ngân hàng. Ông Jason Yang – Giám đốc cấp cao lĩnh vực chuyển đổi và phát triển bền vững, Ngân hàng UOB Việt Nam, chia sẻ, hiện có một số ngành cụ thể đã đi trước trong việc thực thi EPR nhưng nếu muốn mở rộng quy mô áp dụng EPR cho các ngành khác, chúng ta cần phải cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái.

Ngân hàng này hỗ trợ tài chính và triển khai các khung chính sách, đồng hành các đối tác. "Điều chúng tôi làm là tiếp cận các doanh nghiệp hoặc cơ quan chính phủ, lắng nghe các vấn đề họ gặp phải, sau đó tìm kiếm các công nghệ xanh hoặc các startup có giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề đó. Chúng tôi kết nối các công ty công nghệ xanh này với các vấn đề từ phía chính phủ hoặc doanh nghiệp để xây dựng giải pháp thực tế”, ông bày tỏ.

Ông Jason Yang cũng tin rằng, nếu ngân hàng có thể thúc đẩy EPR thông qua các chương trình hợp tác và thông qua các nhà cung cấp giải pháp thì UOB có thể đóng vai trò mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và mang lại hiệu quả lớn hơn cho Việt Nam trong việc thực thi EPR.

EPR là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Extended Producer Responsibility, dịch ra tiếng Việt là Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.

Các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về vòng đời của sản phẩm, từ khâu thiết kế, đưa ra thị trường cho đến giai đoạn thu gom, xử lý và tái chế sau khi sản phẩm đó bị thải bỏ.

Cơ chế này thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Tại Việt Nam, theo Luật Bảo vệ môi trường, các tổ chức, cá nhân sản xuất và nhập khẩu thuộc diện điều chỉnh phải thực hiện hai loại trách nhiệm chính gồm trách nhiệm tái chế và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải.

Với trách nhiệm tái chế, các đơn vị phải tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì do mình đưa ra thị trường.

Với trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải, các bên phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động thu gom, xử lý chất thải.

Điều gì đang kéo sản xuất Việt Nam tăng tốc?

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/dieu-gi-dang-keo-san-xuat-viet-nam-tang-toc-20260903104714867.htmThứ năm, 03/09/2026 – 11:46

(Dân trí) – PMI ngành sản xuất Việt Nam tăng lên 53,3 điểm trong tháng 8, mức cao nhất kể từ tháng 2, nhờ sản lượng và đơn hàng mới tăng mạnh.

Theo S&P Global, tăng trưởng ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục mạnh lên trong tháng 8. Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (Purchasing Managers’ Index, PMI) ngành sản xuất Việt Nam đạt 53,3 điểm trong tháng 8, tăng so với mức 52,9 điểm của tháng 7.

Chỉ số này trên 50 điểm tháng thứ 14 liên tiếp, cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục cải thiện. Đây cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 2.

Đà tăng chủ yếu đến từ sản lượng và số đơn hàng mới tăng mạnh, khi nhu cầu khách hàng tốt hơn, doanh nghiệp tung ra sản phẩm mới và nguồn nguyên liệu dồi dào hơn. Sản lượng tăng tháng thứ 16 liên tiếp, với tốc độ nhanh nhất trong hơn 2 năm. Số đơn hàng mới cũng tăng mạnh nhất kể từ tháng 10/2025.

Ở chiều ngược lại, đơn hàng xuất khẩu mới giảm nhẹ sau 3 tháng tăng liên tiếp. Việc làm trong ngành sản xuất cũng giảm tháng thứ 5 trong 6 tháng. Lượng công việc chưa hoàn thành tiếp tục tăng do số đơn hàng mới tăng nhanh.

Áp lực chi phí có dấu hiệu hạ nhiệt. Giá dầu vẫn khiến chi phí nhiên liệu, nhựa và vận chuyển tăng, nhưng tốc độ tăng chi phí đầu vào đã chậm lại, xuống mức thấp nhất 11 tháng. Giá bán sản phẩm cũng tăng chậm hơn.

Điều gì đang kéo sản xuất Việt Nam tăng tốc? - 1

Công nhân dệt may tại một nhà máy ở TPHCM (Ảnh: X.H).

S&P Global đánh giá ngành sản xuất Việt Nam đang lấy lại đà tăng trưởng nhờ nhu cầu cải thiện và nguồn cung thuận lợi hơn. Tuy nhiên, triển vọng vẫn chịu sức ép từ bất ổn địa chính trị, khiến niềm tin của doanh nghiệp giảm nhẹ, trong khi việc làm tiếp tục là điểm yếu.

Theo Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi tích cực trong quý II, với niềm tin của doanh nghiệp được cải thiện rõ rệt so với quý trước.

Có 79,7% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn hoặc giữ ổn định, trong khi các chỉ tiêu về đơn hàng mới, sản lượng và công suất sử dụng máy móc đều ghi nhận tín hiệu khả quan.

Đáng chú ý, lượng hàng tồn kho tiếp tục được kiểm soát, cho thấy khả năng tiêu thụ và dòng vốn lưu động của doanh nghiệp có dấu hiệu cải thiện. Bước sang quý III, triển vọng sản xuất được đánh giá tích cực khi 83,4% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc ổn định so với quý II, cùng kỳ vọng đơn hàng và sản lượng tiếp tục tăng.

Tuy nhiên, đà phục hồi vẫn chịu sức ép từ cạnh tranh trên thị trường trong nước, nhu cầu tiêu dùng còn yếu, chi phí sản xuất và lãi suất vay vốn ở mức cao.

Lãi suất neo cao, tỷ giá hối đoái diễn biến ngược

https://thanhnien.vn/lai-suat-neo-cao-ty-gia-hoi-doai-dien-bien-nguoc-185260902203738779.htm03/09/2026 06:00 GMT+7
Các ngân hàng vẫn neo lãi suất ở mức cao để huy động tiền gửi từ người dân trong bối cảnh giá USD đi lùi so với đầu năm.

Lãi suất tiết kiệm đứng ở mức cao

Ngay trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2.9, chị Thanh Thư (P.Diên Hồng, TP.HCM) đáo hạn sổ tiết kiệm và gửi lại kỳ hạn 6 tháng tại một ngân hàng (NH) thương mại và nhận được lãi suất 8,8%/năm. So với kỳ hạn 6 tháng trước đó, lãi suất đã tăng thêm 1%. Tuy nhiên, đây chưa phải là mức lãi suất cao nhất trên thị trường.

Trên một số diễn đàn tài chính, nhiều nhân viên tín dụng vẫn "chào" khách hàng gửi tiết kiệm xuyên lễ với lãi suất cao hơn biểu lãi suất công bố của các nhà băng, từ 9 – 9,5%/năm tùy thuộc vào số tiền gửi. Một nhân viên có nick Joy… rao: "Ai có tiền gửi liên hệ em, chỉ từ 100 triệu đồng gửi tại quầy 9%/năm và online cao nhất 9,3%/năm". Một người khác ngay sau đó chào cao hơn với lời nhắn "Ngân hàng VikkiBank 6 tháng 9,4%". Có người tiết lộ "gửi 6 tháng nếu không rút trước hạn là 9,5%/năm"… Nổi bật là các NH số như MBV, VikkiBank, Cake by VPBank đều huy động tiết kiệm với lãi suất thuộc hàng "top" trên thị trường. Như Cake by VPBank triển khai chương trình cộng thêm 2%/năm cho khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu, với số tiền từ 100.000 đồng, kỳ hạn từ 6 – 12 tháng và không tất toán trước hạn. Ưu đãi áp dụng đối với tiền gửi tiêu chuẩn và tiền gửi tích lũy trên ứng dụng CAKE BANK trong suốt tháng 9. Với lãi suất cao nhất mà NH này công bố áp dụng cho tiền gửi kỳ hạn từ 7 – 24 tháng thì tương ứng sau khi cộng ưu đãi, lãi suất đối với khoản tiền gửi có thể lên tới 9,4%/năm…

Lãi suất neo cao, tỷ giá hối đoái diễn biến ngược- Ảnh 1.

Lãi suất tiết kiệm neo ở mức cao

ẢNH: NGỌC THẮNG

Bên cạnh đó, để thu hút khách gửi tiền, nhiều NH không chỉ cạnh tranh bằng lãi suất mà còn bằng những phần thưởng có giá trị đặc biệt lớn. Khách hàng gửi tiền tại các NH này có cơ hội trúng căn hộ, biệt thự trị giá hàng chục tỉ đồng hay sổ tiết kiệm, quà du lịch và vàng SJC. Cụ thể, NH Quốc dân (NCB) đang triển khai chương trình khuyến mại đặc biệt "Tiết kiệm siêu đặc quyền" với tổng giá trị giải thưởng lên tới 65 tỉ đồng dành cho khách hàng gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 6 tháng. Theo đó, khách hàng mở mới sổ tiết kiệm từ 2 tỉ đồng và không tất toán trước hạn, sẽ có cơ hội tham gia quay thưởng hằng tuần. Phần thưởng cao nhất mỗi tuần là một căn hộ chung cư trị giá 10 tỉ đồng tại dự án Blanca City, P.Phước Thắng, TP.HCM do Sun Group phát triển. Đối với khách hàng có tổng giá trị sổ tiết kiệm mở mới trên 5 tỉ đồng còn được tham gia kỳ quay thưởng cuối tháng với giải đặc biệt là một căn biệt thự diện tích khoảng 195 – 205 m2, trị giá 25 tỉ đồng, tại dự án Charmora City do Sun Group phát triển tại P.Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Tại NH TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank), khách hàng gửi tiền được tham gia chương trình "Tiết kiệm tỉ phú – hè vàng đại cát" với 5 kỳ quay số, phần thưởng là sổ tiết kiệm đến 200 triệu đồng, quà du lịch và giải đặc biệt 16 lượng vàng SJC (tương đương hơn 3 tỉ đồng). Chương trình diễn ra từ ngày 15.4, dành cho khách hàng gửi tiết kiệm từ 50 triệu đồng, kỳ hạn tối thiểu một tháng và đáp ứng các điều kiện theo thể lệ để được cấp mã số dự thưởng….

Giá USD đi lùi

Ngược với lãi suất tiết kiệm, giá USD trong các NH có diễn biến ngược khi liên tục giảm trong tháng 8. Cụ thể, NH Vietcombank chốt phiên cuối tháng 8 với mức mua chuyển khoản 25.880 đồng, bán ra 26.260 đồng/USD, giảm khoảng 230 đồng sau một tháng. Nếu so với đầu năm, giá USD hiện giảm gần 120 đồng, tương ứng giảm khoảng 0,5%. Giá USD trong các NH thương mại đi lùi hoàn toàn trái ngược với tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do NH Nhà nước (NHNN) công bố. Cụ thể, tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do NHNN công bố cuối tháng 8 là 25.610 đồng/USD, tăng 272 đồng so với đầu tháng 8 và tăng 489 đồng so với đầu năm, tương ứng tăng 1,9%. Với biên độ ±5%, tỷ giá giao dịch của các NH thương mại được phép dao động trong vùng 24.329 – 26.890 đồng/USD. Như vậy, hiện giá USD được nhiều nhà băng bán ra ở mức 26.260 đồng, thấp hơn 630 đồng so với trần quy định. Tương tự, giá USD trên thị trường tự do cũng giảm mạnh liên tục thời gian qua, xuống còn khoảng 26.020 đồng so với mức cao trên 27.000 đồng/USD vào đầu năm.

Lãi suất neo cao, tỷ giá hối đoái diễn biến ngược- Ảnh 2.

Giá USD đi lùi từ đầu năm đến nay

ẢNH: NGỌC THẮNG

TS Ngô Minh Vũ (ĐH Kinh tế TP.HCM) nhận định tình trạng các NH thương mại giảm giá bán USD so với đầu năm là hiện tượng "khá lạ", cho thấy chính sách điều hành tỷ giá USD/VND của NHNN khá linh hoạt và chủ động. Tỷ giá trung tâm gia tăng mà không dựa vào diễn biến ngắn hạn trên thị trường sẽ tạo ra bộ đệm chính sách để các NH thương mại có thể điều chỉnh tỷ giá khi thị trường biến động. Đồng thời điều này cũng góp phần ổn định tâm lý, không tạo ra căng thẳng trên thị trường.

"Trước đây khi NHNN duy trì tỷ giá trung tâm ở mức sát thị trường thì các NH luôn bán USD ở mức kịch trần, từ đó gây hiệu ứng về căng thẳng trong tỷ giá USD/VND. Gần đây dù thị trường không căng thẳng nhưng tỷ giá trung tâm vẫn tăng liên tục thì các NH thương mại sẽ chủ động giao dịch trong biên độ cho phép. Đây là sự điều hành linh hoạt nhưng chủ động hơn của NHNN để ứng phó trước những biến động vĩ mô trong thời điểm cuối năm. Nhất là nhiều nhà kinh tế đã dự báo xác suất gần 70% rằng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) có khả năng sẽ một lần tăng lãi suất trong năm nay và điều đó sẽ tăng áp lực lên tỷ giá hối đoái của nhiều nước, trong đó có VN", TS Ngô Minh Vũ phân tích. Tuy nhiên, VN sẽ có một số yếu tố để làm giảm áp lực đó như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn FDI giải ngân vẫn gia tăng. Song song, cán cân thương mại dự báo các tháng cuối năm có thể đảo chiều với thặng dư ở mức dương. Từ đó sẽ bổ sung thêm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng dư địa cho NHNN áp dụng chính sách hối đoái linh hoạt, vì có thể bán USD khi cần thiết để ổn định tỷ giá.

Do vậy, TS Ngô Minh Vũ dự báo, khả năng từ nay đến cuối năm, tỷ giá trung tâm sẽ tăng từ 3 – 4%, tương tự VND tại các NH thương mại cũng giảm so với USD trong biên độ này. Điều này cũng tác động khiến lãi suất tiền gửi tiết kiệm vẫn đi ngang và neo ở mức cao như hiện nay.

Báo cáo chiến lược triển vọng 6 tháng cuối năm 2026 của Công ty chứng khoán VCBS nhận định, nếu lạm phát tại Mỹ tiếp tục neo ở mức cao, Fed có thể cân nhắc tăng lãi suất vào cuối quý 3/2026 hoặc quý 4/2026, qua đó hỗ trợ chỉ số USD-Index phục hồi và tạo thêm áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, nhóm phân tích cho rằng tỷ giá hối đoái tại VN chỉ chịu áp lực tăng nhẹ do được bù đắp bởi các yếu tố tích cực của nền kinh tế trong nước. Đó là dòng vốn FDI giải ngân duy trì tích cực và được kỳ vọng tiếp tục được đẩy mạnh; hoạt động xuất khẩu tiếp tục duy trì tăng trưởng; giá vàng thế giới đã điều chỉnh giảm, điều này làm giảm bớt nhu cầu nhập khẩu vàng lậu, qua đó giảm nhu cầu USD tại thị trường tự do. Do vậy, công ty này dự báo đồng VN có thể giảm giá khoảng 3% so với USD trong cả năm 2026, và đây là mức khá hợp lý.

Loạt diễn biến lạ trên thị trường vàng từ đầu năm tới nay

https://thanhnien.vn/loat-dien-bien-la-tren-thi-truong-vang-tu-dau-nam-toi-nay-185260902212129248.htm02/09/2026 22:38 GMT+7
Từ đầu năm tới nay, thị trường vàng chứng kiến loạt diễn biến lạ lùng như giá lập đỉnh rồi nhanh chóng ‘lao dốc’, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thu hẹp mạnh, giá vàng miếng SJC thấp hơn giá vàng nhẫn nhiều thương hiệu…

Người "đu đỉnh" đã lỗ 45,6 triệu đồng/lượng

Năm 2026, giá vàng tăng lên mức cao chưa từng có. Điểm khác biệt nổi bật so với nhiều giai đoạn trước đó là tốc độ điều chỉnh giá nhanh, biên độ biến động giá trong ngày rất mạnh.

Dấu ấn nổi bật là ngày 29.1, giá vàng miếng SJC ghi nhận mức bán ra kỷ lục 191,3 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, sau khi lập đỉnh, thị trường ngay lập tức đảo chiều.

Loạt diễn biến lạ trên thị trường vàng từ đầu năm tới nay- Ảnh 1.

Tính từ mức đỉnh ngày 29.1, đến nay, giá bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 42,6 triệu đồng

ẢNH: NGỌC THẮNG

Mở cửa ngày 30.1, giá vàng miếng SJC giảm còn 181,5 – 184,5 triệu đồng/lượng (mua – bán).

Mở cửa ngày 2.2, giá tiếp tục "lao dốc" về 164 – 167 triệu đồng/lượng (mua – bán). Như vậy, chỉ sau vài ngày, giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm hơn 24 triệu đồng từ đỉnh.

Sau 29.1, giá vàng miếng SJC ghi nhận các vùng giá khá cao ở ngày 2.3 và ngày 1.4 với mức bán ra cao nhất lần lượt 190,9 triệu đồng/lượng và 178 triệu đồng/lượng. Không ít thời điểm, giá được điều chỉnh gần 10 nhịp/ngày, dao động tăng – giảm trong ngày lên tới 7 – 8 triệu đồng/lượng.

Từ đầu năm tới nay, giá vàng miếng SJC trải qua rất nhiều vùng giá trải rộng từ khoảng 140 – 190 triệu đồng/lượng. Mức giá bán ra ghi nhận thấp nhất ngày 11.6 với 136 triệu đồng/lượng.

Hôm nay 2.9, giá mỗi lượng vàng miếng SJC được mua vào và bán ra ở 145,7 – 148,7 triệu đồng. Như vậy, tính từ vùng đỉnh ngày 29.1, giá bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 42,6 triệu đồng; người mua lỗ 45,6 triệu đồng/lượng.

Chênh lệch giá từ trên 30 triệu đồng xuống vài triệu đồng

Vài năm gần đây, mức chênh lệch giá vàng miếng SJC và giá vàng thế giới quy đổi phổ biến ở 17 – 18 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, năm nay, chênh lệch này được kéo giãn hẳn, cao nhất vào tháng 3, vượt 30 triệu đồng/lượng.

Sau đó, chênh lệch giá dần "hạ nhiệt", xuống các mức 24 – 26 triệu đồng/lượng đầu tháng 4, 18 – 22 triệu đồng/lượng giữa tháng 4. Tháng 5 – tháng 7, mức chênh nhiều thời điểm phổ biến quanh vùng 16 – 17 triệu đồng/lượng.

Từ tháng 8 tới nay, chênh lệch giảm mạnh, từ mức 11 triệu đồng/lượng ngày đầu tháng xuống 5 – 6 triệu đồng/lượng giữa tháng. Ngày 24.8, có thời điểm chỉ chênh khoảng gần 2 triệu đồng/lượng.

Những ngày cuối tháng 8, mức chênh nhích lên khoảng 7 – 8 triệu đồng/lượng và ngày 2.9 đang chênh 11,4 triệu đồng/lượng.

Đáng chú ý, năm nay đã xuất hiện những thời điểm giá mua vào vàng miếng SJC thấp hơn giá vàng thế giới quy đổi.

Trong khi nhiều năm gần đây, câu chuyện nổi bật của thị trường vàng Việt Nam thường là giá vàng trong nước cao hơn rất nhiều giá vàng thế giới quy đổi.

Giá vàng miếng SJC rẻ hơn vàng nhẫn thương hiệu lớn

Diễn biến đáng chú ý khác trên thị trường vàng từ đầu năm tới nay là giá vàng miếng SJC nhiều thời điểm niêm yết thấp hơn giá vàng nhẫn của các thương hiệu lớn như DOJI, Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải…

Loạt diễn biến lạ trên thị trường vàng từ đầu năm tới nay- Ảnh 2.

Nhiều thời điểm, giá mua – bán vàng miếng SJC thấp hơn vàng nhẫn 4 số 9 của các thương hiệu lớn

ẢNH: ĐAN THANH

Điển hình gần đây có thể kể tới chiều 11.8, mỗi lượng vàng miếng SJC được mua vào và bán ra là 140,5 – 143,5 triệu đồng.

Trong khi đó, vàng nhẫn 4 số 9 lần lượt được Phú Quý, DOJI, Bảo Tín Mạnh Hải, Bảo Tín Minh Châu… niêm yết giá mua – bán như sau: 140,8 – 143,8 triệu đồng; 141,5 – 145,5 triệu đồng; 141,5- 145,5 triệu đồng; 142 – 146 triệu đồng.

Hay chiều 28.8, trong khi giá mua – bán mỗi lượng vàng miếng SJC là 147,2 – 150,2 triệu đồng, thì giá mua – bán mỗi lượng vàng nhẫn 4 số 9 được DOJI niêm yết 147,7 – 151,7 triệu đồng; Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết 147,2 – 151,2 triệu đồng.

Chênh lệch giá mua – bán kéo giãn, người mua chịu rủi ro lớn

Điểm lạ lùng khác trên thị trường vàng năm nay là chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng bị kéo giãn mạnh, cao nhất lên tới 5 – 5,5 triệu đồng/lượng.

Điển hình như chiều 11.6, giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC ở mức 133,4 – 138,4 triệu đồng.

Hay sáng 23.7, với mức giá vàng miếng SJC 135 – 140 triệu đồng/lượng (mua – bán), xuống tiền là người mua đã thiệt ngay 5 triệu đồng/lượng.

Từ đầu năm tới nay, mức chênh lệch giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC phổ biến nhất là khoảng 3 triệu đồng.

Vài năm gần đây, mức chênh lệch này nhiều thời điểm chỉ 1 – 1,5 triệu đồng/lượng. Thậm chí, có lúc thị trường quá trầm lắng, mức này rút xuống chỉ còn khoảng 500 – 700.000 đồng/lượng.

Lạm phát tăng 4,24%, nhập siêu vượt 20 tỉ USD

https://thanhnien.vn/lam-phat-tang-424-nhap-sieu-vuot-20-ti-usd-185260903111222576.htm03/09/2026 12:20 GMT+7
8 tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,45%, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu 20,46 tỉ USD.

Đó là một số thông tin được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố hôm nay 3.9. Cụ thể, CPI tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước (chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới), tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát tăng 4,24%, nhập siêu vượt 20 tỉ USD- Ảnh 1.

8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước

ẢNH: ĐAN THANH

Trong tháng 8, 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Điển hình là nhóm giao thông tăng 4,09%; nhóm giáo dục tăng 0,47%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%… Duy nhất nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá giảm trong tháng 8 với mức giảm 0,03%.

Tính chung 8 tháng, CPI tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước.

Về lạm phát cơ bản, tháng 8 ghi nhận tăng 0,11% so với tháng trước, tăng 4,55% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng, mức tăng là 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,45% của CPI bình quân chung.

Lý do, giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

Xuất, nhập khẩu 8 tháng cao nhất từ trước tới nay

Đại diện Cục Thống kê cho biết, tính riêng tháng 8, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỉ USD, nâng con số 8 tháng qua lên 770,14 tỉ USD. Đây là mức cao nhất của 8 tháng từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tính riêng xuất khẩu, kim ngạch trong tháng 8 là 54,79 tỉ USD, nâng con số 8 tháng lên 374,84 tỉ USD, tăng 22,4%.

Lạm phát tăng 4,24%, nhập siêu vượt 20 tỉ USD- Ảnh 2.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất với trị giá 372,04 tỉ USD trong 8 tháng

ẢNH: ĐAN THANH

Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỉ USD, chiếm 19,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 300,37 tỉ USD, chiếm 80,1%.

Chiếm tỷ trọng lớn nhất với 90,2% tổng kim ngạch xuất khẩu là nhóm hàng công nghiệp chế biến với 337,99 tỉ USD.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa tháng 8 đạt 54,91 tỉ USD, nâng tổng kim ngạch 8 tháng lên 395,3 tỉ USD, tăng 35,3%. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 105,07 tỉ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,23 tỉ USD, tăng 40,1%.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất với trị giá 372,04 tỉ USD, chiếm 94,1%. Nhập khẩu nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chỉ 23,26 tỉ USD, chiếm 5,9%.

Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 122 tỉ USD trong 8 tháng; xuất siêu sang thị trường này đạt 106,6 tỉ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nước ta nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc với 161,9 tỉ USD, mức nhập siêu là 107,7 tỉ USD.

Theo số liệu sơ bộ, tháng 8, Việt Nam nhập siêu 0,12 tỉ USD, nâng tổng mức nhập siêu 8 tháng qua lên 20,46 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,14 tỉ USD.

Liên quan nhập siêu, Thông báo 443 mới đây của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu nêu rõ, các bộ, ngành, địa phương đánh giá nhập siêu chủ yếu tập trung ở nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.

Trong đó, phần lớn nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nguyên liệu, linh kiện trung gian phục vụ sản xuất, kinh doanh, mở rộng đầu tư.

Để đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, Phó thủ tướng thường trực đề nghị Bộ Tài chính chủ trì triển khai các biện pháp kiểm tra, kiểm soát trị giá và giao dịch liên kết của doanh nghiệp điện tử nhập khẩu phần lớn linh kiện từ công ty mẹ hoặc công ty cùng tập đoàn, tránh hiện tượng chuyển giá.

Bộ Công thương làm việc với các công ty có chênh lệch lớn về kim ngạch nhập khẩu, xuất khẩu trong ngành hàng máy vi tính, linh kiện điện tử, làm rõ lý do nhập khẩu, tiến độ và thúc đẩy sớm sản xuất, xuất khẩu sản phẩm.

Ngoài ra, tăng tốc xúc tiến thương mại, tận dụng ngay các đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt với các mặt hàng đang có nhu cầu cao như điện tử, máy móc, nông thủy sản…

8 tháng năm 2026, một số mặt hàng nhập siêu cao gồm: điện tử, máy tính và linh kiện 60,6 tỉ USD; xăng dầu 7,4 tỉ USD; chất dẻo 6,7 tỉ USD; than các loại 6,2 tỉ USD; dầu thô 5,3 tỉ USD; sản phẩm hóa chất 3,9 tỉ USD; hóa chất 3,9 tỉ USD.

TP.HCM phát động đợt thi đua cao điểm về đất đai

https://thanhnien.vn/tphcm-phat-dong-dot-thi-dua-cao-diem-ve-dat-dai-185260903160050909.htm03/09/2026 16:47 GMT+7
Ngày 3.8, Sở Nông Nghiệp và Môi trường TP.HCM đã có văn bản gửi Công an TP.HCM; UBND 168 phường, xã, đặc khu; Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh… phát động đợt thi đua cao điểm 90 ngày đêm tăng tốc, về đích hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn TP.HCM.

"Chiến dịch" nhằm tập trung hoàn thành các nhiệm vụ được giao, bảo đảm cơ sở dữ liệu đất đai "đúng – đủ – sạch – sống – thống nhất – dùng chung", lấy tiến độ, khối lượng, chất lượng và kết quả phối hợp làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện.

Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường giao các phòng, ban, đơn vị trực thuộc sở, trong đó Văn phòng Đăng ký đất đai TP.HCM và các chi nhánh là lực lượng nòng cốt, tập trung rà soát, số hóa, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. Bảo đảm vận hành, kết nối, đồng bộ, khai thác dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, thủ tục hành chính và an toàn thông tin. Phấn đấu đến ngày 30.11.2026 hoàn thành chuẩn hóa, đối soát, làm sạch tối thiểu 80% dữ liệu đất đai đủ điều kiện đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Đồng thời đề nghị Công an TP.HCM phối hợp rà soát, đối chiếu, xác minh thông tin người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Chuyển kết quả kịp thời để cập nhật, hoàn thiện dữ liệu; phối hợp bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.

Trong khi đó, UBND 168 phường, xã, đặc khu được yêu cầu tập trung rà soát, bổ sung thông tin đăng ký đất đai, hồ sơ địa chính. Phối hợp Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu. Bảo đảm hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai thuộc thẩm quyền được tiếp nhận, trả kết quả trên hệ thống dịch vụ công và cập nhật đầy đủ dữ liệu theo quy định.

TP.HCM phát động đợt thi đua cao điểm về đất đai - Ảnh 1.

Sở Nông Nghiệp và Môi trường TP.HCM phát động đợt thi đua cao điểm 90 ngày đêm tăng tốc, về đích hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

ẢNH: ĐÌNH SƠN

Trước đó, UBND TP.HCM đã ban hành kế hoạch triển khai cao điểm thực hiện nhiệm vụ hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn TP.HCM từ ngày 1.9 đến ngày 30.11.

Thành phố sẽ tập trung rà soát, chuẩn hóa, đối soát, làm sạch, bổ sung, hoàn thiện và đồng bộ dữ liệu đất đai theo phạm vi, tiêu chí và tiến độ được Trung ương, thành phố giao. Bảo đảm đến ngày 30.11 hoàn thành chuẩn hóa, đối soát, làm sạch và đồng bộ tối thiểu 80% dữ liệu đất đai đủ điều kiện trên địa bàn thành phố. Phấn đấu đến hết năm 2026 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu đối với toàn bộ thửa đất đã có dữ liệu trong cơ sở dữ liệu đất đai và đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Đưa cơ sở dữ liệu đất đai vào quản lý, vận hành, khai thác hiệu quả, phục vụ công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công về đất đai cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời tạo nền tảng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị.

Bảo đảm 100% hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nông nghiệp và Môi trường và UBND cấp xã được tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả trên hệ thống dịch vụ công.

Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao là cơ quan chủ trì, đầu mối tổ chức triển khai, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch. Phối hợp với Công an TP.HCM và các cơ quan, đơn vị có liên quan hướng dẫn, hỗ trợ UBND các phường, xã, đặc khu Côn Đảo triển khai các nhiệm vụ được giao. Kịp thời hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền hoặc tổng hợp, tham mưu UBND TP.HCM xem xét, chỉ đạo đối với các khó khăn, vướng mắc phát sinh.

Đồng thời xây dựng và vận hành hệ thống theo dõi, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch theo từng cơ quan, đơn vị, địa bàn. Xác định cụ thể số lượng thửa đất cần xử lý, số lượng đã hoàn thành, tỷ lệ hoàn thành, chất lượng dữ liệu và các nhóm tồn tại, vướng mắc.

Định kỳ đánh giá, phân loại kết quả thực hiện để kịp thời đôn đốc, hướng dẫn, hỗ trợ, chấn chỉnh. Đối với cơ quan, đơn vị, địa phương chậm tiến độ, không bảo đảm chất lượng dữ liệu hoặc không thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, tổng hợp, tham mưu UBND TP.HCM xem xét, chỉ đạo theo thẩm quyền.

Tôm Việt Nam và câu hỏi khó: Thị trường có chịu trả thêm tiền cho bền vững?

https://thanhnien.vn/tom-viet-nam-va-cau-hoi-kho-thi-truong-co-chiu-tra-them-tien-cho-ben-vung-185260903002337261.htm03/09/2026 14:39 GMT+7
Tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 ở Utrecht, Hà Lan, phiên thảo luận riêng về tôm Việt Nam chiều 2.9 khép lại bằng một câu hỏi chưa có lời đáp: Khi chi phí chứng nhận và tuân thủ ngày càng tăng, liệu thị trường có sẵn sàng trả giá cao hơn cho tôm bền vững?

Chiều 2.9 (giờ địa phương), bên lề Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 tại Utrecht, Trung tâm Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI) thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan và Hiệp hội Các nhà nhập khẩu thủy sản Hà Lan (VIV) đã tổ chức một phiên thảo luận riêng về tôm Việt Nam, chủ đề "Câu chuyện mới về tôm Việt Nam: Khả năng chống chịu, trách nhiệm và tiềm năng thị trường phân khúc cao cấp".

Tôm Việt Nam và câu hỏi khó: Thị trường có chịu trả thêm tiền cho bền vững? - Ảnh 1.

Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp Hà Lan tại Việt Nam và Thái Lan đặt câu hỏi tại phiên thảo luận

ẢNH: ĐÌNH TUYỂN

Phát biểu khai mạc, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NN-MT), cho biết tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam, chiếm khoảng 46 – 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Riêng ĐBSCL chiếm hơn 70% diện tích nuôi tôm và đóng góp khoảng 85% giá trị xuất khẩu tôm.

Ông Luân nhắc lại từ năm 2017, chính phủ Hà Lan đã hỗ trợ Việt Nam các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu và chống sạt lở bờ biển tại ĐBSCL. Định hướng này phù hợp với chủ trương của Chính phủ Việt Nam về phát triển bền vững, nhất là tại ĐBSCL trước mối đe dọa biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

"Phát triển thủy sản phù hợp với điều kiện mới; trong đó tại ĐBSCL ngành tôm đóng vai trò đặc biệt quan trọng cả về diện tích, giá trị xuất khẩu cũng như tạo sinh kế cho người dân. Việc tái cơ cấu ngành tôm nói riêng để phát huy lợi thế, đáp ứng những yêu cầu mới của các nhà nhập khẩu không chỉ chạy theo sản lượng mà còn phải chú trọng đến giá trị người nông dân đạt được, bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định khác nhau của thị trường nhập khẩu", ông Luân nói.

Hơn 500 trang trại đạt ASC, và 8 trường hợp bị đình chỉ

Bà Barbara Janker, Giám đốc Thương mại Hội đồng quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC), cho biết Việt Nam là quốc gia đi tiên phong về chứng nhận ASC. Câu chuyện bắt đầu từ con cá tra vào 14 năm trước, khi bộ tiêu chuẩn ASC cho tôm còn chưa ra đời, người nuôi cá tra Việt Nam đã đạt chứng nhận. Đến nay, hơn 500 trang trại tôm Việt Nam đã được chứng nhận, phần lớn là hộ nuôi nhỏ liên kết theo nhóm. Sản lượng tôm nguyên liệu đạt ASC dao động 50.000 – 55.000 tấn mỗi năm.

Ở khâu thức ăn, ASC đã ban hành tiêu chuẩn đánh giá ngay tại nhà máy, do phần lớn tác động môi trường của thủy sản nuôi nằm ở nguyên liệu đầu vào. Tại Việt Nam, 15 nhà máy thức ăn đã được chứng nhận và 5 nhà máy đang trong quá trình đánh giá.

Tôm Việt Nam và câu hỏi khó: Thị trường có chịu trả thêm tiền cho bền vững? - Ảnh 2.

Bà Barbara Janker, Giám đốc Thương mại Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC), cho biết Việt Nam là quốc gia đi tiên phong về chứng nhận ASC

ẢNH: ĐÌNH TUYỂN

Về thị trường, số sản phẩm tôm dán nhãn ASC tại châu Âu đã tăng từ khoảng 7.000 năm 2020 lên hơn 11.000 hiện nay. Tại vùng Benelux và các nước nói tiếng Đức, hơn 80%, thậm chí có thể tới 90% sản phẩm tôm bán lẻ trên kệ siêu thị mang nhãn ASC, trong đó phần lớn có nguồn gốc Việt Nam.

Tuy nhiên, bà Janker cũng nói thẳng phần chưa đẹp. Khảo sát người tiêu dùng do ASC thực hiện hai năm một lần trên 15.000 người tại 14 quốc gia cho thấy, mối quan tâm hàng đầu về tính bền vững của thủy sản nuôi luôn là "không kháng sinh, không hóa chất". Tôm đã dùng kháng sinh tuyệt đối không được mang nhãn ASC, việc này được kiểm soát bằng lấy mẫu kiểm nghiệm của đánh giá viên độc lập.

"Và chúng tôi thấy điều đó vẫn xảy ra. Trong hai năm rưỡi qua, chúng tôi đã có 8 trường hợp bị đình chỉ tại Việt Nam vì vấn đề này", bà Janker nói, đồng thời lưu ý năm 2025 áp lực dịch bệnh tại Việt Nam rất lớn, cho nên vẫn còn nhiều việc phải làm.

Câu hỏi từ phía Việt Nam

Điểm đáng chú ý của phiên thảo luận là những câu hỏi đến từ chính phía Việt Nam. Cục trưởng Trần Đình Luân nêu vấn đề phúc lợi động vật: "Chiều thứ hai vừa rồi khi thăm Đại học Wageningen, chúng tôi được nghe về phúc lợi động vật, một bức tranh rất rộng. Câu hỏi của tôi là tiêu chuẩn ASC đã đủ về phúc lợi động vật chưa, hay ASC chỉ là một phần trong đó?". Ông Luân cho biết, cơ quan quản lý Việt Nam cần tập huấn để mọi người hiểu phúc lợi động vật là gì và quản lý ra sao, chứ không dừng chỉ dừng lại ở việc cấp chứng nhận.

Tôm Việt Nam và câu hỏi khó: Thị trường có chịu trả thêm tiền cho bền vững? - Ảnh 4.

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NN-MT) nêu vấn đề phúc lợi động vật

ẢNH: ĐÌNH TUYỂN

Ông Koichi Yamamoto, phụ trách kết nối người sản xuất khu vực Đông Nam Á của ASC, trả lời rằng với con tôm tại Việt Nam, hai nội dung phúc lợi đã được đưa vào tiêu chuẩn mới là cắt cuống mắt và quy trình gây mê trước khi giết mổ; đồng thời hiện vẫn cho phép dùng đá lạnh và xung điện. Ông cho biết, hội thảo hai tuần tới tại Việt Nam sẽ đi vào chi tiết và là dịp thu thập phản hồi hai chiều, trong đó VASEP đã gửi nhiều ý kiến đóng góp.

Bà Trần Ngọc Thiên Kim, Giám đốc Dinh dưỡng và Hỗ trợ thủy sản khu vực châu Á của Công ty De Heus, nêu một vấn đề rất thực tế: "Các nhà máy hiện phải duy trì cùng lúc ASC, GlobalGAP, BAP. Bền vững thì không miễn phí, tôi chấp nhận điều đó. Nhưng liệu trong tương lai hệ thống có thể hợp nhất lại không, để chỉ cần một thành quả bền vững thay vì nhiều loại giấy tờ khác nhau, mà đôi khi còn mâu thuẫn với nhau?".

Bà Janker thừa nhận đây là vấn đề có thật, cho biết ASC từng thử làm báo cáo đánh giá chung với các tổ chức chứng nhận khác, và hướng đi sắp tới là số hóa để giảm gánh nặng thủ tục trùng lặp cũng như chi phí đánh giá.

Giá thành cao hơn Ecuador 77%

Ông Rogier Becker, điều phối viên dự án ShrimpTech Vietnam, đặt vấn đề làm sao để tôm Việt Nam cạnh tranh được trên thị trường toàn cầu.