https://dantri.com.vn/kinh-doanh/thuc-thi-epr-doanh-nghiep-tra-tien-de-xu-ly-hau-qua-trach-nhiem-toi-dau-20260902164310120.htmThứ năm, 03/09/2026 – 11:47
(Dân trí) – Khi Việt Nam từng bước đưa EPR (Extended Producer Responsibility – trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) vào thực tiễn, một câu hỏi lớn cũng được đặt ra đó là trách nhiệm của doanh nghiệp đến đâu?

Sử dụng bao bì phù hợp có thể giúp giảm lượng khí thải carbon (Ảnh: Tetrapak).
Từ “người gây ô nhiễm trả tiền” đến trách nhiệm vòng đời sản phẩm
Theo cách hiểu phổ biến, EPR là cơ chế yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu có trách nhiệm đối với sản phẩm và bao bì mà mình đưa ra thị trường sau khi người tiêu dùng đã sử dụng.
Điểm đáng chú ý của EPR là sự dịch chuyển trách nhiệm. Nếu trước đây phần lớn chi phí thu gom và xử lý chất thải được đặt lên vai ngân sách nhà nước, các đơn vị vệ sinh môi trường và cộng đồng thì với EPR doanh nghiệp phải tham gia trực tiếp hơn vào quá trình giải quyết lượng chất thải phát sinh từ chính sản phẩm của mình.
Nguyên tắc này phù hợp với tư duy “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Nhưng EPR không chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp trả tiền để “xử lý hậu quả”. Bản chất sâu hơn của cơ chế này là tạo áp lực và động lực để doanh nghiệp thay đổi ngay từ đầu nguồn.
Một sản phẩm được thiết kế dễ tái chế hơn sẽ có chi phí xử lý thấp hơn. Một loại bao bì sử dụng ít vật liệu hơn sẽ giảm lượng chất thải phát sinh. Một doanh nghiệp tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế có thể góp phần hình thành thị trường cho vật liệu thứ cấp.
Như vậy, EPR tạo ra một chuỗi liên kết từ thiết kế sản phẩm – sản xuất – tiêu dùng – thu gom – tái chế – quay trở lại sản xuất. Đó cũng là logic của nền kinh tế tuần hoàn mà Việt Nam đang hướng tới.
Trong mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống, nguyên liệu được khai thác, sản phẩm được sản xuất, sử dụng rồi trở thành rác thải. Nhưng trong kinh tế tuần hoàn, chất thải cần được xem như một nguồn tài nguyên có thể quay trở lại chu trình sản xuất. EPR chính là một trong những công cụ quan trọng để thúc đẩy sự chuyển dịch ấy.
Một động thái thể hiện trách nhiệm thực hiện EPR của doanh nghiệp: Tháng 3 năm nay, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) và Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MoU) nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị bao bì nhựa và kiến tạo hệ sinh thái bao bì bền vững tại Việt Nam theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam, nhấn mạnh, sự hợp tác này mở ra một giai đoạn mới cho lộ trình xanh hóa ngành nhựa Việt Nam. Qua đó, các nhà sản xuất không chỉ nâng cao chất lượng nhựa tái sinh (PCR), mà còn từng bước trở thành đối tác quan trọng trong việc cung cấp các giải pháp bền vững, hỗ trợ khách hàng thực hiện hiệu quả trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).
Điều này không chỉ là nỗ lực nâng cao giá trị gia tăng cho ngành nhựa mà còn thể hiện rõ trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường, xã hội và định hướng phát triển bền vững.

Chương trình Chai nhựa tái sinh – Hành trình tiếp nối của Coca Cola (Ảnh: Coca Cola VN).
Doanh nghiệp đang đứng trước những trách nhiệm nào?
Việc thực thi EPR đặt doanh nghiệp trước nhiều yêu cầu mới. Trong đó, quan trọng nhất là trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì theo quy định và trách nhiệm đóng góp tài chính cho hoạt động xử lý chất thải đối với một số nhóm sản phẩm.
Tuy nhiên, nhìn rộng hơn, trách nhiệm của doanh nghiệp không nên được hiểu theo nghĩa “hoàn thành thủ tục”. Bởi nếu chỉ coi EPR là một khoản chi phí phải nộp, mục tiêu lớn nhất của chính sách có thể khó đạt được.
Thách thức thực sự nằm ở việc doanh nghiệp phải trả lời được một loạt câu hỏi, đó là sản phẩm của mình sau khi sử dụng sẽ đi đâu? Có bao nhiêu phần trăm vật liệu có thể được thu hồi? Thiết kế bao bì hiện nay có thực sự thuận lợi cho việc tái chế? Doanh nghiệp có thể giảm vật liệu nguyên sinh hay không? Có thể tăng tỷ lệ vật liệu tái chế trong sản phẩm hay không? Và quan trọng hơn, doanh nghiệp có sẵn sàng đầu tư cho một hệ thống trách nhiệm kéo dài vượt ra ngoài cổng nhà máy?
Thay đổi này thực sự không nhỏ. EPR đang buộc doanh nghiệp phải nhìn sản phẩm của mình theo một vòng đời dài hơn.
Nếu doanh nghiệp chỉ coi đây là một khoản chi phí bắt buộc, việc thực thi có thể trở thành một dạng “mua quyền được tiếp tục tạo ra chất thải”. Trong khi điều mà chính sách hướng đến lại là thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Một doanh nghiệp có trách nhiệm không nên chỉ đặt câu hỏi: “Tôi phải đóng bao nhiêu tiền?” Câu hỏi quan trọng hơn cần là: “Tôi có thể giảm bao nhiêu chất thải ngay từ đầu?” Đây là điểm khác biệt giữa việc tuân thủ tối thiểu và thực hiện trách nhiệm thực chất.
Theo TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (nay là Liên đoàn Doanh nghiệp TPHCM), để thực thi EPR, doanh nghiệp phải làm một cách kiên trì và bền bỉ, không chỉ làm một lần là xong. Và với Việt Nam, đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp phải đặt ra lộ trình tùy theo nguồn lực và đòi hỏi của thị trường.
Gánh nặng lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa?
Không thể phủ nhận rằng EPR có thể tạo thêm áp lực đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong bối cảnh chi phí nguyên liệu, logistics, nhân công và yêu cầu thị trường đều gia tăng, khoản đầu tư cho môi trường có thể trở thành một bài toán không đơn giản.
Nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa có bộ phận chuyên trách về phát triển bền vững. Không ít đơn vị cũng thiếu thông tin về cách tính toán nghĩa vụ, lựa chọn phương án thực hiện hay tìm kiếm đối tác tái chế phù hợp. Thậm chí, với một số doanh nghiệp, khái niệm “thiết kế vì khả năng tái chế” vẫn còn khá mới mẻ.
Vì vậy, thực thi EPR không thể chỉ dừng ở việc ban hành quy định và yêu cầu doanh nghiệp tự tìm cách thích ứng. Cần có hệ thống hướng dẫn rõ ràng, minh bạch và dễ tiếp cận. Doanh nghiệp cần biết mình thuộc nhóm đối tượng nào, phải thực hiện nghĩa vụ ra sao và có những phương án nào để đáp ứng yêu cầu.
Đặc biệt, cần phát triển các tổ chức trung gian, các đơn vị tái chế và mạng lưới hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tham gia EPR với chi phí hợp lý. Đối với doanh nghiệp nhỏ, việc liên kết có thể là một lời giải.
Thay vì từng doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống thu gom và tái chế riêng, các doanh nghiệp có thể tham gia những cơ chế chung, cùng đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu môi trường. Đây cũng là cách để EPR trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng doanh nghiệp, thay vì biến thành rào cản khiến các doanh nghiệp nhỏ thêm khó khăn.

Nhiều công ty hướng tới giải pháp bao bì bền vững (Ảnh: Nestle VN).
Làm sao nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp?
Câu trả lời không thể chỉ gói gọn trong một tỷ lệ tái chế hay một khoản đóng góp tài chính. Trách nhiệm ấy bắt đầu từ thiết kế sản phẩm, kéo dài qua quá trình lựa chọn nguyên liệu, sản xuất và phân phối, tiếp tục ở khâu thu gom, tái chế và xử lý khi sản phẩm kết thúc vòng đời. Và xa hơn nữa là trách nhiệm thay đổi tư duy phát triển.
Doanh nghiệp có thể hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, nhưng để trở thành một doanh nghiệp có trách nhiệm thực sự, cần đi xa hơn yêu cầu tối thiểu. Đó là chủ động giảm chất thải thay vì chỉ trả tiền để xử lý chất thải. Chủ động đầu tư cho công nghệ sạch thay vì chờ đến khi bị bắt buộc. Chủ động hợp tác với các đơn vị tái chế thay vì coi đó là phần việc của một ai khác. Và quan trọng nhất, phải nhìn nhận rằng lợi nhuận của hôm nay không thể được đánh đổi bằng những chi phí môi trường mà xã hội phải gánh chịu trong ngày mai.
Thực thi EPR vì thế là một phép thử. Phép thử đối với năng lực thích ứng của doanh nghiệp. Phép thử đối với hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước. Và cũng là phép thử đối với quyết tâm chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh, tuần hoàn và bền vững hơn.
Ông Bùi Phước Hòa – Giám đốc Dự án Hàng Việt Nam Chất lượng cao – Chuẩn hội nhập (BSAS) cho rằng, để thực thi tốt EPR, doanh nghiệp cần sự hỗ trợ của nhà nước về thuế, phí. Vì khi sản xuất liên quan đến tái chế hay tái sinh nó rất tốn kém. Một nhà máy làm ra sản phẩm từ nhựa nguyên sinh sẽ ít tốn chi phí hơn, bán lời hơn. Nhưng một nhà máy tái chế làm vất vả, chi phí nhiều, lời thì ít.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn có thể tìm tới sự hỗ trợ từ các ngân hàng. Ông Jason Yang – Giám đốc cấp cao lĩnh vực chuyển đổi và phát triển bền vững, Ngân hàng UOB Việt Nam, chia sẻ, hiện có một số ngành cụ thể đã đi trước trong việc thực thi EPR nhưng nếu muốn mở rộng quy mô áp dụng EPR cho các ngành khác, chúng ta cần phải cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái.
Ngân hàng này hỗ trợ tài chính và triển khai các khung chính sách, đồng hành các đối tác. "Điều chúng tôi làm là tiếp cận các doanh nghiệp hoặc cơ quan chính phủ, lắng nghe các vấn đề họ gặp phải, sau đó tìm kiếm các công nghệ xanh hoặc các startup có giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề đó. Chúng tôi kết nối các công ty công nghệ xanh này với các vấn đề từ phía chính phủ hoặc doanh nghiệp để xây dựng giải pháp thực tế”, ông bày tỏ.
Ông Jason Yang cũng tin rằng, nếu ngân hàng có thể thúc đẩy EPR thông qua các chương trình hợp tác và thông qua các nhà cung cấp giải pháp thì UOB có thể đóng vai trò mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và mang lại hiệu quả lớn hơn cho Việt Nam trong việc thực thi EPR.
EPR là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Extended Producer Responsibility, dịch ra tiếng Việt là Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.
Các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về vòng đời của sản phẩm, từ khâu thiết kế, đưa ra thị trường cho đến giai đoạn thu gom, xử lý và tái chế sau khi sản phẩm đó bị thải bỏ.
Cơ chế này thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Tại Việt Nam, theo Luật Bảo vệ môi trường, các tổ chức, cá nhân sản xuất và nhập khẩu thuộc diện điều chỉnh phải thực hiện hai loại trách nhiệm chính gồm trách nhiệm tái chế và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải.
Với trách nhiệm tái chế, các đơn vị phải tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì do mình đưa ra thị trường.
Với trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải, các bên phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động thu gom, xử lý chất thải.