Những động lực thúc đẩy tăng trưởng 12,5% trong quý IV

https://cafef.vn/nhung-dong-luc-thuc-day-tang-truong-125-trong-quy-iv-188261004154432364.chnTheo Việt Linh | 04-10-2026 – 16:30 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
GDP 9 tháng tăng 9,01%, nhưng để đạt mục tiêu cả năm tăng từ 10% trở lên, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Mức tăng này đặt áp lực rất lớn lên các động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Áp lực ở chặng nước rút

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh – Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê – cho biết, tăng trưởng kinh tế quý III và 9 tháng vừa qua được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết chặt chẽ: Đầu tư công tạo thêm khối lượng sản xuất; công nghiệp và xuất khẩu mở rộng đầu ra; tiêu dùng trong nước duy trì nhịp tăng của thương mại và dịch vụ. Cụ thể:

Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt khi tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt là ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao, không chỉ trực tiếp thúc đẩy ngành xây dựng mà còn tạo hiệu ứng kéo đầu tư tư nhân.

Khu vực công nghiệp và xây dựng là động lực tăng trưởng quan trọng, với công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò “đầu tàu”, tăng 12,28% trong quý III và 11,36% trong 9 tháng, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung.

Hoạt động xuất khẩu tiếp tục trở thành điểm tựa cho sản xuất trong nước, trong khi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình duy trì xu hướng tăng tích cực, tăng 9,75% trong 9 tháng, đóng góp 6,88 điểm phần trăm vào tăng trưởng.

Sức cầu được cải thiện nhờ thương mại, du lịch, lưu trú, giải trí và sự gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ hiện đại.

Những động lực thúc đẩy tăng trưởng 12,5% trong quý IV- Ảnh 1.

Cuối năm, giải ngân đầu tư công thường được đẩy nhanh. Ảnh: Văn Quân.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026, quý IV cần tăng khoảng 12,5%, cao hơn khoảng 4,1 điểm % so với cùng kỳ năm trước. Đây là mục tiêu khó khăn và rất áp lực.

Theo bà Hạnh, một trong những động lực quan trọng là đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Cuối năm thường là thời điểm giải ngân được đẩy nhanh, nhưng vốn chỉ thực sự đóng góp vào GDP quý IV khi nhanh chóng chuyển thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế.

Cùng với đầu tư, sản xuất công nghiệp , nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, cần tiếp tục được duy trì. Trong bối cảnh nhu cầu bên ngoài và chuỗi cung ứng quốc tế còn biến động, cần theo dõi sát đơn hàng, tồn kho và nguồn nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì công suất và giao hàng đúng tiến độ. Khu vực dịch vụ cũng còn dư địa trong những tháng cuối năm thông qua tiêu dùng, thương mại và du lịch.

Hiệu quả đầu tư mở thêm dư địa

Theo ông Bùi Minh Giáp – chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không phụ thuộc vào một động lực tăng trưởng đơn lẻ mà đang được thúc đẩy bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Trước hết là ổn định vĩ mô, mức độ mở cửa thương mại cao và khả năng thu hút FDI, trong khi nền tảng sản xuất trong nước tiếp tục được mở rộng. Đầu tư công vẫn còn dư địa, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Việt Nam cũng có lợi thế từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, điện tử, logistics và các ngành xuất khẩu. Mạng lưới các hiệp định thương mại, vị trí gần các trung tâm sản xuất lớn, lực lượng lao động năng động cùng môi trường kinh tế, chính trị ổn định tiếp tục là những lợi thế quan trọng.

Những động lực thúc đẩy tăng trưởng 12,5% trong quý IV- Ảnh 2.

Theo chuyên gia, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực, mà còn ở chất lượng đầu tư. Ảnh minh họa.

Theo ông Giáp, Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu so với các nền kinh tế trong khu vực. Một trong những dư địa lớn là nâng cấp sản xuất công nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu , nhưng còn khả năng cải thiện các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng và xây dựng thương hiệu.

Tuy nhiên, thách thức là Việt Nam vẫn chủ yếu mạnh ở khâu sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu , trong khi những công đoạn tạo ra giá trị cao hơn còn hạn chế. Do đó, doanh nghiệp phải nâng cấp nhanh hơn về công nghệ, quản trị, kỹ năng và tiêu chuẩn để không bỏ lỡ cơ hội. “Cơ hội nếu Việt Nam không nắm bắt thì sẽ có những nơi khác nắm bắt”, ông Giáp nói.

12 địa phương tăng trưởng trên 10%: Vì sao không có Hà Nội, TPHCM?

https://cafef.vn/12-dia-phuong-tang-truong-tren-10-vi-sao-khong-co-ha-noi-tphcm-188261004133507423.chnTheo Việt Linh | 04-10-2026 – 14:46 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
GDP 9 tháng năm nay tăng 9,01%, nhưng chỉ 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP trên 10%. Trong khi đó, Hà Nội và TPHCM – hai đầu tàu kinh tế lần lượt đạt 8,85% và 9,06%.

Động lực chính từ công nghiệp, xây dựng

Bức tranh tăng trưởng GRDP quý III và 9 tháng năm 2026 cho thấy đà phục hồi đang lan rộng tại nhiều địa phương. Phần lớn tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng quý III cao hơn các quý trước, tạo thêm động lực cho kết quả chung của 9 tháng.

Động lực chính đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, cùng với sự cải thiện của khu vực dịch vụ. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn, bán lẻ, vận tải, kho bãi ghi nhận mức tăng cao tại nhiều địa phương trọng điểm về công nghiệp và dịch vụ. Trong khi đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng tương đối ổn định, khoảng 2-5%, tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ.

Đáng chú ý, trong quý III có 17/34 địa phương đạt mức tăng GRDP trên 10%, tăng mạnh so với 9 địa phương trong 6 tháng đầu năm.

12 địa phương tăng trưởng trên 10%: Vì sao không có Hà Nội, TPHCM?- Ảnh 1.

Quảng Ninh tăng trưởng GRDP 12,54%, dẫn đầu cả nước sau 9 tháng. Ảnh: Hoàng Dương.

Tính chung 9 tháng, 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10,01% đến 12,54%. Quảng Ninh dẫn đầu với 12,54%, tiếp đến Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81%, Ninh Bình 11,31%.

Thái Nguyên 11,24%, Hưng Yên 11,22%, Khánh Hòa 11,21%, Đà Nẵng 10,31%, Tây Ninh 10,30%, Phú Thọ 10,01% và Đồng Nai 10,01%.

Đáng chú ý, có 6 địa phương đã vượt mục tiêu đề ra theo Nghị quyết 180/NQ-CP, gồm Ninh Bình, Tây Ninh, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh và Thái Nguyên.

Ở cấp độ ngành, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tạo lực kéo đáng kể. Trong quý III, có 30/34 địa phương ghi nhận mức tăng của khu vực này trên 10%. Khu vực dịch vụ cũng có 11 địa phương tăng trên 10%, trong đó Quảng Ninh tăng 14,07%, Đà Nẵng 12,32%, Hải Phòng 11,91%, Điện Biên 11,54% và Lào Cai 10,70%.

Những con số này cho thấy, động lực tăng trưởng không chỉ tập trung tại các đô thị lớn mà đang được tạo ra từ nhiều cực công nghiệp, dịch vụ và du lịch.

Lý do đầu tàu kinh tế chưa tăng trưởng 2 con số

Hà Nội và TPHCM là hai trường hợp đáng chú ý khi đều có mức tăng trưởng quý III cao hơn đáng kể so với 6 tháng đầu năm, nhưng kết quả 9 tháng chưa đạt 10%.

Hà Nội ghi nhận GRDP quý III tăng 10,02%, đưa mức tăng 9 tháng lên 8,85%, cải thiện so với mức 8,23% của 6 tháng đầu năm.

TPHCM đạt mức tăng GRDP quý III 9,86%, đưa kết quả 9 tháng lên 9,06%, cao hơn mức 8,64% của 6 tháng đầu năm.

Trao đổi với PV Tiền Phong, bà Nguyễn Thị Hương – Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính – nhận định, các đầu tàu kinh tế có quy mô lớn nên mức tăng trưởng dù không đạt hai con số vẫn đóng góp đáng kể cho tăng trưởng chung. Theo đó, cần phân biệt giữa tốc độ tăng trưởng và quy mô đóng góp của từng địa phương.

12 địa phương tăng trưởng trên 10%: Vì sao không có Hà Nội, TPHCM?- Ảnh 2.

Hà Nội đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm. Ảnh: Phùng Linh.

Hà Nội trong quý III đã vượt mức tăng trưởng chung của cả nước. Tuy nhiên, do kết quả 9 tháng được tính trên cả một giai đoạn dài hơn nên tốc độ tăng trưởng chung của thành phố vẫn ở mức 8,85%, tiệm cận mức tăng 9,01% của cả nước.

Với TPHCM, bà Hương cho rằng thành phố vẫn có nhiều động lực từ công nghiệp, trong đó một số hoạt động liên quan đến dầu khí ghi nhận mức tăng cao. Đây là một trong những điểm sáng góp phần đưa tăng trưởng 9 tháng của TPHCM lên 9,06%, cao hơn mức chung của cả nước.

“Vì quy mô lớn thì mức tăng của họ sẽ đóng góp nhiều hơn so với những tỉnh có quy mô nhỏ”, bà Hương nói.

Lãnh đạo Cục Thống kê cho biết, kết quả trên cho thấy các đầu tàu kinh tế đang thực sự vươn lên trong nhóm có mức tăng trưởng cao, nhưng để vượt qua mức tăng chung của cả nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và cần những đột phá trong thời gian tới.

Thực tế, diễn biến trong quý III đã cho thấy sự cải thiện rõ hơn. Hà Nội đạt mức tăng 10,02%, vượt mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong quý; trong khi TPHCM với mức tăng 9 tháng đạt 9,06% cũng đã cao hơn mức 9,01% của cả nước.

Khoảng cách giữa hai đầu tàu và mặt bằng tăng trưởng chung đang được thu hẹp, song để đóng góp mạnh hơn vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước, cả Hà Nội và TPHCM vẫn cần duy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Tỉnh giáp Hà Nội nghiên cứu di dời loạt nhà máy, cơ sở sản xuất ra khỏi trung tâm thành phố cũ: Đã có 11 cơ sở nằm trong kế hoạch

https://cafef.vn/tinh-giap-ha-noi-nghien-cuu-di-doi-loat-nha-may-co-so-san-xuat-ra-khoi-trung-tam-thanh-pho-cu-da-co-11-co-so-nam-trong-ke-hoach-188261005144220175.chnHà Giang | 05-10-2026 – 15:42 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Việc di dời sẽ góp phần từng bước hiện thực hóa quy hoạch, tổ chức lại không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương này.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông kiểm tra thực tế tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì (Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ)

<

p dir=”ltr”>Phú Thọ lên kế hoạch di dời các nhà máy trên địa bàn thành phố Việt Trì (cũ)

<

p dir=”ltr”>Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ, chiều 3/10, ông Trần Duy Đông – Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị nghe Sở Tài chính báo cáo dự thảo Kế hoạch di dời các nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Việt Trì (trước sáp nhập).

<

p dir=”ltr”>Việc di dời các nhà máy nhằm cụ thể hóa Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Việt Trì đến năm 2040.

<

p dir=”ltr”>Đồng thời, Kế hoạch nhằm tạo dư địa phát triển đô thị, cải thiện môi trường sinh thái, hướng tới xây dựng khu vực Việt Trì trở thành trung tâm kinh tế – chính trị của địa phương.

<

p dir=”ltr”>Dự thảo chỉ rõ, đối tượng được rà soát gồm các nhà máy có khoảng cách không an toàn đối với khu dân cư; nhà máy sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; cơ sở sản xuất công nghiệp nặng, sử dụng nhiều lao động; các nhà máy nằm trong khu vực trung tâm đô thị Việt Trì (trước sáp nhập).

<

p dir=”ltr”>Phạm vi thực hiện di dời được tập trung tại các phường Thanh Miếu, Việt Trì, Nông Trang. Thời gian dự kiến trong giai đoạn 2026 – 2030.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ)

<

p dir=”ltr”>Qua rà soát, dự thảo Kế hoạch đề cập 11 cơ sở, gồm: Nhà máy Hóa chất Việt Trì – Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì; Nhà máy Giấy Việt Trì – Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì; Nhà máy sản xuất nhôm thanh định hình – Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhôm Sông Hồng Shalumi; Nhà máy bánh kẹo Hải Hà 1 – Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà; Nhà máy sản xuất bia, rượu, nước giải khát – Công ty Cổ phần Bia rượu NGK Viger; Nhà máy May Sông Hồng – Công ty Cổ phần May Sông Hồng; Nhà máy sản xuất sứ vệ sinh – Công ty Cổ phần Việt Trì Viglacera; Nhà máy dệt – Công ty Cổ phần Dệt Vĩnh Phú; Nhà máy Xi măng Hữu Nghị; cụm nhà máy sợi dệt – Công ty TNHH MTV Pangrim Neotex và Nhà máy sản xuất bột ngọt Miwon – Công ty TNHH Daesang Việt Nam.

<

p dir=”ltr”>Trên cơ sở làm việc với từng doanh nghiệp, dự thảo Kế hoạch phân nhóm các cơ sở sản xuất theo lộ trình thực hiện. Theo báo cáo tại hội nghị, việc di dời phải gắn với đổi mới công nghệ, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng và bảo đảm các yêu cầu về môi trường.

<

p dir=”ltr”>Các cơ sở sản xuất sau di dời được định hướng bố trí tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phù hợp với quy hoạch và ngành nghề thu hút đầu tư. Việc quản lý, sử dụng quỹ đất tại vị trí cũ phải tuân thủ quy hoạch và các quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai và pháp luật có liên quan.

<

p dir=”ltr”>Nhằm bảo đảm điều kiện thực hiện, tỉnh Phú Thọ dự kiến đẩy nhanh đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, tạo quỹ đất sạch cho doanh nghiệp lựa chọn địa điểm mới. Cùng với đó, các sở, ngành sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các thủ tục về đất đai, đầu tư, xây dựng và thủ tục hành chính liên quan; kiểm tra, giám sát tiến độ triển khai.

<

p dir=”ltr”>Các doanh nghiệp thuộc diện di dời có trách nhiệm khảo sát, lựa chọn địa điểm phù hợp, xây dựng phương án cụ thể trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện theo lộ trình cam kết.

<

p dir=”ltr”>Việc di dời sẽ góp phần từng bước hiện thực hóa quy hoạch tỉnh Phú Thọ

<

p dir=”ltr”>Tại buổi làm việc, đại diện các doanh nghiệp đề nghị tỉnh chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, bảo đảm quỹ đất sạch bàn giao cho doanh nghiệp nghiên cứu đầu tư xây dựng nhà máy mới theo lộ trình.

<

p dir=”ltr”>Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kiến nghị tỉnh Phú Thọ rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, đầu tư, xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp triển khai di dời nhà máy; nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí xây dựng nhà máy tại địa điểm mới.

Đại diện Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ)

<

p dir=”ltr”>Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông khẳng định, việc di dời sẽ góp phần từng bước hiện thực hóa quy hoạch, tổ chức lại không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đáp ứng yêu cầu về quy mô và định hướng phát triển trong giai đoạn mới. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường.

<

p dir=”ltr”>Nhấn mạnh tinh thần chung là cơ bản hoàn thành việc di dời các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc không còn phù hợp với quy hoạch, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ chia sẻ những khó khăn, tác động đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình di dời.

<

p dir=”ltr”>Tại buổi làm việc, ông Trần Duy Đông giao Sở Tài chính nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm di dời các cơ sở sản xuất tại một số địa phương trong cả nước; tiếp tục tham mưu hoàn thiện kế hoạch triển khai với lộ trình cụ thể, chi tiết, đồng thời đánh giá đầy đủ tác động đến phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

<

p dir=”ltr”>Chủ tịch UBND tỉnh giao thành lập Tổ công tác có nhiệm vụ chỉ đạo công tác nghiên cứu, xây dựng phương án cụ thể đối với từng doanh nghiệp; rà soát các cơ chế, chính sách hỗ trợ và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan trong quá trình thực hiện di dời.

<

p dir=”ltr”>Các sở, ngành, cơ quan chuyên môn chủ động đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu, tiếp cận các chính sách hỗ trợ theo quy định, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

GDP 9 tháng cao nhất 15 năm, giữ nhịp tăng trưởng 2 con số cuối năm thế nào?

https://cafef.vn/gdp-9-thang-cao-nhat-15-nam-giu-nhip-tang-truong-2-con-so-cuoi-nam-the-nao-188261005141924246.chnTheo Châu Anh | 05-10-2026 – 15:30 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Chuyên gia lạc quan về tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm, song cũng chỉ ra nhiều việc cần làm ngay để đạt mục tiêu trong quý cuối năm.

Theo các chuyên gia, sau mức tăng trưởng GDP 9 tháng cao nhất 15 năm (từ 2011), có thể tự tin để kỳ vọng kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tốc độ này trong quý tiếp theo để đạt được mục tiêu cả năm tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên đây không phải là bài toán dễ giải. Việc tăng trưởng GDP quý IV phải ở mức trên 12,5% trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có rất nhiều biến động phức tạp, khó lường, có những diễn biến vượt dự báo chắc chắn là nhiệm vụ khó khăn, cần thực hiện đồng loạt nhiều giải pháp.

Tăng tốc xuất khẩu, tháo gỡ điểm nghẽn

TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng, nhấn mạnh, một trong những trụ cột cần tập trung trong quý cuối năm là đẩy mạnh xuất khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, xuất khẩu vẫn giữ vai trò động lực quan trọng của tăng trưởng nhờ khả năng trực tiếp mở rộng quy mô GDP, thúc đẩy sản xuất trong nước và thu hút nguồn lực quốc tế. Việt Nam đã xuất siêu trở lại sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu. Cụ thể trong tháng 9, Việt Nam xuất siêu 1,27 tỷ USD. Đây là một tín hiệu rất tích cực của kinh tế Việt Nam.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026. (Nguồn: Cục Thống kê)

Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD. Vì thế, ông Hiếu cho rằng cần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hơn nữa bằng cách khai thác hiệu quả các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới, mở rộng sang các không gian mới như Trung Đông, Nam Á, châu Phi.

“ Đặc biệt, cần chuyển từ xuất khẩu thô sang sản phẩm chế biến sâu, công nghệ cao, gắn xuất khẩu với tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới làm kênh chiến lược, cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan và chi phí tuân thủ” , ông Hiếu nêu ý kiến.

Ông Hiếu cũng khuyến cáo, để giữ đà tăng trưởng ổn định và bền vững, cần tháo gỡ nhiều nút thắt.

Đầu tiên là phải mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước có nhiều động thái thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nới rộng room cho các ngân hàng thương mại để các ngân hàng có thể sử dụng nhiều tiền gửi để cho vay.

Thực tế, các ngân hàng sẵn sàng cho doanh nghiệp vay nhiều hơn, nhưng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có đủ tiêu chuẩn đáp ứng các chuẩn tín dụng, nên không vay được vốn. Vì vậy rất cần thiết tạo cơ chế để các doanh nghiệp này tiếp cận được nguồn vốn vay từ ngân hàng.

Tại các địa phương đã có quỹ bảo lãnh tín dụng, nhưng việc tiếp cận vốn cũng không mấy khả quan, nên Chính phủ cần tăng cường năng lực của các quỹ này, giúp dòng vốn đến được tay doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp phát triển, tăng trưởng nền kinh tế mới có thể phát triển ổn định và bền vững.

Một thách thức cũng được ông Hiếu chỉ ra là giá xăng dầu thế giới tăng cao, tác động đến các quốc gia, trong đó có Việt Nam. “ Tôi cho rằng Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Điều này có thể làm ngay và trong thời gian ngắn, giúp tăng trưởng nền kinh tế mạnh mẽ, vững vàng hơn ”, ông Hiếu kiến nghị.

Tận dụng nguồn lực truyền thống, đẩy mạnh động lực mới

Trong khi đó, TS. Cấn Văn Lực – chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia – nhận định, tăng trưởng những tháng cuối năm 2026 có cơ sở để đạt mức cao nếu Việt Nam tận dụng tốt các lĩnh vực truyền thống và kích hoạt được những lĩnh vực mới. Trong đó khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế, liên kết vùng và xử lý các dự án tồn đọng có thể đóng góp thêm cho tăng trưởng.

Theo chuyên gia, một trong những trụ cột cần tập trung trong quý cuối năm là đẩy mạnh xuất khẩu. (Ảnh: Bộ Công thương).

Đầu tư công cũng cần được nhìn không chỉ ở con số giải ngân mà ở khả năng tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế. “ Từ nay đến cuối năm, yêu cầu không chỉ là đẩy nhanh giải ngân mà quan trọng hơn là tháo gỡ các điểm nghẽn trong triển khai dự án, để nguồn vốn được hấp thụ hiệu quả, nhanh chóng đi vào các công trình, dự án có khả năng tạo sản lượng, việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế ”, ông Lực cho hay.

Bên cạnh đó, cần chú trọng đến khu vực kinh tế tư nhân. Muốn tăng trưởng hai con số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào ngân sách và FDI mà cần khơi thông khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp trong nước. Các nút thắt về vốn, đất đai, thủ tục hành chính, tiếp cận thị trường và chi phí tuân thủ cần được tháo gỡ nhanh hơn.

Đặc biệt, dòng vốn tín dụng cần được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có khả năng tạo giá trị gia tăng, thay vì chỉ tập trung vào những hoạt động ít tạo ra năng lực sản xuất. Khi doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn, mở rộng nhà xưởng, đầu tư công nghệ và nhận thêm đơn hàng, tác động tới GDP sẽ rõ hơn.

Vì vậy, những tháng cuối năm sẽ là giai đoạn quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng. Nếu đầu tư công được giải ngân thực chất, công nghiệp và xuất khẩu giữ được đơn hàng, tiêu dùng và dịch vụ tiếp tục mở rộng, trong khi khu vực tư nhân được khơi thông nguồn lực, nền kinh tế sẽ có thêm cơ sở để tiến gần mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đồng quan điểm, GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cũng nhận định, có thể duy trì được đà tăng trưởng tốt nhờ các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng.

Tuy nhiên, trước những áp lực nhất định do biến động của kinh tế toàn cầu, vẫn cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Theo ông, có 3 nhóm động lực mang tính nền tảng.

Thứ nhất, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh. Đây là điều kiện tiên quyết. Nếu thể chế không theo kịp yêu cầu phát triển mới thì rất khó tạo ra đột phá.

Thứ hai, phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Muốn tăng trưởng bền vững, phải hình thành được các doanh nghiệp nội địa có năng lực cạnh tranh quốc tế, có khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị và làm chủ công nghệ.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, dữ liệu lớn và AI. Đây sẽ là những động lực rất quan trọng của mô hình tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.

“ Đổi mới sáng tạo không thể đo bằng số lượng đề án hay hội thảo, mà phải được đo bằng sản phẩm cụ thể, bằng năng suất tăng lên, bằng doanh nghiệp lớn mạnh hơn và bằng giá trị gia tăng thực sự được tạo ra trong nền kinh tế ”, ông nêu quan điểm.

Đầu tư công được dự báo sẽ tăng tốc trong quý cuối năm 2026. (Ảnh minh họa: VnEconomy)

Tăng trưởng ngày càng bền vững

Tôi cho rằng Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Điều này có thể làm ngay và trong thời gian ngắn, giúp tăng trưởng nền kinh tế mạnh mẽ, vững vàng hơn

TS. Nguyễn Trí Hiếu

Nhận định về mức tăng trưởng xa hơn, TS. Nguyễn Trí Hiếu lạc quan dự đoán sẽ ngày càng bền vững, trong đó, GDP năm 2027 sẽ ở mức trên 10% do bối cảnh kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ ổn định hơn năm 2026.

Chuyên gia Cấn Văn Lực cũng tự tin về tăng trưởng kinh tế trong năm 2027 bởi những dự báo tích cực về chu kỳ phát triển mới, sự chuyển mình mạnh mẽ của các địa phương. Theo ông, hiện nay, các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm đang bắt đầu vào “guồng” mới, đặc biệt là các địa phương như Quảng Ninh, Bắc Ninh, khi bắt đầu lên thành phố. Khi các địa phương này tăng tốc phát triển, thì kinh tế Việt Nam cũng có cơ hội để tăng tốc, bứt phá.

Nhiều tổ chức quốc tế cũng nâng dự báo tăng trưởng cả năm lên mức cao nhất khu vực Đông Nam Á.

Ngân hàng Standard Chartered hiện dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%, trong đó kỳ vọng tăng trưởng nửa cuối năm đạt 10,6%. Với năm 2027, ngân hàng này cũng đưa ra dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 11%, nhờ các động lực đến từ sự khởi sắc của ngành sản xuất chế biến, chế tạo, khu vực dịch vụ và đầu tư, khả năng gia tăng xuất khẩu, cũng như việc duy trì các chính sách hỗ trợ tăng trưởng…

Tương tự, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 8,2%, tăng 0,7 điểm % so với dự báo trước. IMF đánh giá xuất khẩu công nghệ và nhu cầu trong nước là những động lực quan trọng.

HSBC cũng dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng 8,2% trong năm nay. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo từ 7,2% lên 7,8%, trong khi Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) dự báo mức tăng 7,5%.

Không chỉ được nâng dự báo, Việt Nam còn nổi bật khi so với các nền kinh tế khác trong khu vực. Theo tổng hợp của Cục Thống kê, nhóm các tổ chức quốc tế dự báo Việt Nam tăng trưởng 7,5-8,2% năm 2026, cao nhất Đông Nam Á.

Trong khi đó, Indonesia được dự báo tăng khoảng 5-5,2%; Malaysia tăng 4,7-4,9%; Singapore tăng 4,8-5%; Philippines tăng 3,3-4,1%; và Thái Lan được dự báo tăng 1,9-2,4%.

Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng 12%

https://cafef.vn/von-dau-tu-nuoc-ngoai-dang-ky-vao-viet-nam-tang-12-188261005142119984.chnTheo Hồ Hương | 05-10-2026 – 15:00 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng 12%

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), vốn đăng ký cấp mới trong 9 tháng qua có 3.108 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký.

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; vận tải kho bãi đạt 5,14 tỷ USD, chiếm 17,6%; các ngành còn lại đạt 10,71 tỷ USD, chiếm 36,6%.

Trong số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong chín tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,70 tỷ USD, chiếm 19,5%; Lúc-xăm-bua 4,99 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) 3,01 tỷ USD, chiếm 10,3%; Trung Quốc 2,27 tỷ USD, chiếm 7,8%; Nhật Bản 1,56 tỷ USD, chiếm 5,3%; Hà Lan 438,5 triệu USD, chiếm 1,5%.

Bên cạnh vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh cũng có 948 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 14,15 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 21,82 tỷ USD, chiếm 50,3% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất kinh doanh bất động sản đạt 6,94 tỷ USD, chiếm 16,0%; các ngành còn lại đạt 14,63 tỷ USD, chiếm 33,7%.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nước ngoài cũng đăng ký góp vốn, mua cổ phần với 2.335 lượt, tổng giá trị góp vốn 6,97 tỷ USD, tăng 44,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 725 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,64 tỷ USD và 1.610 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,33 tỷ USD.

Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 39,5% giá trị góp vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 28,9%; ngành còn lại 2,20 tỷ USD, chiếm 31,6%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

Việt Nam tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị bán dẫn

https://nhadautu.vn/cho-xb-viet-nam-tim-loi-the-o-dau-trong-chuoi-ban-dan-d108093.htmlVŨ ĐẶNG
07:00 06/10/2026

Tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử Việt Nam mới khoảng 5–10%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 25–30%. Các dự án và chương trình mới trong năm nay cho thấy Việt Nam đang muốn đi sâu hơn vào đóng gói, kiểm thử, hóa chất điện tử và vật liệu bán dẫn.

Tỷ lệ nội địa hóa thấp từ lâu là một điểm nghẽn của ngành điện tử Việt Nam. Nhiều tập đoàn công nghệ lớn đã xây dựng cơ sở sản xuất quy mô lớn, nhưng phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra vẫn còn hạn chế.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử lên 25–30% vào năm 2030 và 35–40% vào năm 2035. Để so sánh, tỷ lệ nội địa hóa trong thời gian gần đây của ngành được cho là vào khoảng 5-10%.

Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 cũng xác định bán dẫn và vật liệu mới trong nhóm lĩnh vực ưu tiên, yêu cầu phát triển công nghiệp vật liệu thành ngành nền tảng, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tăng liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.

Chuỗi bán dẫn gồm nhiều công đoạn, từ vật liệu, thiết bị, thiết kế, chế tạo wafer, đóng gói đến kiểm thử. Wafer là những tấm bán dẫn mỏng từ silicon; hiện tại với cơn sốt chip nhớ do làn sóng AI, wafer chính là điểm nghẽn sản lượng quan trọng.

Yêu cầu về vốn, công nghệ và thị trường của từng công đoạn rất khác nhau. Tổng Giám đốc FPT Nguyễn Văn Khoa từng cho rằng Việt Nam không cần làm toàn bộ chuỗi, mà nên lựa chọn những công đoạn có lợi thế, có thị trường và có khả năng làm chủ.

Làn sóng đầu tư AI càng làm bài toán này rõ hơn. Nhu cầu chip cho data center đang kéo theo đầu tư vào bộ nhớ, đế đóng gói, kiểm thử và các vật liệu phục vụ sản xuất bán dẫn. Với Việt Nam, vấn đề nằm ở việc năng lực nào có thể phát triển dựa trên nền tảng đã có.

Phối cảnh một phần nhà máy đóng gói – kiểm thử của FPT. Ảnh: FPT

Đóng gói và kiểm thử đã có nền sản xuất

Theo Hiệp hội Công nghiệp Bán dẫn Toàn cầu (SEMI), động lực mạnh nhất hiện nay của ngành bán dẫn tại Việt Nam nằm ở khâu lắp ráp, đóng gói và kiểm thử. Intel, Amkor và Hana Micron đã hình thành năng lực sản xuất đáng kể tại Việt Nam, trong khi nhiều dự án mới tiếp tục bổ sung công suất cho các công đoạn phía sau chế tạo wafer. Tuy nhiên, quy mô hiện tại chủ yếu thuộc khu vực FDI.

Trong năm 2026, Intel tiếp tục chuyển một phần hoạt động lắp ráp, đóng gói và kiểm thử từ Costa Rica về Việt Nam. Phần năng lực bổ sung có liên quan đến chip dùng cho máy chủ data center và các hệ thống mạng thế hệ mới.

Gần đây nhất, Samsung Electro-Mechanics công bố đầu tư 2.510 tỷ won tại Việt Nam để mở rộng FCBGA, loại đế đóng gói kết nối chip với bảng mạch, phục vụ máy chủ AI. Trước đó, LG Innotek cũng triển khai dự án khoảng 1 tỷ USD tại Hải Phòng để sản xuất các loại đế đóng gói bán dẫn.

Ở phía doanh nghiệp Việt Nam, FPT đang bước vào cùng mắt xích này.

Ngày 28/1/2026, tập đoàn công bố thành lập Nhà máy Kiểm thử và Đóng gói tiên tiến chip bán dẫn tại Bắc Ninh. Giai đoạn 2026–2027, nhà máy có quy mô 1.600 m2, gồm 6 dây chuyền kiểm tra chức năng cùng khu vực kiểm tra độ tin cậy và độ bền của chip.

FPT đã tự thiết kế chip tại Việt Nam, trong khi khâu sản xuất được thực hiện ở nước ngoài. Việc xây dựng năng lực kiểm thử và đóng gói tại Bắc Ninh giúp doanh nghiệp đưa thêm một công đoạn của chuỗi sản xuất chip về trong nước

Quy mô này vẫn còn nhỏ so với các doanh nghiệp FDI lớn và chưa thể đại diện cho năng lực chung của doanh nghiệp bán dẫn Việt Nam. SEMI cũng lưu ý đóng gói và kiểm thử là thế mạnh của nhiều nền kinh tế Đông Nam Á. Còn Malaysia và Singapore đã có hệ sinh thái sâu hơn, tạo áp lực cạnh tranh khi Việt Nam muốn nâng vị trí trong chuỗi giá trị.

Nhân lực là một hạn chế khác.

Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành bán dẫn đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, trong đó 15.000 người cho thiết kế và 35.000 người cho sản xuất, đóng gói, kiểm thử cùng các công đoạn liên quan.

Các tập đoàn FDI đã bắt đầu tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.

Năm 2026, Samsung lần đầu đưa bán dẫn vào chương trình Samsung Innovation Campus, với các cấp độ nhập môn, cơ bản và nâng cao. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo khoảng 2.200 sinh viên trong năm. Trung tâm tại Bắc Ninh có phòng thực hành mô phỏng lắp ráp bán dẫn.

Đầu tháng 10, Tổng Giám đốc Samsung Việt Nam Na Ki Hong nói về định hướng chuyển từ “sản xuất tại Việt Nam” sang cùng nghiên cứu, cải tiến và tạo thêm giá trị tại Việt Nam. Theo ông, mức độ đóng góp của FDI cần được nhìn thêm qua số kỹ sư Việt Nam làm chủ công nghệ và số doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng.

Hóa chất và vật liệu mở thêm một hướng đi

Ngoài đóng gói và kiểm thử, năm 2026 bắt đầu xuất hiện những nỗ lực đưa các ngành công nghiệp sẵn có vào chuỗi bán dẫn.

Tháng 6, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) hoàn thành giai đoạn đầu nghiên cứu khả năng tham gia chuỗi giá trị này. Tập đoàn đã có nền sản xuất hóa chất cơ bản như H₂SO₄, HCl và H₃PO₄.

Lộ trình nghiên cứu gồm xây phòng thí nghiệm đạt chuẩn ngành, nâng các hóa chất này lên cấp điện tử, thử nghiệm tái sinh dung môi IPA và xác định những đơn vị thành viên có khả năng tham gia. Tuy nhiên, rào cản lớn nằm ở tiêu chuẩn tinh khiết.

Trong sản xuất bán dẫn, hóa chất phải đáp ứng giới hạn tạp chất rất thấp và quy trình kiểm nghiệm riêng. SEMI có các tiêu chuẩn riêng đối với hóa chất dùng trong nhà máy chip. Với một số dung môi như IPA, yêu cầu kiểm soát tạp chất kim loại có thể xuống dưới mức 0,01 phần tỷ.

Việc đã sản xuất H₂SO₄ hay HCl ở cấp công nghiệp vì vậy chưa đủ. Doanh nghiệp còn phải đầu tư vào tinh chế, phân tích, kiểm soát nhiễm bẩn và duy trì chất lượng ổn định trước khi sản phẩm có thể được khách hàng bán dẫn chấp nhận.

Dự án của Vinachem hiện mới ở giai đoạn nghiên cứu nâng chuẩn, chưa phải năng lực thương mại đã hình thành. Dù vậy, doanh nghiệp có sẵn nhà máy, nguồn nguyên liệu và kinh nghiệm hóa chất, giúp giảm bớt một phần khoảng cách so với việc xây dựng một ngành hoàn toàn mới.

Vật liệu từ tài nguyên trong nước cũng có một số chuyển động.

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VKIST) cùng doanh nghiệp Việt Nam đang nghiên cứu quy trình tinh chế silica từ thạch anh trong nước lên độ tinh khiết 99,99%. Tại Quảng Trị, một dự án thạch anh siêu tinh khiết công suất thiết kế 1.500 tấn mỗi năm cũng đã được triển khai.

Ở khu vực FDI, Tập đoàn hóa chất Tokuyama của Nhật Bản tháng 8/2026 khai trương cơ sở sản xuất và xử lý polycrystalline silicon cấp bán dẫn tại Việt Nam. Đây là nguyên liệu dùng để sản xuất silicon wafer.

Những dự án này vẫn còn cách xa một chuỗi vật liệu bán dẫn hoàn chỉnh.

Thạch anh tinh khiết chưa phải wafer. Silica đạt độ tinh khiết 99,99% cũng chưa phải silicon cấp bán dẫn. Trong khi nhà máy Tokuyama tại Việt Nam chưa đủ dữ liệu cho thấy toàn bộ nguyên liệu đầu vào được hình thành từ tài nguyên trong nước.

Trong ngành bán dẫn, tài nguyên chỉ là bước khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở công nghệ tinh chế, khả năng kiểm soát tạp chất, độ ổn định khi sản xuất hàng loạt và quá trình được khách hàng chấp nhận.

Theo đánh giá của SEMI, nền tảng rõ nhất hiện nay của Việt Nam vẫn nằm ở đóng gói và kiểm thử, dù phần lớn quy mô thuộc khu vực FDI. Còn hóa chất điện tử là hướng đang được thử nghiệm dựa trên năng lực công nghiệp đã có.

Các chuyển động trong năm 2026 cho thấy lựa chọn đang cụ thể hơn. FPT đầu tư vào thiết kế, kiểm thử và đóng gói. Vinachem nghiên cứu nâng hóa chất công nghiệp lên cấp điện tử. Một số dự án bắt đầu đưa công nghệ tinh chế vật liệu vào trong nước.

Khả năng tăng tỷ lệ nội địa hóa sẽ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt chuẩn ở bao nhiêu mắt xích trong số này. Khi đó, lợi ích của ngành bán dẫn sẽ không chỉ nằm ở việc có thêm nhà máy đặt tại Việt Nam, mà còn ở phần công nghệ, sản phẩm và kỹ năng được doanh nghiệp và kỹ sư trong nước từng bước làm chủ.

AI đổi luật chơi của bất động sản khu công nghiệp

https://nhadautu.vn/ai-doi-luat-choi-cua-bat-dong-san-khu-cong-nghiep-d108029.htmlLIÊN THƯỢNG
11:37 06/10/2026

Những yêu cầu mới như năng lượng và công nghệ ngày càng tác động trực tiếp tới tiêu chuẩn kỹ thuật của khách thuê. Riêng tại Việt Nam, nhà đầu tư không chỉ xem xét vị trí mà ngày càng ưu tiên chất lượng hạ tầng, năng lực của chủ đầu tư và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn vận hành khắt khe.

Nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm quỹ đất, mà còn quan tâm đến điện, hạ tầng và khả năng mở rộng của KCN. Ảnh minh họa: Liên Thượng.

Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/9, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, cao nhất cùng kỳ 5 năm gần đây.

Cụ thể, vốn đăng ký cấp mới có 3.108 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu vốn cấp mới với 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn đăng ký mới.

Triển vọng của bất động sản khu công nghiệp (KCN) nhờ đó tiếp tục được các tổ chức nghiên cứu đánh giá tích cực. Chứng khoán ACBS cho rằng ngành được hỗ trợ bởi chính sách thu hút FDI, lợi thế địa chính trị, chi phí sản xuất và hợp tác thương mại quốc tế. Tuy nhiên, ACBS cũng lưu ý bất ổn thương mại, địa chính trị và kinh tế thế giới có thể khiến khách thuê chần chừ trong quyết định mở rộng đầu tư.

Báo cáo Waypoint 2026 của Cushman & Wakefield cũng đánh giá Việt Nam đang củng cố vị trí mắt xích chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu, được thúc đẩy bởi sự gia nhập và mở rộng của các nhà sản xuất điện tử, công nghệ cao.

Vốn FDI tăng mạnh, giá cổ phiếu khu công nghiệp lại đi xuống

Bức tranh tích cực của dòng vốn ngoại chưa phản ánh đồng đều vào diễn biến cổ phiếu. Khảo sát của Nhadautu.vn cho thấy, trong quý III/2026, giá cổ phiếu KCN có sự phân hóa mạnh.

BCM giảm mạnh nhất, từ 52.800 đồng xuống 39.700 đồng/cp, tương ứng 24,8%. SZC giảm 19,8%, KBC giảm 14,8%, IDC giảm khoảng 7,3% và PHR giảm 2,6%. Ở chiều ngược lại, GVR gần như đi ngang trong khi VGC tăng khoảng 9%.

Bức tranh kinh doanh nửa đầu năm cũng cho thấy xu hướng khác biệt rõ nét. BCM ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 307 tỷ đồng, giảm 83,4%; KBC đạt khoảng 260 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 79,2%.

Ngược lại, VGC đạt 1.153 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 38%; IDC ghi nhận 1.001 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 20%. Hai doanh nghiệp cao su là GVR và PHR còn tăng mạnh hơn, với lợi nhuận sau thuế lần lượt khoảng 4.947 tỷ đồng và 655 tỷ đồng, chủ yếu được hỗ trợ thêm bởi giá cao su và các khoản thu nhập liên quan đến đất.

CTCP Chứng khoán MB (MBS) dự phóng, kết quả kinh doanh quý III của các doanh nghiệp KCN sẽ tiếp tục phân hóa. Cụ thể, MBS dự phóng lợi nhuận ròng quý III của BCM đạt 1.817 tỷ đồng, tăng 337% so với cùng kỳ; VGC đạt 168 tỷ đồng, tăng 83%; KBC đạt 528 tỷ đồng, tăng 72%. Ngược lại, IDC được dự báo giảm 49% còn 428 tỷ đồng, SZC giảm 33% xuống 14 tỷ đồng.

Theo MBS, sự phân hóa này phụ thuộc nhiều vào tiến độ bàn giao đất và các hoạt động kinh doanh riêng của từng doanh nghiệp. Tính chung nhóm theo dõi, công ty chứng khoán dự báo lợi nhuận ròng quý III vẫn tăng 52% so với cùng kỳ.

Bên cạnh tiến độ ghi nhận lợi nhuận, chi phí vốn cũng là một biến số đáng chú ý. TS. Lê Đức Khánh, Giám đốc Phân tích Chứng khoán VPS, nhìn nhận BĐS KCN vẫn hưởng lợi từ FDI và quá trình chuyển đổi đất cao su, nhưng toàn ngành bất động sản đang chịu áp lực chi phí vốn vay ngắn hạn cao.

Như tại KBC, áp lực thanh toán nợ vay ngày càng lớn do quy mô nợ tăng trong bối cảnh lãi suất cao, trong khi các dự án trọng điểm như Tràng Cát và Trump Complex chưa mang lại dòng tiền.

Nhưng bên cạnh câu chuyện vốn và thời điểm bàn giao, một thay đổi mang tính dài hạn đang đặt ra bài toán mới cho các chủ đầu tư KCN: tiêu chuẩn lựa chọn địa điểm của khách thuê công nghệ đang thay đổi.

Khi AI đổi luật chơi

Theo Cushman & Wakefield, những yêu cầu mới như năng lượng và công nghệ ngày càng tác động trực tiếp tới tiêu chuẩn kỹ thuật của khách thuê và chiến lược lựa chọn vị trí. Riêng tại Việt Nam, nhà đầu tư không chỉ xem xét vị trí mà ngày càng ưu tiên chất lượng hạ tầng, năng lực của chủ đầu tư và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn vận hành khắt khe.

Ông David Jackson, Tổng Giám đốc Avison Young Việt Nam và Campuchia, cũng cho rằng nhà đầu tư quốc tế lẫn trong nước hiện không đơn thuần tìm kiếm đất, mà tìm nơi một dự án công nghệ có thể vận hành hiệu quả ở quy mô lớn.

Theo đó, nguồn nhân lực, nguồn điện bảo đảm, hạ tầng kết nối và khả năng mở rộng ngày càng quan trọng không kém bản thân khu đất.

Trong số những điều kiện này, điện nổi lên như một yếu tố then chốt. Với trung tâm dữ liệu và sản xuất công nghệ cao, nhà đầu tư không chỉ cần đủ công suất tại thời điểm triển khai mà còn cần khả năng tăng công suất khi dự án mở rộng.

Một dự án bán dẫn có thể cần lượng điện tương đương hoặc gần bằng cả một KCN, dù diện tích nhỏ hơn đáng kể. Vì vậy, chủ đầu tư KCN phải tính nhu cầu công suất ngay từ quy hoạch, làm việc sớm với đơn vị điện lực và chính quyền địa phương, đồng thời xây dựng lộ trình tăng công suất theo từng giai đoạn.

Yêu cầu còn khắt khe hơn với trung tâm dữ liệu bởi hoạt động không được phép gián đoạn, kéo theo nhu cầu về nguồn điện dự phòng và hệ thống lưu trữ. Avison Young dẫn trường hợp BIM Energy và Evolution Data Centres hợp tác cung cấp năng lượng tái tạo cho trung tâm dữ liệu tại TP.HCM theo cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), cho thấy mối liên kết ngày càng rõ giữa vốn – năng lượng – đất – hạ tầng – công nghệ.

Một số doanh nghiệp niêm yết đã bắt đầu tiếp cận xu hướng này. MBS cho biết BCM cùng VSIP đang mở rộng quỹ đất theo hướng KCN xanh, bền vững; KBC có gần 170 ha MOU với các doanh nghiệp như LG, Luxshare và đang xúc tiến hợp tác phát triển các dự án trung tâm dữ liệu; IDC thu hút các dự án trong lĩnh vực chế tạo, dược phẩm và data center.

Như vậy, FDI vẫn là nền tảng thuận lợi nhưng quỹ đất lớn đang dần trở thành điều kiện cần thay vì lợi thế đủ. Khi dòng vốn dịch chuyển sâu hơn vào điện tử, bán dẫn, AI và trung tâm dữ liệu, cuộc cạnh tranh giữa các chủ đầu tư KCN có thể ngày càng được quyết định bởi khả năng cung cấp điện ổn định, chất lượng hạ tầng, tốc độ triển khai và dư địa để khách thuê mở rộng.

Đà Nẵng đánh thức loạt dự án ‘ngủ quên’

https://nhadautu.vn/da-nang-danh-thuc-loat-du-an-ngu-quen-d108008.htmlTHÀNH VÂN
06:45 04/10/2026

Những khu đất từng bỏ hoang, các dự án kéo dài nhiều năm đang dần được đánh thức tại Đà Nẵng. Khi các nút thắt về pháp lý, đất đai từng bước được tháo gỡ, nguồn lực lớn bị "đóng băng" cũng có cơ hội quay trở lại nền kinh tế.

Đánh thức những quỹ đất ‘ngủ quên’

Trong nhiều năm, không ít khu đất tại Đà Nẵng rơi vào tình trạng bỏ hoang, trong khi các dự án quy mô lớn phải "đắp chiếu" do vướng mắc về đất đai, pháp lý, đầu tư và những vấn đề phát sinh từ các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án. Khi các nút thắt từng bước được xử lý, nhiều dự án bắt đầu có chuyển động trở lại.

Một trong những trường hợp đáng chú ý là Khu đô thị quốc tế Đa Phước, dự án quy mô lớn từng đình trệ nhiều năm tại Đà Nẵng. Trải qua 10 năm với những vướng mắc pháp lý khiến dự án này không thể tiếp tục triển khai theo kế hoạch và khu đất rơi vào tình trạng bỏ hoang nhiều năm.

Sau thời gian dài tháo gỡ, đến nay dự án này đã được UBND TP. Đà Nẵng chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư. Theo đó, dự án do Công ty TNHH The Sunrise Bay làm nhà đầu tư. Quy mô dự án khoảng 170,7 ha, tổng vốn đầu tư hơn 54.787 tỷ đồng. Các hạng mục dự kiến gồm khoảng 4.481 căn nhà ở liền kề và biệt thự, bệnh viện đa khoa, trường học, các công trình công cộng, khu vui chơi dịch vụ giải trí khoảng 12,2 ha cùng các công trình thương mại, dịch vụ…

Mới đây, dự án đã xuất hiện động thái triển khai mới khi chủ đầu tư đã có văn bản gửi UBND phường Hải Châu và UBND phường Thanh Khê để lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với hồ sơ điều chỉnh quy hoạch dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước.

UBND TP. Đà Nẵng đã chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước, đây là bước đi cụ thể hóa cho việc tháo gỡ dự án. Ảnh: Thành Vân.

Đa Phước không phải trường hợp duy nhất. Tại nhiều khu vực của Đà Nẵng, những dự án từng "trùm mền" trong thời gian dài cũng đang lần lượt được xử lý, tái khởi động, mở ra khả năng đưa một lượng lớn quỹ đất bị đình trệ trở lại phục vụ phát triển.

Trên địa bàn phường Hải Vân, nhiều dự án quy mô lớn từng gặp vướng mắc kéo dài nay đã có những chuyển động mới, đáng chú ý như Khu phức hợp du lịch và đô thị nghỉ dưỡng Làng Vân, Khu đô thị sinh thái Quan Nam – Thủy Tú (Golden Hills City), dự án Vệt 50m đường Nguyễn Tất Thành nối dài…

Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Nguyễn Thúc Dũng, Chủ tịch UBND phường Hải Vân cho biết, sau khi sắp xếp, hợp nhất, địa bàn có nguồn lực và quỹ đất tương đối lớn để triển khai các dự án. Địa phương tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư trong quá trình triển khai, từ công tác mặt bằng đến các vấn đề liên quan đến pháp lý và quy hoạch.

Theo ông Dũng, hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện để các dự án được triển khai là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương. Khi các dự án được tháo gỡ và thi công trở lại, không chỉ tạo thêm nguồn lực mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.

"Các dự án được khởi động trở lại cũng tạo thêm niềm tin đối với người dân, đặc biệt là những người đang đầu tư, sinh sống tại khu vực", ông Dũng thông tin.

Ông cũng cho biết, thời gian tới, địa phương tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đồng thời quan tâm, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đang tìm hiểu và có nhu cầu đầu tư trên địa bàn. Đối với những vị trí được nhà đầu tư quan tâm, địa phương sẽ tổng hợp, đề xuất thành phố xem xét.

Một điểm nóng khác ở Đà Nẵng là khu vực Điện Bàn Đông, khi câu chuyện về những dự án bỏ hoang trong thời gian dài từng trở thành vấn đề nổi cộm. Khu vực này từng có khoảng 120 dự án đầu tư ngoài ngân sách bị bỏ hoang nhiều năm, trong khi lượng đơn thư khiếu nại về đất đai chiếm tới 90%. Tuy nhiên, cùng với quá trình tháo gỡ các vướng mắc, nhiều dự án tại đây đang có dấu hiệu chuyển động trở lại.

Những khu đất từng bỏ hoang, các dự án kéo dài nhiều năm đang dần được đánh thức tại Đà Nẵng. Ảnh: Thành Vân.

Khơi thông nguồn lực khổng lồ

Từ Kết luận 77/2024 của Bộ Chính trị về phương án tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố, đến các nghị quyết của Quốc hội và Nghị định 147 của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật đất đai, hành lang pháp lý để xử lý các dự án tồn đọng từng bước được hoàn thiện.

Đây cũng là cơ sở để Đà Nẵng đẩy nhanh quá trình xử lý những dự án, cơ sở nhà đất kéo dài nhiều năm, từng bước đưa nguồn lực bị đình trệ trở lại nền kinh tế.

Đến nay, Đà Nẵng đã xử lý 1.984/2.035 dự án và cơ sở nhà đất, với tổng diện tích gần 5.000ha, tương đương khoảng 456.000 tỷ đồng vốn đầu tư, đạt 97,5% kế hoạch. Quy mô này cho thấy phía sau việc xử lý từng dự án là một lượng lớn đất đai, tài sản và vốn đầu tư đang có cơ hội được kích hoạt.

Theo đại diện một doanh nghiệp đang đầu tư tại Đà Nẵng, khi các dự án được khơi thông, những khu đất bỏ hoang, tài sản chưa được khai thác và dòng vốn đình trệ có thêm điều kiện chuyển hóa thành các dự án, công trình và hoạt động sản xuất – kinh doanh cụ thể.

Với một đô thị đang mở rộng không gian phát triển như Đà Nẵng, việc đưa các quỹ đất lớn trở lại khai thác sẽ tạo thêm dư địa cho phát triển đô thị, dịch vụ, du lịch, thương mại và các lĩnh vực liên quan. Cùng với đó, quá trình này có thể tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu ngân sách và thúc đẩy dòng vốn tư nhân tiếp tục tham gia thị trường.

Doanh nghiệp cho biết thêm, việc chính quyền chủ động tháo gỡ các vướng mắc, đồng hành cùng doanh nghiệp cũng góp phần củng cố niềm tin của các nhà đầu tư đang tìm hiểu thị trường, qua đó tạo thêm cơ sở để họ đánh giá khả năng triển khai dự án và môi trường đầu tư tại Đà Nẵng.

Trong khi đó, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh cho rằng, các cơ chế đặc thù sẽ góp phần giải tỏa những nút thắt kéo dài tại nhiều dự án đầu tư trên cả nước, trong đó có hàng trăm dự án tại Đà Nẵng. Khi các dự án được tháo gỡ sẽ góp phần khơi thông dòng vốn đang bị ách tắc trong lĩnh vực bất động sản và đầu tư phát triển.

"Nếu Đà Nẵng xử lý được các dự án tồn đọng này thì sẽ giải phóng được nguồn lực rất lớn cho nền kinh tế. Đây là nguồn vốn có giá trị lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, tạo thêm động lực cho tăng trưởng trong giai đoạn tới", TS. Võ Trí Thành nhận định.

Quảng Ngãi thúc đẩy môi trường đầu tư, rộng cửa đón dòng vốn mới

https://nhadautu.vn/quang-ngai-thuc-day-moi-truong-dau-tu-rong-cua-don-dong-von-moi-d108075.htmlAN KHANG
07:00 06/10/2026

Từ xử lý các dự án chậm triển khai, giải phóng quỹ đất đến tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục, Quảng Ngãi đang thay đổi cách làm để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, biến dư địa phát triển thành những dự án và dòng vốn mới.

‘Dọn chỗ’ cho nhà đầu tư thực chất

Sau sáp nhập, Quảng Ngãi có không gian phát triển rộng hơn, từ miền núi, cao nguyên, đồng bằng đến biển, đảo, cùng nền tảng công nghiệp và hệ thống cảng biển nước sâu tại Khu kinh tế Dung Quất. Đây là dư địa để tỉnh mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng và thu hút thêm nguồn lực đầu tư.

Tuy nhiên, để biến lợi thế thành động lực tăng trưởng, Quảng Ngãi đang đứng trước yêu cầu thay đổi cách tiếp cận trong thu hút và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Một trong những thay đổi đáng chú ý tại Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp Quảng Ngãi là việc rà soát, xử lý các dự án chậm triển khai, qua đó giải phóng nguồn lực đất đai cho những nhà đầu tư có năng lực.

Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Nguyễn Hải Trường, Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi, từ năm 2025 đến nay, địa phương đã đẩy mạnh rà soát, thu hồi các dự án được giao đất nhưng chậm triển khai, không thực hiện đúng tiến độ hoặc vi phạm quy định pháp luật về đất đai.

Việc thu hồi dự án, không nhằm tạo ra những con số thống kê về xử lý dự án, mà hướng đến mục tiêu giải phóng nguồn lực đất đai, tạo cơ hội cho những nhà đầu tư có năng lực thực sự tiếp cận quỹ đất.

"Đất công nghiệp sạch hiện nay không còn nhiều. Nếu các dự án chậm triển khai vẫn tiếp tục giữ đất thì những nhà đầu tư có nhu cầu thực sự sẽ không còn cơ hội tiếp cận", ông Trường chia sẻ.

Quảng Ngãi đang thay đổi cách làm để tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư. Ảnh: An Khang.

Theo ông Trường, cùng với thu hút dự án mới, Ban Quản lý đang từng bước rà soát, sắp xếp lại những dự án hoạt động kém hiệu quả để dành quỹ đất cho các nhà đầu tư thực sự có nhu cầu và năng lực.

Đây cũng là sự thay đổi trong cách tiếp cận thu hút đầu tư: không chỉ mở rộng danh mục dự án, mà phải sử dụng hiệu quả quỹ đất và bảo đảm dự án sau khi được chấp thuận có thể triển khai trên thực tế.

Ông Trường cho biết, trước đây, việc hỗ trợ nhà đầu tư chủ yếu dừng ở khâu mời gọi và cấp chủ trương đầu tư. Trong khi đó, giải phóng mặt bằng và tháo gỡ thủ tục chưa được thực hiện đồng bộ, khiến không ít dự án dừng lại sau khi được chấp thuận đầu tư.

Thực tế cũng có trường hợp nhà đầu tư không thực sự muốn triển khai dự án, chủ yếu xin chủ trương rồi để đó hoặc tìm cách chuyển nhượng. Từ thực tế này, Ban Quản lý đang thay đổi phương thức làm việc theo hướng đồng hành sâu hơn với những nhà đầu tư nghiêm túc, có thực lực.

"Quan điểm là chỉ cần nhà đầu tư thực sự muốn làm thì Ban Quản lý sẽ hỗ trợ và đồng hành. Còn những trường hợp không còn quyết tâm thì sẽ xử lý theo quy định", ông Trường nhấn mạnh.

Còn ông Nguyễn Văn Trọng, Giám đốc Sở Tài chính Quảng Ngãi cho rằng, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là chuyển lợi thế quy hoạch thành dự án, chuyển dự án thành vốn đầu tư và chuyển vốn đầu tư thành năng lực sản xuất mới.

Theo đó, Quảng Ngãi tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh với tinh thần "Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp là trung tâm – người dân là chủ thể – nguồn lực xã hội là động lực".

Tỉnh sẽ tập trung rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng, hạ tầng và tiếp cận nguồn lực; đồng thời chủ động đồng hành với doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án.

Đáng chú ý, định hướng thu hút đầu tư được chuyển từ chú trọng số lượng sang chất lượng, hiệu quả và tính lan tỏa.

Theo ông Trọng, Quảng Ngãi ưu tiên những nhà đầu tư có năng lực và các dự án quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đóng góp tích cực cho ngân sách và có khả năng hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh.

Tỉnh cũng đặt mục tiêu phát huy hiệu quả hơn các nguồn lực đất đai, tài sản công, ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội; xây dựng cơ chế để mỗi đồng vốn đầu tư công có thể tạo ra nhiều đồng vốn đầu tư tư nhân.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cam kết chính quyền sẽ "đi từ đầu đến cuối", từ quy hoạch đến vận hành cùng nhà đầu tư. Ảnh: An Khang.

Chính quyền cam kết "đi từ đầu đến cuối"

Nói với cộng đồng doanh nghiệp, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đức Tâm cho biết, dù còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn thời gian qua đã nỗ lực duy trì sản xuất, kinh doanh, triển khai dự án, tạo việc làm, đóng góp ngân sách và đồng hành cùng sự phát triển của tỉnh.

Trong giai đoạn mới, doanh nghiệp và nhà đầu tư được xác định là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Quảng Ngãi xác định doanh nghiệp là đối tác đồng hành trong quá trình phát triển, với quan điểm thành công của doanh nghiệp cũng là thành công của tỉnh.

Trên tinh thần đó, tỉnh tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ. Những điểm nghẽn phát sinh từ thực tiễn sẽ được tập trung tháo gỡ, lấy hiệu quả giải quyết công việc và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính.

Đặc biệt, tỉnh đặt yêu cầu cao hơn đối với trách nhiệm của người đứng đầu, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, chậm trễ; tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhà đầu tư được hướng dẫn và giải quyết công việc rõ ràng, thuận lợi, đúng quy định.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cam kết chính quyền sẽ "đi từ đầu đến cuối", từ quy hoạch đến vận hành cùng nhà đầu tư. Sản phẩm cụ thể của mỗi buổi làm việc phải là văn bản chỉ đạo được ban hành trong vòng một tuần, kèm thời hạn giải quyết rõ ràng.

UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa ban hành quyết định về Chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và khuyến công giai đoạn 2026 – 2030.

Chương trình đặt mục tiêu thu hút khoảng 140 – 150 dự án, tổng vốn đầu tư dự kiến 113.000 – 139.000 tỷ đồng, tương đương 4,35 – 5,35 tỷ USD.

Thấy gì từ mức nhập siêu 19,42 tỷ USD?

https://nhadautu.vn/dang-sau-con-so-nhap-sieu-1942-ty-usd-la-gi-d107955.htmlMY ANH
09:12 05/10/2026

Tháng 9, cán cân thương mại hàng hóa trở lại xuất siêu 1,27 tỷ USD, nhưng tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD. Đáng chú ý, hơn 94% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất, cho thấy phía sau con số nhập siêu còn là câu chuyện về mở rộng năng lực sản xuất, xuất khẩu và khả năng giữ lại giá trị trong nước.

Cảng Tân Cảng – Cát Lái. Ảnh: saigonnewport.com.vn

Nhập khẩu đồng hành với quá trình mở rộng sản xuất

Công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2026, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, tháng 9 là tháng đầu tiên sau nhiều tháng cán cân thương mại hàng hóa trở lại trạng thái xuất siêu.

Cụ thể, tháng 9/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 59,48 tỷ USD, nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, qua đó cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD.

"Dù vậy, kết quả của riêng tháng 9 chưa thể làm thay đổi bức tranh chung. Tính chung 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD", bà Nguyễn Thị Hương cho biết.

Cũng theo Cục Thống kê, nhóm hàng tư liệu sản xuất trong 9 tháng đạt 426,92 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.

Trao đổi với Nhadautu.vn, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê Dịch vụ và Giá (Cục Thống kê), cho rằng khi đánh giá nhập siêu cần nhìn vào cơ cấu nhập khẩu, đồng thời xem xét khả năng chuyển hóa các nguồn đầu vào này thành sản phẩm và giá trị xuất khẩu trong những giai đoạn tiếp theo. Do đó, việc nhập khẩu tăng mạnh ở nhóm tư liệu sản xuất cần được đặt trong mối quan hệ với năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.

Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu mới là điều kiện cần, chưa phải bằng chứng đầy đủ về chất lượng tăng trưởng. Cùng là máy móc, linh kiện hay nguyên vật liệu nhập khẩu, nhưng tác động tới nền kinh tế sẽ rất khác nếu chúng được sử dụng để mở rộng năng lực sản xuất trong nước, so với trường hợp chủ yếu phục vụ gia công với giá trị gia tăng thấp.

Số liệu 9 tháng cho thấy mối quan hệ này thể hiện khá rõ ở nhóm điện tử, máy tính và linh kiện. Kim ngạch xuất khẩu đạt 123,66 tỷ USD, tăng 59,6%, nhưng nhập khẩu cũng lên tới 188,94 tỷ USD, tăng 71,7%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 55,01 tỷ USD xuất khẩu, tăng 27,9%, trong khi nhập khẩu đạt 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%.

Dữ liệu cho thấy nhập khẩu đang đồng hành với quá trình mở rộng sản xuất và xuất khẩu, thay vì chủ yếu phục vụ tiêu dùng cuối cùng. Nhưng đồng thời, nó cũng phản ánh mức độ phụ thuộc đáng kể vào nguồn đầu vào bên ngoài, đặc biệt ở những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn.

Đây là vấn đề càng rõ khi nhìn vào sự khác biệt giữa hai khu vực kinh tế. Trong 9 tháng, khu vực FDI đóng góp 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 29,4%. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%.

Ở chiều nhập khẩu, khu vực FDI đạt 335,55 tỷ USD, tăng tới 42%. Khu vực này vì vậy xuất siêu 14,86 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu tới 34,28 tỷ USD.

Cán cân thương mại cho thấy một nghịch lý đáng chú ý: khu vực FDI vừa là động lực lớn nhất của xuất khẩu, vừa có nhu cầu nhập khẩu đầu vào rất lớn; trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đủ năng lực cung ứng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng của BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia, trong một cuộc trao đổi với Nhadautu.vn trước đó cũng lưu ý rằng khi doanh nghiệp FDI tăng xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị có thể tăng theo do năng lực cung ứng trong nước chưa đáp ứng đầy đủ. Ông nhấn mạnh yêu cầu nâng năng lực tự chủ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng liên kết với doanh nghiệp FDI.

Đâu là "giá trị ở lại"?

Với mức nhập siêu 19,42 tỷ USD, câu hỏi quan trọng hơn không chỉ là “nhập siêu bao nhiêu?”, mà là dòng nhập khẩu này đang được chuyển hóa như thế nào trong nền kinh tế?

Theo bà Nguyễn Thu Oanh, khi phần lớn hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, cần nhìn nhận dòng nhập khẩu này trong mối quan hệ với hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Điều quan trọng là những đầu vào nhập khẩu có được chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị xuất khẩu trong các giai đoạn tiếp theo hay không.

Ở góc độ này, nhập siêu chưa thể được nhìn hoàn toàn theo chiều hướng tiêu cực. Việc nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh có thể gắn với quá trình mở rộng sản xuất, đầu tư và gia tăng năng lực xuất khẩu. Đặc biệt, khi một số nhóm hàng nhập khẩu lớn cũng là những nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, cần có thêm thời gian để đánh giá khả năng chuyển hóa dòng nhập khẩu thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng.

Nhưng điều đó cũng không có nghĩa có thể xem nhẹ mức nhập siêu hiện nay. Sau 9 tháng, kim ngạch nhập khẩu tăng 36,7%, cao hơn 12,2 điểm phần trăm so với tốc độ tăng xuất khẩu 24,5%. Cán cân thương mại cũng đã chuyển từ xuất siêu 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 19,42 tỷ USD năm nay.

Theo bà Oanh, vì vậy cần tiếp tục theo dõi diễn biến xuất nhập khẩu, nhất là khả năng chuyển hóa nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu thành sản phẩm xuất khẩu trong những giai đoạn tiếp theo. "Đây mới là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ bền vững của cán cân thương mại", bà Oanh lưu ý.

Sự phân hóa giữa hai khu vực kinh tế cũng cho thấy dư địa cải thiện rất lớn. Khu vực kinh tế trong nước đang nhập siêu 34,28 tỷ USD, trong khi khu vực FDI xuất siêu 14,86 tỷ USD. Nếu không có mức xuất siêu của khu vực FDI, cán cân thương mại chung của nền kinh tế sẽ chịu áp lực lớn hơn.

Điều này một mặt cho thấy vai trò quan trọng của khu vực FDI trong cân đối thương mại, nhưng mặt khác đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cung ứng của doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước.

Bởi nếu xuất khẩu tiếp tục tăng nhưng các ngành xuất khẩu chủ lực vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu, thì quy mô xuất khẩu tăng chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ giá trị tăng thêm được giữ lại trong nền kinh tế.

Nếu chỉ nhìn vào cán cân hàng hóa, bức tranh nhập siêu cũng chưa hoàn toàn đầy đủ. Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu dịch vụ đạt 26,10 tỷ USD, tăng 18,5%, trong khi nhập khẩu dịch vụ đạt 34,31 tỷ USD, tăng 15%. Cán cân dịch vụ nhập siêu 8,21 tỷ USD.

Trong đó, nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 16,40 tỷ USD, chiếm 47,8% và tăng 35,1%. Xuất khẩu dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD, tăng 29,5%.

Khi hoạt động thương mại và sản xuất xuyên biên giới mở rộng, nhu cầu sử dụng các dịch vụ gắn với thương mại quốc tế cũng tăng lên. Nếu cộng riêng cán cân hàng hóa và cán cân dịch vụ, tổng mức thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ trong 9 tháng vào khoảng 27,63 tỷ USD.

Vì vậy, việc tháng 9 xuất siêu trở lại là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng nhập siêu đã chấm dứt. Điều đáng theo dõi trong những tháng tới không chỉ là cán cân thương mại sẽ trở lại xuất siêu hay tiếp tục nhập siêu, mà là mỗi đồng nhập khẩu đang tạo ra bao nhiêu đồng năng lực sản xuất, xuất khẩu và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Đây cũng là thước đo quan trọng hơn để đánh giá tác động của nhập khẩu tới tăng trưởng. Bởi xét đến cùng, vấn đề không nằm đơn thuần ở việc nền kinh tế nhập nhiều hơn hay xuất nhiều hơn trong một thời điểm, mà ở khả năng biến dòng nhập khẩu thành năng lực sản xuất, nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị và gia tăng phần giá trị được tạo ra ngay trong nền kinh tế.

GS-TSKH Nguyễn Mại, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đánh giá, tình trạng nhập siêu chưa đáng lo, nhất là trong bối cảnh quý IV, các đơn hàng lớn sẽ được xuất khẩu nhằm phục vụ tiêu dùng cho kỳ nghỉ Giáng sinh.
Thứ hai, cần nhìn vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, quy mô thương mại tăng mạnh cũng đồng nghĩa với việc một khối lượng lớn hoạt động sản xuất, logistics, vận tải, kho bãi và dịch vụ liên quan đã được kích hoạt trong nền kinh tế. Nói cách khác, đằng sau 888 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu không chỉ là dòng hàng hóa, mà còn là một lượng lớn công việc được tạo ra và phân bổ qua nhiều khâu của chuỗi cung ứng.