Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao?

https://dantri.com.vn/bat-dong-san/thi-truong-bat-dong-san-dang-ha-nhiet-ra-sao-20220808175607379.htm

Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao?

Nguyễn Khánh
Thứ ba, 09/08/2022 – 09:10

(Dân trí) – Giá một số phân khúc bất động sản vẫn tăng so với thời điểm cuối năm 2021. Song mức độ tăng giá các phân khúc tập trung trong quý I chậm dần và có dấu hiệu chững lại trong các tháng quý II năm nay.

Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao? - 1

Sửa Luật Đất đai 2013 nhưng không thoát “cái bóng” của nó

https://www.saigondautu.com.vn/bat-dong-san/sua-luat-dat-dai-2013-nhung-khong-thoat-cai-bong-cua-no-108108.html

Sửa Luật Đất đai 2013 nhưng không thoát “cái bóng” của nó

Thứ Ba, 9/8/2022 09:32

(ĐTTCO) – Tại buổi lấy ý kiến góp ý của doanh nghiệp và chuyên gia về Luật Đất đai (sửa đổi) diễn ra tuần qua, một số chuyên gia cho rằng nhiều quy định trong dự thảo chưa hợp lý, và cuối cùng cũng vào vòng xoáy “cái bóng” của Luật Đất đai 2013.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2013 đã bị các chuyên gia và DN phản ứng vì vẫn còn "bóng" của Luật Đất đai 2013.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2013 đã bị các chuyên gia và DN phản ứng vì vẫn còn "bóng" của Luật Đất đai 2013.

Rắc rối quy định “giá đất cụ thể”

Theo Khoản 1 Điều 131 của dự thảo, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan định giá đất cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể… Cụ thể, cơ quan định giá đất cấp tỉnh trình hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm chủ tịch UBND tỉnh làm chủ tịch, và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.

Phân tích về quy định này, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Phó Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Luật Hà Nội, cho rằng quy định này chưa có sự đổi mới về cơ chế xác định giá đất cụ thể, về cơ bản vẫn kế thừa Luật Đất đai 2013. Qua tổng kết thực tiễn gần 10 năm thi hành Luật Đất đai 2013 cho thấy, quy định về giá đất cụ thể là điểm không thành công của luật này.
Bởi giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định được sử dụng làm căn cứ tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất không nhận được sự đồng thuận của nhiều người bị thu hồi; tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn chiếm tỷ lệ cao (khoảng 60% khiếu nại của người dân), do giá đất cụ thể được xác định thấp hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường.

Bên cạnh đó, hội đồng thẩm định giá đất chưa đảm bảo sự độc lập theo như tinh thần của Nghị quyết 18-NQ/TW (về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất…).
Bởi theo quy định của dự thảo, chủ tịch UBND cấp tỉnh là chủ tịch hội đồng thẩm định giá và các thành viên là đại diện các cơ quan, tổ chức công, có nghĩa chỉ 1 cơ quan có hiểu biết chuyên sâu về xác định giá đất là tổ chức tư vấn xác định giá đất. “Thông thường, nguyên tắc chung của bất kỳ hội đồng nào là làm việc tập thể, quyết định theo đa số. Vậy với cơ cấu và thành phần nêu trên liệu có đảm bảo tính độc lập của hội đồng thẩm định giá?” – ông Tuyến đặt câu hỏi.

Từ đó, ông Tuyến đề xuất dự thảo nên chỉnh theo hướng: “Cơ quan quản lý giá đất cấp tỉnh – độc lập với UBND cấp tỉnh – quyết định giá đất cụ thể và được thuê tổ chức có chức năng tư vấn, xác định giá đất để tư vấn mới xác định giá đất cụ thể”. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.

Ở khía cạnh khác, liên quan đến quy định về bảng giá đất, theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam, cần xác định rõ thế nào là giá đất phổ biến trên thị trường có sự biến động để làm căn cứ điều chỉnh bảng giá đất, do giá đất trên thị trường luôn biến động từng ngày.
Việc biến động giá đất trên thị trường xuất phát từ nhiều lý do và luôn có tình trạng cố tình thổi giá. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào sự biến động giá đất trên thị trường để làm căn cứ điều chỉnh bảng giá đất, bảng giá đất sẽ được điều chỉnh liên tục, tạo sự thiếu ổn định và gây nhiều ý kiến tranh cãi, không thống nhất.

Tại sao là 100ha?

Theo Điều 64 dự thảo luật, đất được lựa chọn để thực hiện đấu thầu dự án phải đảm bảo nhiều điều kiện, trong đó khu đất đã có quy hoạch chi tiết 1/500, tiêu chí và điều kiện về đấu thầu dự án phải có quy mô diện tích từ 100ha trở lên…

Ông Nguyễn Văn Đỉnh, chuyên gia pháp lý đất đai, cho rằng quy định này xung đột với Khoản 7, Điều 19, Luật Quy hoạch đô thị, và Khoản 3, Điều 24, Luật Xây dựng. Theo đó, quy hoạch chi tiết do chủ đầu tư dự án lập. Điều bất hợp lý ở chỗ, “nếu chưa đấu thầu dự án, chưa lựa chọn được chủ đầu tư, thì chủ thể nào chịu trách nhiệm lập quy hoạch chi tiết và bằng nguồn kinh phí nào? Quy định như dự thảo sẽ gây xung đột pháp luật trong đấu thầu dự án”. Ông Đỉnh cũng lưu ý, Nghị định 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, chỉ yêu cầu có quy hoạch phân khu xây dựng hoặc quy hoạch phân khu đô thị là đủ điều kiện đấu thầu, không cần có quy hoạch chi tiết.

Về quy định tiêu chí, điều kiện đấu thầu dự án phải có quy mô diện tích từ 100ha trở lên, theo ông Đỉnh có phần duy ý chí và bất khả thi, bởi quy mô 100ha rất lớn. Trong khi với dự án xây dựng khu đô thị theo pháp luật xây dựng chỉ cần có quy mô sử dụng đất từ 20ha trở lên. “Luật Đất đai áp dụng chung cho cả nước, trong đó có những địa phương trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao. Việc đấu thầu dự án có quy mô 100ha rất khó thu hút đầu tư cũng như kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, dễ dẫn đến dự án treo, bỏ hoang hóa đất đai” – ông Đỉnh cảnh báo.

Đại diện CTCP Eurowindow Holding cho rằng, với tiêu chí 100ha trở lên, các quỹ đất có diện tích dưới 100ha chỉ có thể lựa chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu giá. Như vậy ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ phải thu xếp trước tiền giải phóng mặt bằng (khoảng 2,5-5 tỷ đồng/ha) và không phải địa phương nào cũng có thể bố trí được NS để thực hiện. Từ đó, các địa phương sẽ có xu hướng lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu giá đối với các dự án nhỏ. Điều này sẽ không cải thiện được bộ mặt đô thị, hiệu quả quỹ đất, làm giảm thu NSNN, chưa kể trường hợp tổ chức đấu giá không lựa chọn được nhà đầu tư, khi đó NSNN sẽ bị ảnh hưởng, gây lãng phí.

Luật Đất đai 2013 trao UBND cấp tỉnh nhiều quyền năng (quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất…) sẽ khó tránh tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong thu hồi đất, xác định giá đất cụ thể để bồi thường cho người bị thu hồi đất.

Hà My

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

https://www.saigondautu.com.vn/ngan-hang/kiem-soat-tin-dung-vao-bat-dong-san-108122.html

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

Thứ Ba, 9/8/2022 08:46

(ĐTTCO) – Kiên định chỉ tiêu tín dụng định hướng năm 2022 là 14%, điều hành chặt chẽ tín dụng bất động sản (BĐS), là thông tin được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra trong thông báo tuần qua. Đây là lần thứ 2 trong vòng 1 tháng, cơ quan điều hành chính sách tiền tệ phát đi thông điệp về vấn đề này.

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

Thời gian gần đây, qua các kênh khác nhau, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) gửi đến cơ quan điều hành thông tin về việc room tín dụng đã cạn. Tình hình này khiến các NH không thể tiếp tục giải ngân cho khách hàng. Còn các khách hàng, nhất là doanh nghiệp BĐS, bị rơi vào thế khó khi dự án đang triển khai nhưng khoản vay ngàn tỷ chưa được giải ngân.

Theo NHNN, nguyên nhân do các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng tín dụng quá nhanh trong 6 tháng đầu năm. Việc từ chối cho vay đối với khách hàng không hẳn do hết room, còn có thể do phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn, hoặc một số NH xếp hạng thấp không được tăng trưởng tín dụng cao… Nếu NH nào hoạt động chủ yếu tập trung cho vay ngắn hạn, cho vay bổ sung vốn lưu động, sẽ thường xuyên có nguồn thu nợ và tiếp tục cho vay. Một số TCTD chủ yếu cho vay trung, dài hạn, tập trung vào lĩnh vực BĐS thời gian quay vòng vốn chậm, không thu hồi được nợ nhanh, dẫn đến hết dư địa tăng trưởng tín dụng.

Những tháng đầu năm, tín dụng tăng nhanh trước diễn biến phục hồi của nền kinh tế. Tính đến ngày 20-7, dư nợ toàn hệ thống tăng 9,27% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ 2021 tăng 6,47%) và tăng 16,61% so với cùng kỳ 2021 (cùng kỳ 2021 tăng 15,87%). Điều này cho thấy, chính sách tín dụng đang thực hiện hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế, nhưng cũng là tín hiệu thể hiện tín dụng đã tăng rất mạnh.

Trong bối cảnh áp lực tăng giá ngày càng gia tăng, khi lạm phát từ bên ngoài đã bắt đầu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất trong nước, cũng như nợ xấu NH tăng ở mức cao, cơ cấu tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là tín dụng bán lẻ và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng, thì chính sách tiền tệ phải thận trọng, chủ động thích ứng với rủi ro lạm phát, tỷ giá.

Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11-1-2022 của Quốc hội và Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30-1-2022 của Chính phủ, yêu cầu thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ để phục hồi kinh tế, nhưng mục tiêu bao trùm vẫn phải đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Việc điều hành phải theo dõi sát sao diễn biến tốc độ giải ngân của chương trình phục hồi, sự tích cực của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam.
Đây là những vấn đề liên quan tới chính sách tiền tệ ngắn hạn cần theo dõi. NHNN tiếp tục điều hành theo chỉ tiêu định hướng 14% đã đề ra từ đầu năm; đồng thời theo dõi sát diễn biến để có chỉ đạo điều hành, kết hợp với chính sách tài khóa.

Với tín dụng lĩnh vực BĐS, đến tháng 6 tổng dư nợ đạt trên 2,36 triệu tỷ đồng, tăng 14,07% so với cuối năm 2021, chiếm 20,74% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống (cùng kỳ năm 2021 tăng 8,2%, chiếm 19,9%). Dù nguồn vốn tín dụng chỉ là một trong số các nguồn vốn đầu tư vào thị trường BĐS, nhưng đây là nguồn vốn mang tính chất trọng yếu. Tuy vậy, NHNN khẳng định tín dụng NH chỉ giải quyết được các vấn đề tạm thời đối với thị trường BĐS.

Bởi lẽ tín dụng NH được đẩy mạnh quá mức vào BĐS sẽ tạo rủi ro lớn, ảnh hưởng tới an toàn hệ thống TCTD nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do nhu cầu tín dụng đối với lĩnh vực BĐS có thời gian vay vốn dài (khoảng 94% dư nợ tín dụng BĐS có thời gian vay vốn 10-25 năm), trong khi nguồn huy động của TCTD chủ yếu là ngắn hạn (chiếm 80%) với lãi suất thay đổi theo thị trường, vì vậy các TCTD sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoản. Do đó, cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ tín dụng chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro thời gian qua.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Công ty chứng khoán nội bắt đầu “ngấm đòn”

https://www.saigondautu.com.vn/chung-khoan/cong-ty-chung-khoan-noi-bat-dau-ngam-don-108112.html

Công ty chứng khoán nội bắt đầu “ngấm đòn”

Thứ Ba, 9/8/2022 08:34

(ĐTTCO) – Chuỗi điều chỉnh sâu và dài của thị trường chứng khoán (TTCK) trong những tháng gần đây, khiến cho nhiều công ty chứng khoán (CTCK) nội đang lãi to chuyển sang lỗ nặng. Tuy nhiên, phía ngược lại các CTCK ngoại vẫn sống khỏe nhờ… cho vay.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Lỗ “kinh hoàng”

Tính đến thời điểm hiện tại, có gần 50 doanh nghiệp (DN) niêm yết báo lỗ trong quý II vừa qua, trong đó có gần 20 DN lỗ trên 100 tỷ đồng. Điều bất ngờ là danh sách các DN thua lỗ có sự góp mặt của hàng loạt CTCK, và đây đều là những DN ghi nhận lợi nhuận đột biến trong các quý trước đó.
Theo thống kê, tổng lợi nhuận trước thuế của Top 30 CTCK hàng đầu chỉ còn khoảng 3.300 tỷ đồng, tức đã giảm 3.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm ngoái và thấp hơn khoảng 5.000 tỷ đồng so với con số kỷ lục của quý IV-2021.

Đơn cử là CTCK Rồng Việt (VDS) với lãi ròng quý II-2021 đạt gần 150 tỷ đồng, nhưng ở quý II vừa qua bất ngờ báo lỗ gần 234 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm VDS lỗ ròng sau thuế 129 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi 247 tỷ đồng.
Tương tự, báo cáo tài chính vừa được CTCK APEC (APS) công bố cũng ghi nhận con số “kinh hoàng” với cổ đông: chỉ riêng trong quý II APS lỗ ròng gần 363 tỷ đồng, tương đương mức giảm hơn 9 lần so với cùng kỳ năm ngoái. CTCK Tiên Phong (ORS), một thành viên thuộc hệ sinh thái của TPBank, cũng công bố kết quả kinh doanh quý II hết sức tiêu cực dù doanh thu tăng mạnh.
Cụ thể, doanh thu hoạt động trong kỳ đạt 660 tỷ đồng (tăng 132%), nhưng lợi nhuận ròng của ORS lại âm gần 129 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi hơn 54 tỷ đồng. Đây cũng là khoản lỗ kỷ lục nhất của DN này kể từ khi niêm yết trên TTCK.
“Ngã ngựa” tự doanh

Hầu hết các CTCK thua lỗ ngoài sự sụt giảm doanh thu môi giới, thì nguyên chính là khoản lỗ tự doanh. Đơn cử APS đã cắt lỗ các mã CP có tính chất đầu cơ như: IDJ, NBB, TCH, ATT, PHC, CEO. Không chỉ thua lỗ CP niêm yết, APS còn lỗ nặng khi đầu tư vào CP chưa niêm yết là Thép Đình Vũ.
Trong khi đó, ORS đã cắt lỗ loạt CP và trái phiếu trong danh mục, dẫn đến việc hạch toán lỗ các tài sản tài chính (FVTPL) tăng 488%, lên gần 528 tỷ đồng. Trong quý II, ORS đã cắt lỗ loạt CP niêm yết với giá trị hơn 87 tỷ đồng, cắt lỗ trái phiếu chưa niêm yết hơn 280 tỷ đồng.

Theo đại diện ORS, nguyên nhân thua lỗ là do chi phí tăng cao chủ yếu từ hoạt động tự doanh bị ảnh hưởng từ việc VN Index giảm mạnh. Giải trình về nguyên nhân thua lỗ, ông Nguyễn Đỗ Lăng, Tổng giám đốc APS, thừa nhận kết quả kinh doanh “thụt lùi” phần lớn do hoạt động tự doanh.
Với giải trình tương tự, Phó Tổng giám đốc VDS Lê Minh Hiền, cho rằng diễn biến TTCK không thuận lợi đã ảnh hưởng mạnh đến kết quả kinh doanh, đặc biệt là hoạt động đầu tư tự doanh và hoạt động kinh doanh môi giới.

Việc VDS thua lỗ có phần bất ngờ bởi danh mục tự doanh của CTCK này phần lớn là những mã CP cơ bản như: CTG, TCB, DBC. Đây cũng là tình trạng chung của các CTCK lớn như CTCK Sài Gòn (SSI), CTCK TPHCM (HCM), CTCK Bản Việt (VCI). Các CTCK này may mắn không thua lỗ nhờ duy trì được doanh thu môi giới, nhưng lợi nhuận cũng có dấu hiệu “hụt hơi” vì mảng tự doanh của CTCK dù danh mục đầu tư phần lớn là CP cơ bản.

Bài học không cũ

Nếu các CTCK nội “lao đao” vì hoạt động tự doanh, thì các CTCK ngoại vẫn sống khỏe bất chấp diễn biến tiêu cực của thị trường chung. Điển hình là CTCK KB Việt Nam (KBSV) với lợi nhuận sau thuế đạt gần 76 tỷ đồng (tăng 21%). Kết quả kinh doanh khả quan của KBSV có được là nhờ doanh thu từ mảng cho vay margin tăng cao. Mặt khác, việc hoàn tất tăng vốn điều lệ cũng giúp DN có nguồn vốn dồi dào phục vụ hoạt động kinh doanh.
Tương tự, CTCK Mirae Asset (MAS) cũng là CTCK ngoại ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý II. Theo đó, mảng kinh doanh chủ lực là cho vay margin duy trì tăng trưởng tốt cộng với nguồn thu từ mảng đầu tư giữ đến ngày đáo hạn (HTM) tăng 88% so với cùng kỳ. Đây là yếu tố giúp MAS báo lãi trước thuế tăng 11% lên 239 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế cũng tăng 30% lên 195 tỷ đồng.

Mức độ phân hóa lợi nhuận khi thị trường giảm sâu phần nào cho thấy sự căn cơ trong hướng đi của các CTCK ngoại so với các CTCK nội. Nếu CTCK nội tập trung nguồn lực vào mảng tự doanh, thì các CTCK ngoại lại hướng đến yếu tố chất lượng dịch vụ. Trong ngắn hạn, các CTCK ngoại có thể sẽ bị bỏ rơi về lợi nhuận, nhưng về dài hạn hướng đi của các CTCK ngoại lại tỏ ra hiệu quả hơn, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường không thuận lợi.
Trong quá khứ, nhiều CTCK nội từng nếm “trái đắng” từ mảng tự doanh dẫn đến phá sản hoặc “bán mình” cho CTCK ngoại. Dẫn chứng là ORS trước khi “về tay” TPBank, đã từng bị UBCKNN đình chỉ mảng tự doanh do thua lỗ 2 năm liên tiếp.

Có thể nói, kết quả kinh doanh của các CTCK ngoại chính là “hồi chuông” cảnh tỉnh cho các CTCK nội đang coi trọng mảng tự doanh. Điều đáng nói là mảng tự doanh bị giới đầu tư nghi ngờ về tính minh bạch khi cạnh tranh trực tiếp với khách hàng.
Thực tế, với tiềm lực tài chính hùng hậu, các CTCK ngoại đua nhau tăng vốn lên hàng ngàn tỷ đồng và gây ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ với các CTCK nội trên mọi phương diện, từ chất lượng dịch vụ cho tới số lượng chi nhánh và đặc biệt ở khả năng cung cấp nguồn vốn cho vay margin. Riêng trong quý II vừa qua, có 3 CTCK ngoại xuất hiện trong Top 10 dư nợ và đều là các CTCK của Hàn Quốc.

Dù giá đã tăng trở lại, nhưng NĐT nắm giữ CP CK khó hy vọng “về bờ”, bởi phần lớn mã CP thuộc nhóm ngành này đã giảm trung bình 50% sau đợt điều chỉnh gần đây.

KIM GIANG

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

https://www.saigondautu.com.vn/chung-khoan/thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-kenh-dau-tu-hieu-qua-va-cong-cu-phong-ngua-rui-ro-108113.html

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Thứ Ba, 9/8/2022 08:26

(ĐTTCO) – Ngày 10-8-2017, thị trường chứng khoán phái sinh (TTCK PS) chính thức được khai trương giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội (HNX) với sản phẩm phái sinh đầu tiên được giao dịch trên thị trường là hợp đồng tương lai (HĐTL) trên chỉ số VN30.

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Năm 2019, TTCK PS có thêm sản phẩm HĐTL trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn 5 năm, và năm 2021 tiếp tục đưa vào giao dịch sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 10 năm.
Đến nay, sau 5 năm đi vào hoạt động, TTCK PS đã hoạt động một cách an toàn, hiệu quả và thông suốt, từng bước tăng trưởng ổn định, quy mô và thanh khoản có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút sự tham gia ngày càng tích cực của các nhà đầu tư (NĐT) trong nước và nước ngoài. Hệ thống các thành viên giao dịch trên TTCK PS cũng phát triển nhanh chóng, từ 7 công ty chứng khoán (CTCK) thành viên khi mới khai trương đến nay đã có 23 CTCK đáp ứng các điều kiện về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu tối thiểu từ 900 tỷ đồng trở lên.

Thị trường phái sinh từng bước phát triển

Theo thống kê, giao dịch sản phẩm HĐTL VN30 có sự tăng trưởng liên tục qua các năm. Nếu như năm 2017, khi sản phẩm HĐTL VN30 mới được đưa vào giao dịch, khối lượng giao dịch bình quân chỉ ở mức 10.954 hợp đồng/phiên, thì trong 7 tháng đầu năm 2022, khối lượng giao dịch HĐTL VN30 đã tăng gấp 21,3 lần, đạt 213.041 hợp đồng/phiên.

Khối lượng giao dịch HĐTL VN30 cao nhất lên tới 506.025 hợp đồng vào ngày 21-6-2022, tương ứng giá trị giao dịch theo danh nghĩa đạt hơn 62.000 tỷ đồng. Khối lượng hợp đồng mở (OI) của sản phẩm HĐTL VN30 cũng liên tục tăng. Tại thời điểm cuối tháng 7-2022, khối lượng OI đạt 40.232 hợp đồng, tăng gấp 5 lần so với thời điểm cuối năm 2017. Mức OI cao nhất lên tới 61.090 hợp đồng vào ngày 14-1-2021.
Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro ảnh 1

Thanh khoản của sản phẩm HĐTL trên chỉ số VN30 đặc biệt tăng mạnh tại những thời điểm chỉ số VN30 giảm mạnh, do ảnh hưởng bởi những thông tin tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hay sự sụt giảm của chứng khoán toàn cầu.

Đối với sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm và 10 năm, khối lượng giao dịch còn ở mức khiêm tốn do các yếu tố đặc thù của sản phẩm. Trong 7 tháng đầu năm 2022, khối lượng giao dịch bình quân đạt 680 hợp đồng/phiên, còn khối lượng hợp đồng mở OI của HĐTL TPCP là 0 hợp đồng.

Giao dịch của NĐT nước ngoài trên TTCK PS tăng lên hàng năm, năm sau thường tăng gấp 2 – 3 lần năm trước. Năm 2017, giao dịch của NĐT nước ngoài chỉ chiếm tỷ trọng giao dịch 0,1%, nhưng 7 tháng đầu năm 2022, số liệu TTCK PS giao dịch của NĐT nước ngoài chiếm 2,2% tổng khối lượng giao dịch trên toàn thị trường.
Khẳng định là kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Sau 5 năm hoạt động, TTCK PS đã có sự tăng trưởng vượt các kỳ vọng đặt ra, và trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn thu hút các NĐT trong bối cảnh TTCK cơ sở nhiều biến động. Đặc biệt, khi TTCK cơ sở sụt giảm, cơ hội kiếm lời trên thị trường này không còn, thì NĐT sẽ tìm kiếm lợi nhuận trên TTCK PS, vì thị trường này cho phép họ kiếm lợi ngay cả khi thị trường cơ sở sụt giảm.
Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro ảnh 2

Bên cạnh vai trò là một kênh đầu tư, TTCK PS còn thể hiện vai trò phòng vệ rủi ro cho TTCK cơ sở. Đặc biệt, khi TTCK cơ sở giảm điểm mạnh, TTCK PS góp phần làm giảm áp lực bán tháo trên TTCK cơ sở, giúp ổn định tâm lý NĐT, giảm quy mô và mức độ sụt giảm trên thị trường cơ sở.

Có thể nói, TTCK PS là giải pháp hữu hiệu để giữ chân NĐT, tránh tình trạng tháo chạy khỏi TTCK cơ sở khi sụt giảm. Dữ liệu thực tế cho thấy, thanh khoản của TTCK PS thường tăng lên trong các giai đoạn TTCK cơ sở có biến động mạnh, điều này có thể thấy rõ trong thời kỳ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Đây cũng chính là phản ứng tự điều chỉnh của thị trường, giúp trấn an và ổn định tâm lý NĐT.

Tiếp tục phát triển theo lộ trình

TTCK PS Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm mạnh mẽ của công chúng đầu tư trong nước và quốc tế, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh liên tục gia tăng. Tính đến cuối tháng 7-2022, đã có 1.054.683 tài khoản giao dịch phái sinh của các NĐT được mở, tăng gấp 423 lần so với năm 2017.

Hoạt động giao dịch vẫn tập trung chủ yếu ở các NĐT cá nhân trong nước, tuy nhiên cơ cấu NĐT đã có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng giao dịch của NĐT cá nhân, tăng tỷ trọng giao dịch của NĐT tổ chức. Nếu như năm 2018, gần 99% giao dịch được thực hiện bởi các NĐT cá nhân thì tỷ trọng này giảm xuống còn khoảng 86% trong những tháng cuối năm 2019 và còn 72,4% trong 7 tháng đầu năm 2022.

Sự quan tâm của công chúng đầu tư với những sản phẩm đầu tiên trên TTCK PS là tiền đề để tiếp tục triển khai các sản phẩm chứng khoán phái sinh tiếp theo như hợp đồng quyền chọn chỉ số cổ phiếu, HĐTL và hợp đồng quyền chọn trên cổ phiếu, từng bước đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường. HNX sẽ tiếp tục nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới theo sự phân công của Sở GDCK Việt Nam theo lộ trình đã được các cơ quan quản lý phê duyệt.

Có thể nói, TTCK PS ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển, trở thành một cấu phần không thể thiếu của TTCK Việt Nam, góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK; hỗ trợ sự phát triển bền vững các TTCK cơ sở; tăng cường vai trò của TTCK trong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, đưa TTCK trở thành kênh huy động vốn an toàn, dài hạn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.

HẢI VÂN

7 tháng, các ngân hàng phát hành gần 105.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp

https://www.saigondautu.com.vn/ngan-hang/7-thang-cac-ngan-hang-phat-hanh-gan-105000-ty-dong-trai-phieu-doanh-nghiep-108138.html

7 tháng, các ngân hàng phát hành gần 105.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp

Thứ Ba, 9/8/2022 09:16

(ĐTTCO) – Trong tháng 7, nhóm ngân hàng thương mại tiếp tục đứng đầu về giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) với giá trị 15.058 tỷ đồng.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành TPDN với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành TPDN với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành.

Theo dữ liệu Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) tổng hợp, trong tháng 7 (tính đến ngày 29-7-2022), có 22 đợt phát hành TPDN riêng lẻ với giá trị 18.661 tỷ đồng.

Nhóm ngân hàng thương mại hiện đứng đầu về giá trị phát hành với giá trị là 15.058 tỷ đồng, lãi suất phát hành trung bình của nhóm này là 5,91%/năm. BIDV phát hành nhiều nhất với 4.494 tỷ đồng, theo sau là MB (3.000 tỷ đồng) và HDBank (2.184 tỷ đồng).

Nhóm các doanh nghiệp tài chính đứng thứ hai, phát hành 2.225 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ với lãi suất trung bình 6,7%/năm. Trong đó, Công ty Tài Chính Cổ Phần Điện Lực chiếm phần lớn với 1.725 tỷ đồng trái phiếu xanh kỳ hạn 10 năm.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 7-2022, có 17 đợt phát hành ra công chúng với giá trị 8.996 tỷ đồng (chiếm 4,5% tổng giá trị phát hành) và 298 đợt phát hành riêng lẻ trị giá 191.279 tỷ đồng (chiếm 95,5% tổng giá trị phát hành).

Giá trị phát hành trái phiếu ra công chúng giảm 6,1% và giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành. Kỳ hạn từ 1-3 năm chiếm phần lớn giá trị phát hành trong nhóm này với 79.998 tỷ đồng, chiếm 76,4%.

Nhóm bất động sản đứng ở vị trí thứ hai với 44.881 tỷ đồng, chiếm 22,4%. Lãi suất phát hành trung bình của nhóm này là 10,2%/năm.

Y.Lam

Cảnh báo rủi ro xuất, nhập khẩu cuối năm do biến động tỷ giá

https://www.saigondautu.com.vn/kinh-te/canh-bao-rui-ro-xuat-nhap-khau-cuoi-nam-do-bien-dong-ty-gia-108141.html

Cảnh báo rủi ro xuất, nhập khẩu cuối năm do biến động tỷ giá

Thứ Ba, 9/8/2022 09:44

(ĐTTCO)- Doanh nghiệp xuất, nhập khẩu luôn cần chủ động ứng phó với biến động tỷ giá để giảm rủi ro trong những tháng cuối năm.

Thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực.

Thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực.

Từ đầu năm nay, thị trường quốc tế diễn biến phức tạp với nhiều biến động khó lường khi căng thẳng Nga – Ukraine ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống kinh tế – tài chính toàn cầu, tác động mạnh đến giá năng lượng và các hàng hóa cơ bản, làm trầm trọng thêm hệ lụy của sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngân hàng trung ương các nước cũng đẩy nhanh quá trình thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất điều hành nhằm kiểm soát áp lực lạm phát tăng cao kỷ lục trên toàn cầu và thị trường tài chính tiền tệ biến động mạnh. Những diễn biến này ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ và tỷ giá đồng Việt Nam.

Công tác điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ tuy gặp nhiều áp lực do thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng với dự trữ ngoại hối được tích lũy nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước khẳng định đủ tiềm lực sẵn sàng can thiệp thị trường khi cần thiết để bình ổn thị trường và tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời hỗ trợ thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất, nhập khẩu luôn cần chủ động ứng phó với biến động tỷ giá để giảm rủi ro trong những tháng cuối năm.

Theo đánh giá của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, mặc dù thị trường quốc tế biến động mạnh nhưng thị trường ngoại tệ trong nước nửa đầu năm nay vẫn hoạt động ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt. Các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, nhất là nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá theo hướng vừa tạo dư địa để tỷ giá diễn biến linh hoạt, hấp thụ các cú sốc bên ngoài, vừa can thiệp thị trường ngoại tệ để hạn chế biến động quá mức của tỷ giá, nhằm góp phần bình ổn thị trường ngoại tệ.

TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đông tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhìn nhận, có một yếu tố tích cực đó là tỷ giá của Việt Nam vẫn ở mức độ ổn định hơn so với giá trị danh nghĩa của nhiều loại tiền tệ khác từ đầu năm đến nay.

“Có nhiều nước đồng nội tệ đã mất giá danh nghĩa từ 3-8%, thậm chí là trên 10%. Tính chung cả năm nay, chúng tôi dự báo tỷ giá của chúng ta có thể sẽ tăng ở mức khoảng 2- 2,3% hoặc cao hơn một chút là ở mức 2,5%”, TS. Cấn Văn Lực nêu ý kiến.

Nền tảng kinh tế vĩ mô có nhiều hỗ trợ tích cực với điều hành tỷ giá của Việt Nam. Đáng chú ý nhất là kết quả thu hút đầu tư nước ngoài với số vốn thực hiện trong 6 tháng đầu năm nay đạt hơn 10 tỷ USD, cao hơn cả cùng kỳ năm 2019, tức là trước giai đoạn dịch Covid-19. Mức giải ngân tích cực này không chỉ ổn định cung ngoại tệ, mà còn thể hiện niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với đà phục hồi kinh tế của nước ta.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lưu ý, tỷ giá trung tâm ổn định trong 6 tháng đầu năm cho thấy điều hành tiền tệ rất linh hoạt. “Nhưng 6 tháng cuối năm ngoái, tỷ giá ở các ngân hàng thương mại giảm, sang đến 6 tháng đầu năm nay đã điều chỉnh tăng, và ở thị trường tự do tăng nhanh, chênh lệch tỷ giá ngân hàng thương mại với thị trường tự do khoảng 600 – 700 đồng.

Đối với xuất, nhập khẩu, điểm tích cực là duy trì thặng dư thương mại dù có sức ép tỷ giá thời gian tới. Tỷ giá Việt Nam có thể ảnh hưởng khả năng xuất khẩu trong thời gian tới”, ông Dương nhận định.

Có thể nói, thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực, vì cơ cấu xuất khẩu tương đối tương đồng. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận định, tỷ giá USD/VND đã tăng từ đầu năm. Đặc biệt tỷ giá tăng mạnh trong tháng 6 là do FED tăng lãi suất và đẩy giá trị của đồng bảng xanh lên.

“Tỷ giá của tiền đồng tăng có lợi cho xuất khẩu và xuất khẩu là một trong những cột trụ quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, tỷ giá tăng sẽ làm tăng giá nhập khẩu và cũng làm gia tăng nhập khẩu lạm phát từ các nước xuất khẩu hàng sang Việt Nam”, Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu phân tích.

Đặc biệt, các chuyên gia cảnh báo, trong giai đoạn ngắn hạn, đồng Việt Nam đang có xu hướng mất giá so với USD nhưng lại mạnh hơn tương đối so với những đồng tiền khác như Yen Nhật hay đồng tiền chung châu Âu – Euro… Do đó, những doanh nghiệp vay nợ nhiều bằng USD sẽ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn do chênh lệch tỷ giá.

Ngược lại, những doanh nghiệp vay nợ nhiều bằng đồng Euro hay đồng Yen, thời gian tới có thể tăng lợi nhuận tài chính do đánh giá lại chênh lệch tỷ giá. Tuy nhiên, những doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu lớn tại Liên minh châu Âu hay Nhật Bản sẽ chịu bất lợi, bởi thu về những đồng tiền đang mất giá mạnh.

canh bao rui ro xuat, nhap khau cuoi nam do bien dong ty gia hinh anh 2
DN cần chủ động có kịch bản ứng phó với biến động của tỷ giá theo các đồng tiền, thích ứng với từng thị trường xuất, nhập khẩu.

Theo chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, mặc dù các doanh nghiệp chủ yếu giao dịch bằng USD và hiện tiền đồng đang mất giá so với USD song lại tăng giá trị so với các đồng tiền khác như Euro. Do đó, các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau và khác biệt giữa xuất khẩu với nhập khẩu sẽ chịu ảnh hưởng khác nhau, thậm chí là ảnh hưởng ngược chiều.

“Tác động của tỷ giá đối với các nhóm doanh nghiệp sẽ khác nhau, như với Hàn Quốc, do tỷ giá Việt Nam tăng so với WON nên giao dịch sẽ khác so với USD. Vì vậy, thông điệp đến với các nhóm doanh nghiệp với mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ phải có kịch bản, phương án khác nhau”, chuyên gia khuyến nghị.

Ngân hàng Nhà nước khẳng định sẽ tiếp tục nỗ lực điều hành đồng bộ thanh khoản đồng Việt Nam, hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá, thị trường ngoại tệ và mặt bằng lãi suất. Theo đó, tỷ giá sẽ được giữ ở mức độ phù hợp, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu nhất quán của Chính phủ, là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Nhưng từ phía doanh nghiệp, cần chủ động có kịch bản ứng phó với biến động của tỷ giá theo các đồng tiền, thích ứng với từng thị trường xuất, nhập khẩu. Đó là giải pháp tích cực và hiệu quả để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tỷ giá có thể xảy ra, khi giao thương quốc tế trong những tháng cuối năm nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều phức tạp và khó lường.

Trong 7 tháng qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã liên tiếp tăng lãi suất điều hành 4 lần và riêng 2 lần liên tiếp tháng 6 và tháng 7, mức tăng lãi suất là 0,75 điểm phần trăm, lớn nhất trong vòng 28 năm qua và dự kiến tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ trong thời gian tới. Đồng USD trên thị trường quốc tế tăng giá mạnh khiến đồng tiền của nhiều nền kinh tế bị mất giá mạnh, đồng thời cũng tác động bất lợi tới cân đối cung cầu ngoại tệ và tâm lý thị trường trong nước, gây áp lực đối với sự ổn định của tỉ giá và thị trường ngoại tệ.

Tỉ giá USD so với đồng Việt Nam không có xu hướng giảm như năm 2021. Thống kê tỷ giá bán ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm cho đến ngày 1/8 cho thấy, 1 USD = 23.400 VND, tăng 1,1% và ước làm tăng dư nợ Chính phủ bằng USD khoảng 5.000 tỷ đồng so với cuối năm 2021. 1 EUR = 24.385 VND, giảm 9,5% và ước làm giảm dư nợ Chính phủ khoảng 17.000 tỷ đồng. 1 Yen Nhật = 180 VND, giảm 13% và ước làm giảm dư nợ Chính phủ khoảng 45.000 tỷ đồng.

Như vậy, chỉ tính riêng biến động tỷ giá của 3 loại đồng tiền chính là USD, Yen Nhật và EUR, dư nợ Chính phủ tính đến cuối năm 2022 ước giảm khoảng 57.000 tỷ, tương đương giảm 2% so với dư nợ cuối 2021. Ngoài ra, hiện nay khối lượng vay vốn trong nước của Chính phủ chiếm 90%, vay vốn nước ngoài chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng năm. Không những vậy, các khoản vay trong nước của Chính phủ có xu hướng tăng nhanh và chiếm vai trò chủ đạo, nợ nước ngoài giảm dần. Từ đó, giúp làm giảm rủi ro về tỷ giá, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

Theo VOV.VN

Thuế nhập khẩu chính thức giảm: Ít hỗ trợ giảm giá xăng

https://vietnamnet.vn/thue-nhap-khau-chinh-thuc-giam-khong-ho-tro-giam-gia-xang-2047568.html

Thuế nhập khẩu chính thức giảm: Ít hỗ trợ giảm giá xăng

08/08/2022 19:19 (GMT+07:00)

Lương Bằng

Ngày 8/8, Chính phủ quyết định giảm thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng về 10% để đa dạng hóa nguồn cung trong nước. Loại thuế này không có nhiều tác dụng trong việc giảm giá xăng dầu.

Tại Nghị định 51/2022/NĐ-CP ban hành ngày 8/8, Chính phủ quyết định giảm 10% thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) mặt hàng xăng.

Cụ thể, theo đề nghị của Bộ Tài chính, Chính phủ điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xăng động cơ, không pha chì (thuộc mã HS từ 2710.12.21 đến 2710.12.29) từ 20% xuống 10%.

xang-dau-1080.jpgNguồn cung xăng dầu hiện nay chủ yếu từ lọc dầu trong nước và từ nguồn nhập khẩu ưu đãi đặc biệt. Ảnh: Anh Nguyễn

Việc này có tác dụng chính là đa dạng hóa nguồn cung xăng dầu, ít tác động đến giá xăng dầu và thu ngân sách.

Bởi lẽ, hiện nay, mặt hàng xăng được nhập khẩu chủ yếu từ các quốc gia có ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam nên thuộc diện được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu FTA thấp hơn so với mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN.

Với tỷ trọng xăng nhập khẩu theo thuế suất thuế nhập khẩu MFN hiện nay là thấp, cho nên trong trường hợp các điều kiện khác không thay đổi thì việc điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với mặt hàng xăng theo phương án dự kiến cơ bản sẽ không có nhiều tác động đến thu ngân sách nhà nước.

Campuchia sẽ kiểm tra mì ăn liền nhập khẩu từ Việt Nam

https://vietnamnet.vn/campuchia-se-kiem-tra-mi-an-lien-nhap-khau-tu-viet-nam-2047713.html

Campuchia sẽ kiểm tra mì ăn liền nhập khẩu từ Việt Nam

09/08/2022 10:08 (GMT+07:00)

Các cơ quan chức năng Campuchia cho biết, thời gian tới sẽ tiến hành kiểm tra các loại mì nhập khẩu từ Việt Nam .

Bản tin thị trường của Thương vụ Việt Nam tại Campuchia (Bộ Công Thương) dẫn thông tin từ Khmer Times ngày 27/7 cho biết, sau khi Liên minh châu Âu (EU) phát hiện một số mì nhập khẩu từ Việt Nam có chứa ethylene oxide (EO), các cơ quan Campuchia cho biết sẽ tiến hành kiểm tra và ngăn chặn nhập khẩu các loại mì Việt Nam nếu có chứa chất này.

Theo ông Phan Oun, thành viên của Chính phủ, phụ trách Tổng cục trưởng Tổng cục Bảo vệ người tiêu dùng, Cạnh tranh và Chống gian lận, động thái này diễn ra sau khi một số nước EU cảnh báo một số loại mì Việt Nam.

Campuchia sẽ kiểm tra mì ăn liền nhập khẩu từ Việt Nam ảnh 1
Mì ăn liền Việt Nam sẽ cần có chứng nhận không chứa chất ethylene oxide khi xuất khẩu Campuchia. Ảnh minh họa từ internet

Theo ông Phan Oun, nếu phát hiện loại mì này vào thị trường Campuchia, Tổng cục KPR sẽ vào cuộc để thu hồi. Đồng thời Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo cơ quan hải quan các địa phương phân loại những loại mì này vào loại hàng hóa rủi ro và cần có giấy chứng nhận không chứa chất ethylene oxide đối với mì nhập khẩu trong thời gian tới.

Trước đó, một số nước EU như Đức, Ba Lan, Malta gửi cảnh báo, thu hồi hoặc trả lại sản phẩm mì ăn liền hương vị gà, mì ăn liền hương vị cà ri, bánh phở nhập khẩu từ Việt Nam do chứa chất cấm ethylene oxide vượt ngưỡng quy định của EU.

(Theo Pháp Luật TP.HCM)

Giá xăng dầu hôm nay 9.8.2022: Xăng trong nước có thể xuống 21.000 đồng/lít?

https://thanhnien.vn/gia-xang-dau-hom-nay-9-8-2022-xang-trong-nuoc-co-the-xuong-21-000-dong-lit-post1486318.html

Giá xăng dầu hôm nay 9.8.2022: Xăng trong nước có thể xuống 21.000 đồng/lít?

09:03 – 09/08/2022

Nguyên Nga

Đà giảm giá dầu thế giới chưa dứt. Trong nước, giá xăng nhập khẩu về mốc 100 USD/thùng, dự báo giá xăng dầu tại kỳ điều hành tới (11.8) giảm mạnh.

Giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường Singapore giảm sâu trong tuần qua. Dữ liệu từ Bộ Công thương cho thấy, giá xăng nhập khẩu từ Singapore tính đến ngày 7.8 giảm về mức 100 USD/thùng đối với xăng E5 RON 92, về 103,67 USD/thùng đối với xăng RON 95, dầu diesel 124,34 USD/thùng, dầu hỏa 122 USD/thùng.

Giá xăng dầu hôm nay 9.8.2022: Xăng trong nước có thể xuống 21.000 đồng/lít? - ảnh 1
Giá dầu thế giới quay lại trên mốc 90 USD/thùng

REUTERS

Đây là mức giá thấp nhất trong vòng 7 tháng qua, tương đương giá nhập khẩu ngày 26.1.2022 với xăng E5 RON 92 là 100 USD/thùng, xăng RON 95 là 101,85 USD/thùng. Như vậy, nếu trừ đi thuế bảo vệ môi trường là 3.300 đồng thì giá xăng nhập hiện chỉ ở mức hơn 21.000 đồng/lít.

Theo một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu phía nam, giá xăng dầu nhập khẩu giảm mạnh là cơ sở để giá bán lẻ trong nước giảm tại lần điều chỉnh giá kỳ tới ngày 11.8. Theo một số doanh nghiệp đầu mối tính toán đến tối 8.8, giá xăng nhập khẩu đang thấp hơn giá bán trong nước từ 1.300 – 1.500 đồng/lít, dầu thấp hơn 2.000 đồng/lít. Tuy nhiên, mức giảm cụ thể còn phụ thuộc vào biến động giá xăng, dầu thế giới 2 ngày tới, mức trích/chi Quỹ Bình ổn xăng dầu của cơ quan điều hành.

Tính từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu trong nước đã có 20 lần điều chỉnh, trong đó có 13 lần tăng và 7 lần giảm. Tại kỳ điều chỉnh giá gần đây ngày 1.8, giá bán lẻ xăng E5 RON 92 về không quá 24.620 đồng/lít; xăng RON 95 không quá 25.600 đồng/lít; giá dầu diesel 0.05S còn 23.900 đồng/lít, giá dầu hỏa không cao hơn 24.530 đồng/lít, giá dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 16.540 đồng/kg.

Trên thế giới, ngày 9.8, đà giảm của giá “vàng đen” vẫn chưa dứt. Giá dầu thô ngọt nhẹ WTI lúc 7 giờ 12 phút theo giờ Việt Nam về 90,3 USD/thùng, dầu Brent về ngưỡng 96,24 USD/thùng. Trước đó, tại phiên giao dịch ngày đầu tuần, giá dầu cũng biến động mạnh, giảm đầu phiên nhưng cuối phiên tăng trở lại. Kết thúc phiên khuya 8.8, dầu thô Brent giao tháng 10 về mức 96,65 USD/thùng, tăng 1,73 USD, tương đương 1,8%; giá dầu thô WTI của Mỹ tăng 1,75 USD, tương đương 1,97%, lên mức 90,76 USD/thùng.

Trước nỗi lo suy thoái kinh tế, chính sách zero-Covid của Trung Quốc…, Ngân hàng ANZ mới đây đã hạ dự báo nhu cầu dầu trong năm 2022 giảm so với dự báo trước, mức giảm 300.000 thùng/ngày. Ngân hàng Goldman Sachs cũng đã cắt giảm dự báo giá dầu thô Brent cho quý 3 xuống còn 110 USD/thùng. Tuy nhiên, các nhà phân tích của ngân hàng đầu tư này vẫn tin tưởng giá dầu tăng trong thời gian tới.