‘Đại bàng’ ngoại muốn gì ngoài ‘luồng xanh’ đầu tư vào Việt Nam?

https://cafef.vn/dai-bang-ngoai-muon-gi-ngoai-luong-xanh-dau-tu-vao-viet-nam-188261026203852945.chnTheo Ngô Tùng | 26-10-2026 – 21:38 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
'Đại bàng' ngoại muốn gì ngoài 'luồng xanh' đầu tư vào Việt Nam?

Bên cạnh thủ tục đầu tư đặc biệt “luồng xanh”, nhà đầu tư cho rằng Việt Nam cần chuỗi cung ứng sâu, rộng hơn, thị trường nội địa phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ xây dựng mạng lưới quốc tế.

Chiều 26/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026), tại TPHCM diễn ra chương trình CEO 500 với chủ đề “Sự hội tụ của FDI, công nghệ và dòng chảy tài chính toàn cầu”.

Đây là dịp để lãnh đạo TPHCM, các chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi về cách kết nối đầu tư nước ngoài với công nghệ và dòng vốn toàn cầu, nhằm chuyển các nguồn lực này thành năng lực cạnh tranh và giá trị cụ thể cho kinh tế địa phương.

Thu hút 19 tỷ USD vốn FDI

Mở đầu chương trình, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh nhấn mạnh: Thành phố muốn cùng nhà đầu tư nhận diện cơ hội, giải quyết những bài toán phát triển và tạo động lực tăng trưởng mới. Sau sáp nhập, không gian kinh tế, đô thị và kết nối của TPHCM được mở rộng, tạo thêm dư địa cho các dự án quy mô lớn. Thành phố ưu tiên FDI chất lượng cao trong các lĩnh vực tài chính, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo, phấn đấu thu hút 19 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài năm 2026.

Ông Vinh đề nghị nhà đầu tư xem xét cả hệ sinh thái, từ nhân lực, chuỗi cung ứng đến khả năng tiếp cận thị trường và mở rộng hoạt động trong khu vực.

Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Ngô Tùng

Đi liền đó, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) được xác định là động lực kết nối thành phố với dòng vốn và thị trường tài chính khu vực.

Phát biểu tham luận, ông Nguyễn Hữu Huân – Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC – đề xuất kết nối loại hình vốn phù hợp với từng giai đoạn dự án: Nghiên cứu và kiểm chứng công nghệ cần vốn đầu tư mạo hiểm; tăng trưởng thương mại cần vốn cổ phần; sản xuất và hạ tầng cần nguồn tài trợ dài hạn… Các ưu tiên được đề xuất gồm AI, hạ tầng số, bán dẫn, tự động hóa, công nghệ sinh học và công nghệ xanh. Từng bước chuyển đầu tư quốc tế thành năng lực công nghệ được giữ lại tại Việt Nam.

Tạo cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

Ông Fazurin Jamaludin – Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào – nhìn nhận: Chu kỳ công nghệ do trí tuệ nhân tạo (AI) thúc đẩy đã hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư trong khu vực. Tuy nhiên, sự tập trung cao của chuỗi cung ứng công nghệ, sức ép tài chính công và chi phí vay gia tăng vẫn là những rủi ro. IMF khuyến nghị ưu tiên ổn định giá cả, duy trì dư địa tài khóa trong ngắn hạn. Về dài hạn, trọng tâm là năng suất, hiệu quả quản lý đầu tư công, sức chống chịu của hệ thống tài chính và phát triển thị trường vốn.

Ông Peter James Opdahl – Chủ tịch Ito Group Holdings PTE.LTD – nhấn mạnh nhu cầu phát triển chuỗi cung ứng. Theo ông, tập đoàn chọn Việt Nam làm trung tâm sản xuất từ năm 2012 và đang xây dựng nhà máy rộng 12.000m² tại Khu chế xuất Linh Trung, TPHCM.

Ông Peter James Opdahl trao đổi ý kiến.

Ông Peter James Opdahl cho rằng bên cạnh thủ tục đầu tư đặc biệt “luồng xanh”, Việt Nam cần chuỗi cung ứng sâu, rộng hơn, thị trường nội địa phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ xây dựng mạng lưới quốc tế. Đây là những điều kiện giúp doanh nghiệp có thêm khách hàng, mở rộng hoạt động và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất.

Kết luận chương trình, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh cho biết thành phố mong muốn thu hút không chỉ nguồn vốn đầu tư, mà còn cả công nghệ, tri thức, phương thức quản trị hiện đại, việc làm chất lượng cao và năng lực sản xuất mới. Thành phố cũng kỳ vọng được đồng hành cùng các nhà đầu tư trong phát triển hạ tầng giao thông và logistics, chuyển đổi năng lượng, đô thị và công nghiệp thông minh, kinh tế số và các ứng dụng AI.

TPHCM mong muốn các tập đoàn lớn tiếp tục thay đổi tư duy, phát huy vai trò tiên phong, không chỉ mở rộng hoạt động của chính mình, mà còn dẫn dắt hệ sinh thái vươn ra biển lớn, hội nhập và kiến tạo sâu khu vực và toàn cầu thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi cung ứng. Tạo thêm cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và kinh doanh quốc tế.

“Thành phố cam kết thúc đẩy các cơ hội đã được trao đổi, xác định rõ đầu mối phối hợp và lộ trình triển khai, đưa các nguồn lực về vốn, công nghệ và tri thức vào phục vụ phát triển”, ông Vinh khẳng định.

Chìa khóa vàng giúp Việt Nam trở thành “con hổ” châu Á mới như Hàn Quốc, Singapore, thu nhậ p bình quân vượt 14.300 USD

https://cafef.vn/chia-khoa-vang-giup-viet-nam-tro-thanh-con-ho-chau-a-moi-nhu-han-quoc-singapore-thu-nhap-binh-quan-vuot-14300-usd-188261027161305993.chnMinh Tiến | 27-10-2026 – 16:14 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Chìa khóa vàng giúp thu nhập bình quân Việt Nam vượt 14.300 USD là gì?

Chìa khóa vàng giúp Việt Nam trở thành "con hổ" châu Á mới như Hàn Quốc, Singapore, thu nhập bình quân vượt 14.300 USD - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam hướng tới trở thành nước phát triển phát triển thu nhập cao. Theo TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, đổi mới sáng tạo là chìa khóa quan trọng để hiện thực hóa khát vọng này.

Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế – Paul Krugman khẳng định rằng, năng suất lao động là yếu tố cốt lõi quyết định đến sự thành công của mọi nền kinh tế trong dài hạn. Đối với Việt Nam, việc nâng cao năng suất lao động thông qua chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là chìa khóa vàng để thoát khỏi "bẫy thu nhập trung bình", hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển vào năm 2045, với mức thu nhập trên 14.375 USD/người theo đánh giá mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB).

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhiệm kỳ 2020 – 2024 từng nhận định: “Việt Nam sẽ cần những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế để có thể đạt được tham vọng trở thành một nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045 và đổi mới sáng tạo sẽ là nền tảng cơ bản trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng tăng trưởng”.

Nhìn vào kinh nghiệm của các con hổ châu Á như Hàn Quốc hay Singapore, có thể thấy rằng, sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chính sách hỗ trợ mạnh mẽ đã biến các quốc gia này thành con hổ châu Á, trở thành các nước phát triển, thu nhập cao. Cả hai nước này đã xây dựng các chiến lược dài hạn tập trung vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như tối ưu hóa nguồn lực xã hội để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Điều này minh chứng rằng, tiếp tục phát huy vai trò của công nghệ và đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể sớm trở thành một con hổ kinh tế mới của châu Á. Thực tế, Việt Nam đã từng bước thực hiện mục tiêu lớn và đạt được những thành quả đáng trân trọng.

Hiện nay, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao các chỉ số đổi mới sáng tạo, tận dụng các thế mạnh của mình nhanh chóng bắt kịp thế giới trong lĩnh vực công nghệ.

Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) công bố, Việt Nam tăng 1 bậc, xếp hạng 43/132 quốc gia và nền kinh tế, đánh dấu bước tiến quan trọng so với năm 2025. Việt Nam cũng duy trì vị trí thứ hai trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, chỉ sau Ấn Độ. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang đi đúng hướng trong hành trình trở thành một nền kinh tế phát triển.

Trong khu vực ASEAN, Việt Nam là một trong những quốc gia thu nhập trung bình đạt nhiều tiến bộ nhất về đổi mới sáng tạo trong thập kỷ qua. Hơn nữa, Việt Nam là một trong ba quốc gia giữ thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong suốt 14 năm liên tiếp. Đây là minh chứng rõ ràng cho những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc phát triển đổi mới sáng tạo, một yếu tố quan trọng giúp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bền vững.

Đâu là rào cản trong sức bật kinh tế của ASEAN và Việt Nam?

https://cafef.vn/dau-la-rao-can-trong-suc-bat-kinh-te-cua-asean-va-viet-nam-188261027141806824.chnTheo Đại Việt – Hà Linh/ VTC News | 27-10-2026 – 15:30 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư

Các chuyên gia quốc tế, lãnh đạo doanh nghiệp đã "mổ xẻ" các rào cản phát triển của ASEAN và Việt Nam tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026.

Ngày 27/10, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM (HCMC C4IR) phối hợp với Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tổ chức phiên thảo luận “Định vị lại Việt Nam và ASEAN trong chuỗi giá trị toàn cầu”.

Phiên thảo luận nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 , tập trung phân tích những rào cản khiến ASEAN chưa khai thác hết lợi thế thu hút đầu tư và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực sản xuất khu vực.

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tổ chức tại TP.HCM. (Ảnh: Hùng Triều)

Ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận định, ASEAN có thị trường gần 700 triệu dân, quy mô kinh tế khoảng 4.000 tỷ USD và mức độ hội nhập thương mại cao. Tuy nhiên, trong tổng kim ngạch thương mại khoảng 3.000 tỷ USD mỗi năm, thương mại giữa các nước thành viên chỉ chiếm khoảng 22%, thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 60% của Liên minh châu Âu (EU).

Ông Sacha Dray đánh giá, mức độ tham gia chuỗi giá trị khu vực chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ASEAN, trong khi tỷ lệ tương ứng tại EU là khoảng 70%. Điều này cho thấy sản xuất của ASEAN còn phụ thuộc lớn vào thị trường và mạng lưới cung ứng bên ngoài, khiến khu vực dễ chịu tác động từ biến động thương mại quốc tế.

“Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nhà xuất khẩu lớn chưa tạo được sự lan tỏa tương xứng đến mạng lưới nhà cung ứng nội địa. Vì vậy, cùng với thu hút đầu tư, khu vực ASEAN cần tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các công đoạn sản xuất để giữ lại nhiều giá trị hơn”, ông Sacha Dray nói.

Theo chuyên gia của Ngân hàng thế giới, ASEAN cần phát triển mạng lưới nhà cung ứng, tháo gỡ rào cản phi thuế quan, hài hòa tiêu chuẩn và đơn giản hóa thủ tục thương mại xuyên biên giới.

Ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới. (Ảnh: Hùng Triều)

Bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) đề xuất, ở cấp độ khu vực, cần hình thành các cụm công nghiệp xuyên biên giới ASEAN trong những ngành như điện tử, bán dẫn, ô tô và năng lượng sạch.

Thay vì mỗi quốc gia phát triển một chuỗi sản xuất khép kín, các nước có thể phân công sản xuất theo lợi thế về nguyên liệu, linh kiện, lắp ráp và logistics. Cách làm này giúp tăng liên kết nội khối, thu hút đầu tư và giảm rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.

Ở cấp quốc gia, bà Mai đề xuất, cần xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng và nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực sản xuất.

Các đại biểu chăm chú lắng nghe. (Ảnh: Hùng Triều)

Bà Nguyễn Thụy Lam Tuyền, Tổng Giám đốc ABB tại Việt Nam chia sẻ, sức hấp dẫn của ASEAN đối với nhà đầu tư không chỉ đến từ quy mô thị trường mà còn từ năng lực sản xuất tiên tiến, nguồn nhân lực kỹ thuật và khả năng kết nối khu vực. Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia đang chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí lao động thấp sang đầu tư công nghệ, số hóa và tự động hóa. Mỗi quốc gia có lợi thế riêng, nhưng khả năng bổ trợ và liên kết sản xuất mới tạo nên sức cạnh tranh chung.

Theo bà Tuyền, nhà máy có thể di dời, công nghệ có thể mua, nhưng năng lực sản xuất và quản trị không thể hình thành trong thời gian ngắn.

Bà Tuyền cho rằng, giá trị của dòng vốn FDI không chỉ nằm ở thiết bị hay quy mô đầu tư mà còn ở khả năng chuyển giao kinh nghiệm quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển đội ngũ kỹ thuật. Đây là nền tảng giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của chuỗi cung ứng quốc tế.

Cùng với năng lực quản trị, công nghệ cũng đang mở ra nhiều cơ hội cải thiện vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Các chuyên gia mổ xẻ nhiều vấn đề quan trọng của Việt Nam và khu vực ASEAN. (Ảnh: Hùng Triều)

Tiến sĩ Cấn Văn Lực nhận định, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia nhận định, để Việt Nam gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu thì việc thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế cũng vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang gặp nhiều thách thức trong việc huy động nguồn lực này.

Theo ông Lực, thị trường vốn của Việt Nam vẫn chưa phát huy đúng vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn suốt 3 thập niên qua. Hạ tầng tài chính còn hạn chế về chuẩn mực báo cáo quốc tế, xếp hạng tín nhiệm và hạ tầng dữ liệu số chưa tốt.

Cũng theo ông Lực, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam còn thấp. Cụ thể, trung bình 5 năm qua, hệ số ICOR của nước ta luôn hơn 6 lần, dù đang nỗ lực giảm xuống 4,5 lần. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn so với các nước khác trong giai đoạn tăng trưởng đỉnh cao (ICOR từ 3-4 lần).

Từ dân số vàng đến lực lượng lao động vàng: Khía cạnh con người trong tầm nhìn AI c ủa Việt Nam

https://cafef.vn/tu-dan-so-vang-den-luc-luong-lao-dong-vang-khia-canh-con-nguoi-trong-tam-nhin-ai-cua-viet-nam-188261027145525706.chnMinh Ngọc | 27-10-2026 – 14:55 PM | Kinh tế vĩ mô – Đầu tư
Từ dân số vàng đến lực lượng lao động vàng: Khía cạnh con người trong tầm nhìn AI của Việt Nam

Trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam được kỳ vọng sẽ ngày càng tận dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thúc đẩy năng suất và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ, phát triển kỹ năng và năng lực quản lý để khai thác hiệu quả AI đang trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình phát triển lực lượng lao động của quốc gia.

Một nghiên cứu năm 2026 do Amazon Web Services (AWS) ủy quyền cho thấy 26% doanh nghiệp Việt Nam đã ứng dụng AI, tăng so với mức 18% của năm trước. Tuy nhiên, 61% doanh nghiệp đã ứng dụng AI vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong khi 87% nhà tuyển dụng tham gia khảo sát cho rằng việc đào tạo lại kỹ năng cho nhân viên hiện tại là yếu tố quan trọng trong chiến lược AI của doanh nghiệp.

Việt Nam cũng ưu tiên phát triển nguồn nhân lực thông qua Chương trình quốc gia phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo, được phê duyệt vào tháng 8 năm 2026. Chương trình đặt mục tiêu trang bị kỹ năng AI cơ bản cho khoảng 10 triệu người lao động vào năm 2030, đồng thời phát triển nguồn nhân lực AI chuyên sâu và tăng cường giáo dục về AI.

Từ dân số vàng đến lực lượng lao động vàng: Khía cạnh con người trong tầm nhìn AI của Việt Nam - Ảnh 1.

Tiến sĩ Tan Hong Ming

Tiến sĩ Tan Hong Ming, Trợ lý hiệu trưởng phụ trách Vận hành số tại Trường Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS Business School), cho rằng phát triển lực lượng lao động cần vượt ra ngoài phạm vi trang bị năng lực kỹ thuật.

"Hiểu biết về AI mới chỉ là điểm khởi đầu. Thách thức lớn hơn là liệu các tổ chức có biết cách tái thiết kế công việc xoay quanh AI hay không. Một doanh nghiệp có thể đào tạo tất cả nhân viên sử dụng các công cụ AI nhưng vẫn không đạt được nhiều cải thiện về năng suất nếu các quy trình và phương thức quản lý không thay đổi. Đây là lý do năng lực lãnh đạo cũng quan trọng không kém các kỹ năng kỹ thuật", Tiến sĩ Tan chia sẻ tại buổi gặp gỡ báo chí ở Hà Nội.

Từ ứng dụng AI đến tạo ra giá trị kinh doanh

Khi các công cụ AI ngày càng dễ tiếp cận, doanh nghiệp phải quyết định nên ứng dụng công nghệ này vào những lĩnh vực nào, các quy trình làm việc hiện tại cần được điều chỉnh ra sao và nhân viên cần học thêm những gì.

Theo Tiến sĩ Tan, mặc dù AI có thể nâng cao năng suất thông qua tự động hóa các tác vụ, các tổ chức cũng cần xem xét việc AI ngày càng được sử dụng rộng rãi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình học hỏi và phát triển chuyên môn của nhân viên.

"Quá trình vượt qua khó khăn là một phần quan trọng của việc học. Chúng ta phát triển chuyên môn và khả năng phán đoán thông qua việc giải quyết những vấn đề khó, mắc sai lầm và tự tìm ra lời giải. AI hiện có thể loại bỏ phần lớn những khó khăn đó bằng cách đưa ra câu trả lời gần như ngay lập tức. Mặc dù điều này giúp nâng cao năng suất, chúng ta cần thận trọng để không vô tình loại bỏ những trải nghiệm giúp con người học hỏi và trưởng thành. Các tổ chức cần suy nghĩ lại về cách nhân viên phát triển những năng lực này trong môi trường làm việc có AI hỗ trợ", ông cho biết.

Bên cạnh việc nâng cao hiểu biết về AI, các tổ chức cần xem xét cách nhân viên đánh giá thông tin do AI tạo ra, cách các nhà quản lý tích hợp công nghệ vào quy trình làm việc và cách lãnh đạo cấp cao giám sát việc sử dụng AI trong các quyết định kinh doanh.

Đổi mới cách thức đào tạo và phát triển năng lực chuyên môn

Việc AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi cũng đặt ra câu hỏi về cách các chuyên gia tích lũy kinh nghiệm và phát triển khả năng phán đoán cần thiết để đảm nhận những trách nhiệm phức tạp hơn.

Mặc dù AI có thể hỗ trợ tạo ra thông tin và đề xuất, việc học cách đưa ra quyết định kinh doanh vẫn đòi hỏi người học có cơ hội chất vấn các giả định, đánh giá những quan điểm khác nhau và giải quyết vấn đề khi chưa có đầy đủ thông tin.

Trường Kinh doanh NUS đang thí điểm một mô hình mô phỏng kinh doanh ứng dụng AI, cho phép học viên các chương trình Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) và MBA Điều hành (Executive MBA) rèn luyện những năng lực này.

Mô hình sử dụng ScholAIstic, nền tảng AI tạo sinh do Trung tâm Công nghệ Giáo dục AI của NUS (AI Centre for Educational Technologies – AICET) phát triển. Tiến sĩ Emir Hrnjić, Giảng viên cao cấp ngành Tài chính tại Trường Kinh doanh NUS, đang phối hợp với AICET để điều chỉnh và hoàn thiện các tính năng của nền tảng phục vụ đào tạo quản trị. Theo đó, các nhân vật lãnh đạo doanh nghiệp được mô phỏng bằng AI sẽ tham gia phỏng vấn với học viên trước khi học viên đưa ra các khuyến nghị kinh doanh. Vui lòng xem Phụ lục A để biết thêm chi tiết.

Giáo sư Teo Chung Piaw, Hiệu trưởng Trường Kinh doanh NUS, cho rằng năng lực ngày càng phát triển của AI đòi hỏi các trường kinh doanh phải xem xét không chỉ nội dung sinh viên cần học mà còn cả cách họ tiếp thu và vận dụng kiến thức.

"Vai trò của giáo dục kinh doanh đang thay đổi khi AI trở thành một phần trong cách các tổ chức vận hành và ra quyết định. Chúng ta không thể chỉ đơn giản đưa công nghệ mới vào các phương pháp giảng dạy hiện có và cho rằng việc học sẽ được cải thiện. Các trường kinh doanh cần xem xét sinh viên nên học gì, cách họ tiếp thu kiến thức và cách đánh giá năng lực vận dụng kiến thức đó. Cách tiếp cận của chúng tôi là sử dụng AI để tạo thêm cơ hội cho sinh viên tư duy phản biện, tiếp cận các quan điểm khác nhau và rèn luyện khả năng phán đoán độc lập", Giáo sư Teo chia sẻ.

Bên cạnh việc chuẩn bị cho sinh viên tốt nghiệp bước vào thị trường lao động, các chương trình sau đại học và đào tạo điều hành (Executive Education) còn tạo cơ hội để người đi làm và các nhà lãnh đạo cấp cao cập nhật kiến thức, phát triển năng lực cần thiết nhằm quản lý những thay đổi về công nghệ và tổ chức.

Bà Trần Thị Quỳnh Trang, Giám đốc quốc gia tại PYI Capital, học viên chương trình EMBA khóa 2026 của Trường Kinh doanh NUS, chia sẻ: "AI mở ra những cơ hội to lớn giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng ra quyết định, tái định hình các mô hình kinh doanh truyền thống và khai phá những động lực tăng trưởng mới, đặc biệt tại các thị trường mới nổi như Việt Nam. Chương trình EMBA tại NUS đã giúp tôi mở rộng tư duy chiến lược, đồng thời củng cố sự tự tin trong việc ứng dụng AI như một công cụ thúc đẩy chuyển đổi kinh doanh. Quan trọng hơn, chương trình càng củng cố niềm tin của tôi rằng tương lai thuộc về những nhà lãnh đạo biết khai thác hiệu quả công nghệ, đồng thời kết hợp khả năng phán đoán của con người, tư duy thích ứng và sự am hiểu sâu sắc về kinh doanh để chuyển hóa đổi mới sáng tạo thành giá trị bền vững trong dài hạn."

Đồng quan điểm, bà Phạm Kiều Oanh, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Fortune Media, cựu học viên chương trình MBA của NUS, cho biết: "Một trong những giá trị lớn nhất tôi nhận được từ chương trình MBA tại NUS là khả năng tiếp cận các thách thức kinh doanh từ nhiều góc độ khác nhau. Khi AI đang làm thay đổi cách thức vận hành của các tổ chức, năng lực đặt câu hỏi phản biện đối với những giả định sẵn có, đánh giá thông tin và đưa ra nhận định sáng suốt càng trở nên quan trọng. Đây là những năng lực không phụ thuộc vào bất kỳ công nghệ cụ thể nào và vẫn giữ vai trò thiết yếu đối với các nhà lãnh đạo trong việc định hướng doanh nghiệp giữa môi trường kinh doanh đầy bất định."

Xây dựng lực lượng lao động vàng của Việt Nam

Tầm nhìn Việt Nam 2045 tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của năng suất, đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Khi AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi, giáo dục đại học và đào tạo chuyên môn có thể đóng góp vào mục tiêu này bằng cách trang bị cho sinh viên tốt nghiệp, các nhà quản lý và lãnh đạo cấp cao năng lực cần thiết để ứng dụng công nghệ hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

Theo Tiến sĩ Tan, lợi thế về nhân khẩu học tạo cho Việt Nam nền tảng quan trọng để phát triển những năng lực này trong suốt quá trình làm việc và học tập của mỗi người.

"Lợi thế nhân khẩu học mang lại cho Việt Nam một cơ hội quan trọng, nhưng lực lượng lao động trẻ tự thân không bảo đảm thành công về kinh tế. Cơ hội thực sự nằm ở việc phát triển một lực lượng lao động có khả năng liên tục học hỏi, thích ứng và tạo ra giá trị cùng với AI. Nếu Việt Nam có thể kết hợp nguồn vốn con người với việc ứng dụng AI hiệu quả, đất nước có thể chuyển hóa lợi thế dân số vàng thành lực lượng lao động vàng", ông chia sẻ.

Trăm triệu cổ phiếu sắp lên sàn HoSE

https://cafef.vn/tram-trieu-co-phieu-sap-len-san-hose-188261025090854523.chnTheo Duy Quang | 25-10-2026 – 11:08 AM | Thị trường chứng khoán

HoSE chấp thuận niêm yết 111.418.000 cổ phiếu của Công ty CP DatViet VAC Group Holdings với mức giá tham chiếu dự kiến 54.800 đồng/cổ phiếu, Công ty CP Helio Energy cũng đưa 42 triệu cổ phiếu lên giao dịch sàn HoSE từ ngày 16/11 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu.

Thêm 2 tân binh

Tuần qua, VN-Index tăng 68,24 điểm lên 1.774,15 điểm, chấm dứt 4 tuần giảm liên tiếp trước đó. Khối lượng khớp lệnh bình quân trên sàn HoSE đạt 718 triệu cổ phiếu/phiên, giá trị giao dịch bình quân đạt 15.865 tỷ đồng/phiên. Tương tự, HNX-Index cũng tăng 3,57 điểm lên 262,7 điểm.

Trên sàn HoSE, nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng 52,7 triệu đơn vị, giá trị bán ròng hơn 968 tỷ đồng. Với sàn HNX, khối ngoại đã bán ròng 9,3 triệu đơn vị, giá trị bán ròng hơn 106 tỷ đồng.

Trên thị trường UPCoM, khối ngoại bán ròng 1,73 triệu đơn vị, giá trị bán ròng hơn 30 tỷ đồng. Như vậy, tuần giao dịch từ ngày 19 – 23/10 trên toàn thị trường, khối ngoại đã bán ròng hơn 63,7 triệu đơn vị, tổng giá trị bán ròng tương ứng hơn 1.105 tỷ đồng.

Trăm triệu cổ phiếu sắp lên sàn HoSE- Ảnh 1.

DatViet VAC Group Holdings sẽ niêm yết 111.418.000 cổ phiếu trên sàn HoSE.

Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HoSE) chấp thuận niêm yết 111.418.000 cổ phiếu của Công ty CP DatViet VAC Group Holdings trên sàn HoSE. Với mức giá tham chiếu dự kiến 54.800 đồng/cổ phiếu, doanh nghiệp có quy mô vốn hóa ước tính hơn 6.100 tỷ đồng

Theo kế hoạch của doanh nghiệp, cổ phiếu chính thức giao dịch trên HoSE vào ngày 2/11. Mức giá tham chiếu dự kiến cho phiên giao dịch đầu tiên tương đương giá chào bán trong đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vừa qua.

Trước đó, DatVietVAC đã hoàn tất đợt IPO với tổng lượng cổ phiếu đăng ký mua đạt hơn 106% khối lượng chào bán. Nguồn vốn huy động dự kiến được phân bổ chủ yếu cho các đơn vị thành viên, trong đó khoảng 528 tỷ đồng dành cho DatViet VAC Media và hơn 36 tỷ đồng cho DatViet VAC Entertainment, nhằm bổ sung nguồn lực phát triển các hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Năm 2026, DatVietVAC đặt kế hoạch doanh thu 3.382 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 420 tỷ đồng, tương ứng mức tăng trưởng lần lượt khoảng 6% và 11% so với năm trước.

Tương tự, Công ty CP Helio Energy (mã chứng khoán: HIO) dự kiến đưa 42 triệu cổ phiếu lên giao dịch HoSE từ ngày 16/11, sau khi được chấp thuận niêm yết và hoàn tất thủ tục hủy đăng ký giao dịch trên UPCoM.

Trước đó, ngày 19/10, HoSE đã chấp thuận niêm yết 42 triệu cổ phiếu HIO, với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 420 tỷ đồng. Mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đồng/cổ phiếu.

Giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên trên HOSE được xác định bằng bình quân giá tham chiếu của ít nhất 30 phiên giao dịch gần nhất trước khi cổ phiếu HIO bị hủy đăng ký giao dịch trên UPCoM.

Helio Energy tiền thân là Công ty TNHH Alpha Solar 1, thành lập năm 2020 với vốn điều lệ ban đầu 10 tỷ đồng. Sau quá trình tăng vốn, doanh nghiệp hiện có vốn điều lệ 420 tỷ đồng.

Trong 6 tháng đầu năm nay, Helio Energy ghi nhận doanh thu 114,3 tỷ đồng (tăng 91% so với cùng kỳ năm trước), lợi nhuận sau thuế hơn 108 tỷ đồng (tăng 955%).

SmartInvest thêm cổ đông lớn

Công ty CP Quản lý quỹ HD (HD Capital) trở thành cổ đông lớn của Công ty CP Chứng khoán SmartInvest (mã chứng khoán: AAS), khi nắm giữ từ 5% cổ phiếu trở lên. Theo đó, HD Capital đã mua vào hơn 14 triệu cổ phiếu AAS.

Trăm triệu cổ phiếu sắp lên sàn HoSE- Ảnh 2.

Kế toán trưởng LDG đăng ký bán toàn bộ 950.300 cổ phiếu.

Bà Lê Thị Phương Uyên – Kế toán trưởng Công ty CP Đầu tư LDG (mã chứng khoán: LDG) đăng ký bán toàn bộ 950.300 cổ phiếu LDG để giảm sở hữu về 0 vốn. Giao dịch dự kiến thực hiện từ ngày 28/10-26/11. Về cổ phiếu, từ ngày 9/4-22/10, cổ phiếu LDG giảm 34%, từ 3.700 đồng về 2.440 đồng/cổ phiếu.

Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (mã chứng khoán: HBC) nhận được đơn từ nhiệm vị trí thành viên Hội đồng quản trị kiêm phó tổng giám đốc của ông Nguyễn Kinh Luân. Theo đó, HBC sẽ miễn nhiệm ông Luân thôi chức vụ Phó tổng giám đốc kể từ ngày 1/11 và sẽ miễn nhiệm vị trí thành viên Hội đồng quản trị kể từ khi đại hội cổ đông gần nhất thông qua.

Trước đó, Xây dựng Hòa Bình bổ nhiệm ông Nguyễn Công Thiện vào vị trí phó tổng giám đốc từ ngày 23/9.

Giám đốc Phân tích SSI dự báo kịch bản 10 tỷ USD chảy vào chứng khoán Việt nam

https://cafef.vn/giam-doc-phan-tich-ssi-du-bao-kich-ban-10-ty-usd-chay-vao-chung-khoan-viet-nam-188261024225619134.chnMai Chi | 26-10-2026 – 00:03 AM | Thị trường chứng khoán
Giám đốc Phân tích SSI dự báo kịch bản 10 tỷ USD chảy vào chứng khoán Việt nam

Nếu Việt Nam chiếm tỷ trọng 0,5%, dòng vốn tiềm năng vào chứng khoán có thể đạt khoảng 10 tỷ USD. Đây là mức tỷ trọng giả định tương đối thấp; tỷ trọng thực tế có thể cao hơn vào thời điểm đó.

Chia sẻ về tiến trình nâng hạng MSCI tại chương trình "Café Chứng", ông Phạm Lưu Hưng, Giám đốc Phân tích SSI Research cho rằng bài học từ Indonesia cho thấy MSCI coi trọng việc thực thi thực tế hơn những chính sách mới dừng ở khâu ban hành hoặc cam kết. Vì vậy, điều quan trọng với Việt Nam không phải trông chờ dòng tiền rút khỏi Indonesia dịch chuyển sang, mà là tháo gỡ các điểm nghẽn để đáp ứng tiêu chí nâng hạng.

Nhiều điểm nghẽn đang dần được tháo gỡ

Một số chuyển biến tích cực đã xuất hiện ở vấn đề tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free-float). Petrolimex (PLX) đã giải quyết được một phần vấn đề, trong khi BSR và một số doanh nghiệp thuộc khối PVN có kế hoạch cụ thể hơn cho năm 2027. Với doanh nghiệp tư nhân, tỷ lệ free-float của Masan High-Tech Materials (MSR) cũng tăng lên sau khi Masan thoái vốn một phần.

Ở khía cạnh sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu nước ngoài hiệu dụng của thị trường Việt Nam đang cải thiện qua từng năm, một phần nhờ ngày càng có nhiều cổ phiếu được niêm yết với tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức tối đa. Việc rà soát ngành nghề kinh doanh để xác định lại giới hạn sở hữu nước ngoài tại một số doanh nghiệp cũng đang được tiến hành.

Theo ước tính của ông Hưng, nhóm doanh nghiệp phải hạ tỷ lệ sở hữu nước ngoài xuống 0% để phục vụ quá trình rà soát, phân loại ngành nghề có tổng vốn hóa khoảng 2-3% toàn thị trường. Trong đó, chỉ khoảng 1-2 doanh nghiệp lớn nằm trong tầm ngắm của các quỹ chỉ số. Do đó, đây không phải trở ngại quá lớn và có thể được xử lý trong thời gian tương đối ngắn.

Dù các vấn đề về free-float và sở hữu nước ngoài đang có chuyển biến, cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) vẫn cần được triển khai rõ ràng hơn để MSCI có cơ sở đánh giá.

Theo ông Hưng, các thông tư hướng dẫn đã có, tạo tiền đề cho hoạt động kiểm thử và xây dựng mô hình triển khai. CCP có thể được triển khai trong quý I/2027 hoặc chậm nhất là quý II/2027, theo các mốc thời gian được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề cập.

Nếu các thay đổi được thực hiện đúng tiến độ, triển vọng nâng hạng có thể rõ ràng hơn vào cuối quý I hoặc đầu quý II/2027, khi nhà đầu tư nước ngoài có thêm cơ sở đánh giá khả năng tăng trưởng và cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

MSCI có thể nâng hạng chứng khoán Việt Nam vào 2029, 10 tỷ USD chờ "đổ bộ"

Trên cơ sở tiến độ cải cách, ông Hưng đưa ra hai kịch bản. Trong kịch bản cơ sở, Việt Nam có thể được đưa vào diện xem xét nâng hạng năm 2028 và chính thức nâng hạng năm 2029. Nếu CCP được triển khai ngay trong những tháng đầu năm 2027, đủ thời gian để MSCI đánh giá và đưa Việt Nam vào diện xem xét từ năm 2026, lộ trình có thể sớm hơn một năm với khả năng nâng hạng vào năm 2028.

Bên cạnh thời điểm nâng hạng, quy mô dòng vốn cũng là yếu tố đáng chú ý. Ông Hưng ước tính tổng tài sản được quản lý của các quỹ theo dõi chỉ số MSCI tại thời điểm Việt Nam được nâng hạng có thể vượt 2.000 tỷ USD. Nếu Việt Nam chiếm tỷ trọng 0,5%, dòng vốn tiềm năng có thể đạt khoảng 10 tỷ USD. Đây là mức tỷ trọng giả định tương đối thấp; tỷ trọng thực tế có thể cao hơn vào thời điểm đó.

Giá trị giao dịch bình quân ngày của thị trường có thể tăng lên mức vài tỷ USD, dòng vốn 10 tỷ USD có thể chảy vào thị trường. Dù vậy, MSCI có thể phải chia quá trình phân bổ vốn thành nhiều đợt, tương tự cách FTSE triển khai với Việt Nam.

Trong kịch bản cơ sở, quá trình giải ngân có thể kéo dài thêm 6-12 tháng sau khi nâng hạng, đưa thời điểm hoàn tất vào khoảng năm 2030. Với kịch bản tích cực, Việt Nam có thể nâng hạng năm 2028 và dòng vốn hoàn tất giải ngân vào khoảng năm 2029.

Theo ông Hưng, MSCI có quy mô lớn hơn đáng kể so với FTSE và phần lớn các quỹ chỉ số toàn cầu lớn theo dõi các bộ chỉ số MSCI. Vì vậy, việc nâng hạng không chỉ mở ra khả năng thu hút dòng vốn thụ động mà còn có thể thúc đẩy quá trình tổ chức hóa thị trường chứng khoán Việt Nam.

Cùng với dòng vốn quốc tế, sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức trong nước cũng có thể gia tăng trong 1-2 năm tới. Các tổ chức như SCIC có thể tham gia tích cực hơn; những thay đổi chính sách trong tương lai cũng có thể mở rộng sự tham gia của các quỹ nội địa, trong đó có các quỹ liên quan đến bảo hiểm xã hội.

Sự kết hợp giữa dòng vốn quốc tế và lực lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước sẽ góp phần mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tạo thêm động lực cho thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển.

Tỷ lệ margin trên quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán lập kỷ lục mới, điều gì đa ng diễn ra?

https://cafef.vn/ty-le-margin-tren-quy-mo-von-hoa-thi-truong-chung-khoan-lap-ky-luc-moi-dieu-gi-dang-dien-ra-188261025234720476.chnAn Thái | 26-10-2026 – 00:02 AM | Thị trường chứng khoán
Tỷ lệ margin trên quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán lập kỷ lục mới, điều gì đang diễn ra?

Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay tại các CTCK so với vốn hóa hai sàn xấp xỉ 5,1%, mức cao nhất trong lịch sử.

Theo số liệu thống kê, tổng dư nợ cho vay tại các công ty chứng khoán, bao gồm cho vay ký quỹ (margin) và ứng trước tiền bán, ước đạt khoảng 455.000 tỷ đồng vào cuối quý 3/2026, tăng 10.000 tỷ đồng so với cuối quý trước và là mức cao nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam.

Trong khi đó, tổng vốn hóa cổ phiếu niêm yết trên hai sàn HoSE và HNX tại thời điểm 30/9/2026 đạt khoảng 9 triệu tỷ đồng, giảm gần 248.000 tỷ đồng so với cuối quý 2. T ỷ lệ tổng dư nợ cho vay tại các CTCK so với vốn hóa hai sàn xấp xỉ 5,1%, mức cao nhất trong lịch sử.

Nếu nhìn xa hơn, tỷ lệ này chỉ ở mức 1,5% vào cuối năm 2017 và khoảng 3,1% tại cuối năm 2021, thời điểm thị trường chứng khoán trải qua một trong những giai đoạn tăng trưởng sôi động nhất.

Việc dư nợ vẫn liên tục tăng trong khi vốn hóa thị trường thu hẹp trong quý 3 vừa qua đã đẩy tỷ lệ margin/vốn hóa thị trường lên đỉnh cao mới 5,1%.

Margin lập kỷ lục nhưng dòng tiền giao dịch ảm đạm

Sử dụng đòn bẩy (margin) là một trong những công cụ đắc lực giúp nhà đầu tư gia tăng nhanh quy mô tài khoản của mình nếu sử dụng hợp lý, đẩy thanh khoản lên mức dồi dào và tạo động lực cho đà đi lên về điểm số của thị trường chung.

Tuy nhiên thực tế hiện tại, quy mô dư nợ cho vay ngày càng lớn lại diễn ra trong bối cảnh hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán không thực sự sôi động. Trong quý 3/2026, VN-Index giảm gần 4,7%. Dòng tiền giao dịch cũng chưa có dấu hiệu phục hồi rõ rệt. Thanh khoản khớp lệnh trên HoSE liên tục duy trì ở mức thấp, tới tháng 9 chỉ bình quân hơn 13.403 tỷ đồng/phiên, giảm tới hơn 60% so với cùng kỳ năm trước.

Diễn biến trái chiều giữa dư nợ margin và thanh khoản thị trường cho thấy hoạt động cho vay tại các CTCK không hoàn toàn đến từ nhu cầu sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư cá nhân. Trên thực tế, một phần dư nợ có thể đến từ các khoản cho vay theo thỏa thuận, thường được gọi là "deal cho vay", phục vụ nhu cầu vốn của các tổ chức, cổ đông lớn hoặc lãnh đạo doanh nghiệp.

Khác với các khoản margin phục vụ giao dịch cổ phiếu thông thường, nguồn vốn này có thể được sử dụng cho những mục đích tài chính khác mà không trực tiếp tạo ra thanh khoản trên sàn. Điều này phần nào lý giải vì sao dư nợ cho vay liên tục lập kỷ lục trong khi hoạt động môi giới tại nhiều CTCK tập trung vào khách hàng cá nhân (như VPS giảm gần 6.000 tỷ dư nợ QoQ) ngày càng trầm lắng, khách hàng ít giao dịch hơn và dòng tiền trên thị trường suy giảm rõ rệt.

Theo ông Bùi Văn Huy, Tổng Giám đốc FIDT, phần lớn dư nợ margin hiện tập trung ở các khoản cho vay theo thỏa thuận riêng, thường gọi là margin "deal", dù dữ liệu công khai chưa cho phép xác định chính xác tỷ trọng. Với những khoản vay này, cổ phiếu không đơn thuần là tài sản đầu tư mà còn bảo đảm cho nghĩa vụ nợ. Khi cổ đông lớn đứng tên vay bằng cổ phiếu cá nhân, khoản nợ về nguyên tắc không xuất hiện trên bảng cân đối kế toán doanh nghiệp niêm yết, trừ trường hợp doanh nghiệp có nghĩa vụ liên quan. Điều này khiến nhà đầu tư khó đánh giá đầy đủ mức độ đòn bẩy gắn với cổ phiếu. Theo ông Huy, nhu cầu vốn có thể dịch chuyển từ kênh trái phiếu sang các cấu trúc tài trợ gắn với cổ phiếu, khiến rủi ro tín dụng không biến mất mà chỉ thay đổi nơi xuất hiện.

Đáng chú ý, sự gia tăng dư nợ cũng không diễn ra đồng đều giữa các CTCK mà chủ yếu tập trung vào nhóm có ngân hàng hậu thuẫn. Với lợi thế về nguồn vốn và khả năng huy động tài chính, các doanh nghiệp này đang chiếm ưu thế trong cuộc đua mở rộng cho vay, đặc biệt đối với những khoản vay có quy mô lớn.

Tính đến cuối quý 3/2026, toàn thị trường ghi nhận 18 CTCK có dư nợ cho vay vượt 10.000 tỷ đồng, trong số này khoảng hai phần ba là những doanh nghiệp có ngân hàng hậu thuẫn hoặc có mối liên hệ đáng kể với các ngân hàng. Trong bối cảnh nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp vẫn lớn, CTCK có thể đáp ứng một số nhu cầu tài chính với cấu trúc và tài sản bảo đảm linh hoạt hơn các khoản tín dụng ngân hàng thông thường.

Dư nợ margin “ cân" áp lực bán ròng từ khối ngoại

Một khía cạnh khác cần nhìn nhận là vai trò của nguồn vốn trong nước khi nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhìn vào diễn biến từng giai đoạn trong quá khứ có thể thấy rõ sự đồng pha giữa 2 dòng vốn này trên TTCK Việt Nam. Số liệu thống kê cho thấy mức độ phình to của dư nợ margin toàn thị trường gần tương đương với giá trị bán ròng luỹ kế của khối ngoại trong khoảng 5 năm trở lại đây, khoảng 350.000 tỷ đồng.

Rõ ràng, margin đã khuếch đại sức mua của nhà đầu tư trong nước, qua đó góp phần không nhỏ “cân” lại lực bán của khối ngoại trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Áp lực cung lớn từ khối ngoại trong thời gian dài đòi hỏi thị trường phải có nguồn lực đối ứng đủ lớn. Trong đó, nguồn vốn tự có của nhà đầu tư trong nước, dòng tiền từ các tổ chức tài chính và phần sức mua được bổ sung thông qua margin đã góp phần hấp thụ lượng cổ phiếu bán ra.

Tuy nhiên, không thể quy toàn bộ phần dư nợ tăng thêm thành dòng tiền trực tiếp mua cổ phiếu từ nhà đầu tư nước ngoài, bởi một phần nguồn vốn có thể nằm trong các khoản vay theo thỏa thuận và không trực tiếp tạo ra giao dịch trên sàn.

Dù vậy, quy mô margin lớn cũng cho thấy vai trò ngày càng đáng kể của nguồn vốn tín dụng trong cấu trúc tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là nguồn lực có thể hỗ trợ sức mua khi thị trường thuận lợi, nhưng đồng thời làm gia tăng mức độ nhạy cảm của hệ thống trước những đợt điều chỉnh giá cổ phiếu. Đặc biệt, với những khoản vay quy mô lớn tập trung vào một số cổ phiếu hoặc nhóm cổ đông, áp lực giảm giá tài sản bảo đảm có thể tạo ra rủi ro lớn hơn so với các khoản margin phân tán thông thường.

Ông Huy chỉ ra một rủi ro đáng lo ngại nhất là hoạt động bán giải chấp khi giá cổ phiếu giảm mạnh và thanh khoản suy yếu. Nếu khoản vay lớn được bảo đảm bằng một mã thanh khoản thấp, việc bán cổ phiếu để thu hồi nợ có thể kéo thị giá xuống sâu hơn, kích hoạt áp lực giải chấp ở những tài khoản khác. Tác động không chỉ dừng ở người vay mà còn lan tới các cổ đông mua cổ phiếu bằng tiền mặt, không sử dụng đòn bẩy. Đáng chú ý, một mã có thể được dùng làm tài sản bảo đảm tại nhiều công ty chứng khoán, khiến rủi ro tập trung trên toàn thị trường khó nhận diện từ từng tổ chức.

Chuyên gia đề xuất cơ chế tổng hợp, công bố định kỳ dư nợ được bảo đảm bằng từng mã cổ phiếu, đồng thời tăng minh bạch hoạt động cầm cố của cổ đông lớn và người nội bộ. Với khoản vay quy mô lớn, cần nghiên cứu phương án giải chấp có trật tự, ưu tiên giao dịch thỏa thuận khi phù hợp để hạn chế nguy cơ gây cú sốc thanh khoản trên sàn.

Góc nhìn chuyên gia: VN-Index đã tạo đáy ngắn hạn nhưng cần lưu ý rủi ro này

https://cafef.vn/goc-nhin-chuyen-gia-vn-index-da-tao-day-ngan-han-nhung-can-luu-y-rui-ro-nay-188261025165203658.chnNgọc Ly | 25-10-2026 – 17:11 PM | Thị trường chứng khoán
Góc nhìn chuyên gia: VN-Index đã tạo đáy ngắn hạn nhưng cần lưu ý rủi ro này

Trong bối cảnh VN-Index hồi phục mạnh nhưng các tín hiệu về xu hướng, lãi suất và dòng tiền vẫn còn đan xen, các chuyên gia đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về khả năng tạo đáy cũng như chiến lược phù hợp cho nhà đầu tư ở giai đoạn hiện tại.

Tuần 19-23/10, VN-Index trải qua nhịp biến động mạnh khi chịu áp lực giảm sâu trong hai phiên đầu tuần, có thời điểm lùi về vùng 1.670 điểm. Tuy nhiên, sau khi nhiều cổ phiếu chiết khấu mạnh, lực cầu quay trở lại và lan tỏa trong các phiên cuối tuần, giúp chỉ số bật tăng rõ rệt. Kết tuần, VN-Index tăng 68,24 điểm, tương đương 4%, lên 1.774,15 điểm.

Giao dịch khối ngoại cũng xuất hiện tín hiệu tích cực khi quay lại mua ròng trong 2 phiên giữa tuần, song lực mua không duy trì đến cuối tuần. Lũy kế 5 phiên, nhà đầu tư nước ngoài vẫn bán ròng khoảng 969 tỷ đồng.

Trong bối cảnh VN-Index hồi phục mạnh nhưng các tín hiệu về xu hướng, lãi suất và dòng tiền vẫn còn đan xen, các chuyên gia bắt đầu đưa ra những góc nhìn khác nhau về khả năng tạo đáy cũng như chiến lược phù hợp cho nhà đầu tư ở giai đoạn hiện tại.

Thị trường đã tạo đáy ngắn hạn, song cần lưu ý rủi ro này

Theo quan sát của ông Bùi Văn Huy, Tổng Giám đốc FIDT, thị trường nhiều khả năng đã tạo đáy trong ngắn hạn, dựa trên hai cơ sở chính.

Thứ nhất, thị trường đã xuất hiện thông tin hỗ trợ đủ mạnh và phản ứng khá rõ với thông tin này. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng, ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời không chạy đua tăng lãi suất huy động. Lãi suất cho vay cũng được yêu cầu giảm 1,5-2%/năm đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Theo ông Huy, chỉ trong vài ngày, hàng loạt ngân hàng lớn đã công bố giảm lãi suất, trong khi VN-Index phản ứng gần như ngay lập tức bằng chuỗi phiên tăng liên tiếp. Chỉ số khép tuần tại 1.774 điểm, tăng khoảng 4% và chấm dứt chuỗi 4 tuần giảm trước đó. Diễn biến này cho thấy nhà đầu tư vẫn rất nhạy cảm với yếu tố lãi suất, đồng thời các biện pháp điều tiết của cơ quan quản lý đã tạo được điểm tựa tâm lý cho thị trường.

Cơ sở thứ hai nằm ở mặt bằng định giá. Ông Huy cho rằng nếu nhìn P/E chung của VN-Index, thị trường chưa thực sự rẻ, song mức định giá này đang bị nhóm Vingroup kéo lên đáng kể. Nếu loại nhóm này ra, P/E của thị trường chỉ còn dưới 10 lần hoặc quanh 10 lần, tùy thời điểm tính toán.

Tổng Giám đốc FIDT cho biết, đây là vùng định giá thấp so với lịch sử và thấp hơn đáng kể so với nhiều thị trường trong khu vực. Khi mức chiết khấu đã đủ sâu, dư địa giảm mạnh thêm không còn lớn và chỉ cần xuất hiện một chất xúc tác như lãi suất, dòng tiền bắt đáy có thể quay trở lại.

Từ hai yếu tố trên, ông Huy cho rằng VN-Index đã hình thành đáy ngắn hạn. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý đáy này vẫn chưa thực sự bền vững khi thị trường còn đối mặt với hai nhóm rủi ro lớn.

Ở bên ngoài, tình hình thế giới tiếp tục khó lường và áp lực lạm phát toàn cầu chưa hạ nhiệt. Khả năng Fed tiếp tục duy trì lãi suất cao, thậm chí tăng lãi suất vào cuối năm, có thể tạo sức ép lên đồng USD, tỷ giá trong nước và dòng vốn ngoại. Theo ông Huy, việc khối ngoại vẫn bán ròng ngay trong tuần thị trường tăng mạnh là một tín hiệu cần lưu ý.

Trong nước, lạm phát cũng vẫn ở mức cao. CPI tháng 9 tăng hơn 5% so với cùng kỳ, trong khi bình quân 9 tháng tăng hơn 4,5%. Trong bối cảnh này, ông Huy cho rằng nỗ lực kìm lãi suất bằng các biện pháp điều hành có thể chỉ phát huy tác dụng trong ngắn hạn, bởi về bản chất, lãi suất là giá của tiền và khó có thể đi ngược kéo dài với diễn biến lạm phát cũng như cung – cầu vốn.

Về chiến lược đầu tư trong quý 4, ông Huy đề xuất hai nguyên tắc chính. Thứ nhất là canh mua khi thị trường điều chỉnh, không vội vàng. Theo ông, nếu đáy đã hình thành thì nhiều khả năng đây sẽ là một vùng đáy phẳng, thanh khoản thấp và có thể kéo dài vài tháng. Trong bối cảnh đó, việc mua đuổi các cổ phiếu trụ vừa tăng nóng tiềm ẩn rủi ro lớn, bởi chỉ cần dòng tiền rút khỏi nhóm này, chỉ số có thể điều chỉnh nhanh.

Nhà đầu tư vì vậy nên kiên nhẫn chờ các nhịp rung lắc để giải ngân từng phần, duy trì tỷ trọng tiền mặt hợp lý và hạn chế sử dụng margin. Những doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, lợi nhuận tăng trưởng rõ ràng và định giá hợp lý nên được ưu tiên.

Nguyên tắc thứ hai là tập trung vào các ngành trọng điểm, có tính lan tỏa cao. Theo ông Huy, chủ trương hiện nay đang hướng dòng vốn vào những lĩnh vực ưu tiên, thể hiện ngay trong các chỉ đạo liên quan đến lãi suất, đồng thời tín dụng vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và các nhóm khách hàng có dư nợ lớn sẽ được kiểm soát chặt hơn.

Khi dòng vốn được định hướng theo cách này, các doanh nghiệp nằm trong nhóm ưu tiên sẽ có lợi thế hơn về chi phí vốn, khả năng tiếp cận tín dụng và cơ hội tăng trưởng. Theo đó, ông Huy cho rằng nhà đầu tư có thể chú ý đến các nhóm hưởng lợi từ hạ tầng, đầu tư công và các dự án trọng điểm quốc gia; công nghệ và chuyển đổi số; năng lượng và chuyển đổi xanh; cùng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh được hưởng lợi trực tiếp từ các gói vay ưu đãi.

Nhà đầu tư nên tập trung vào doanh nghiệp tăng trưởng thực chất, thay vì săn cổ phiếu giảm sâu

Theo bà Nguyễn Thị Bình Minh, Giám đốc Trung tâm Kinh doanh CTCP Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam, một điểm đáng chú ý của thị trường hiện nay là sự trái chiều giữa diễn biến giá cổ phiếu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong khi lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp niêm yết tiếp tục cải thiện. Tính đến ngày 25/10/2026, thống kê cho thấy 513 doanh nghiệp đã công bố báo cáo tài chính quý 3, tương đương 19,2% vốn hóa thị trường, với tổng doanh thu hơn 316.686 tỷ đồng, tăng 27% và lợi nhuận hơn 48.236 tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ.

Theo bà Minh, việc lợi nhuận doanh nghiệp vẫn tăng nhưng giá cổ phiếu giảm không phải là mâu thuẫn. Thị trường chứng khoán không chỉ phản ánh lợi nhuận hiện tại mà còn chiết khấu kỳ vọng tương lai. Trong năm 2026, các yếu tố như căng thẳng địa chính trị, giá năng lượng, lợi suất trái phiếu dài hạn cao và nhu cầu vốn lớn cho hạ tầng, công nghệ, AI đã làm tăng mức độ bất định. Tại Việt Nam, mặt bằng lãi suất cao hơn cũng khiến chi phí tài chính tăng và nhà đầu tư yêu cầu mức sinh lời cao hơn.

Mặt bằng định giá vì vậy đang trở thành một yếu tố đáng chú ý. Theo dữ liệu MoneyGain được bà Minh dẫn lại, P/E của VN-Index tại ngày 23/10/2026 ở khoảng 12,3 lần. Nếu loại nhóm Vingroup, P/E còn khoảng 10,3 lần. Bà lưu ý đây là mức khá thấp nếu đặt trong bối cảnh tăng trưởng lợi nhuận vẫn được duy trì, nhưng đồng thời nhấn mạnh P/E thấp không phải công thức để dự báo đáy thị trường.

Ở góc độ ngành, ngân hàng hiện có P/E quanh 8 lần, bán lẻ gần 13 lần và dầu khí khoảng 8-9 lần. Các nhóm dịch vụ tài chính, xây dựng và vật liệu, hóa chất cũng đang được giao dịch thấp hơn vùng bình quân lịch sử. "Tuy nhiên, định giá thấp chỉ tạo ra cơ hội để nghiên cứu, chứ không bảo đảm giá cổ phiếu sẽ tăng. Điều cần tập trung vẫn là doanh nghiệp có lợi nhuận tiếp tục tăng, hiệu quả sử dụng vốn tốt, dòng tiền lành mạnh và mức định giá chưa phản ánh đầy đủ triển vọng", chuyên gia MASVN nhấn mạnh.

Một tín hiệu khác được bà Minh theo dõi là độ rộng thị trường. Tại ngày 23/10, tỷ lệ cổ phiếu nằm trên đường MA50 tăng lên 44,33%, mức cao nhất kể từ tháng 3/2026. Theo bà, điều này cho thấy số lượng cổ phiếu lấy lại xu hướng giá tích cực đang gia tăng, thay vì dòng tiền chỉ tập trung ở một vài mã vốn hóa lớn. Dù tỷ lệ này vẫn chưa vượt 50%, tốc độ cải thiện đã rõ hơn sau giai đoạn suy yếu kéo dài. Để hình thành xu hướng tăng bền vững, thị trường vẫn cần thêm sự xác nhận từ giá, khối lượng giao dịch và sự tham gia của các cổ phiếu dẫn đầu.

Trong mùa báo cáo quý 3, bà Minh cho rằng điều quan trọng không phải tìm những cổ phiếu đã giảm sâu nhất, mà là xác định các doanh nghiệp có tăng trưởng liên tục và khả năng duy trì lợi nhuận trong các quý tới. Hai ví dụ được bà đề cập là Masan và Viglacera. Với MSN, doanh thu quý 3 đạt gần 36.981 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 3.671 tỷ đồng; ROE tăng lên 26,6% và P/E quanh 11 lần tại thời điểm cập nhật. Với VGC, lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ quý 3 đạt gần 464 tỷ đồng, tăng khoảng 402,8% so với cùng kỳ; biên lợi nhuận gộp tăng từ 21,3% lên 31,9%.

Dù vậy, bà Minh nhấn mạnh cơ hội đầu tư không đồng nghĩa có thể xem nhẹ quản trị rủi ro. Theo bà, nhà đầu tư cần kiểm soát tổn thất ở từng giao dịch và đồng thời phân bổ vốn hợp lý, bởi trong những giai đoạn thanh khoản suy giảm mạnh, lệnh bán có thể không được thực hiện ở mức giá mong muốn. Bà cho rằng tỷ trọng tối đa 20-25% danh mục cho một cổ phiếu có thể được sử dụng như một giới hạn tham khảo, nhưng vẫn cần điều chỉnh theo thanh khoản, mức độ rủi ro và khả năng chịu tổn thất của từng nhà đầu tư.

Theo chuyên gia Mirae Asset, việc nhiều doanh nghiệp tiếp tục tăng trưởng lợi nhuận, định giá của một số ngành đã thấp hơn lịch sử và tỷ lệ cổ phiếu trên MA50 cải thiện cho thấy đây là thời điểm nhà đầu tư có thể nghiên cứu cơ hội một cách nghiêm túc hơn. Trọng tâm vẫn là lựa chọn doanh nghiệp có tăng trưởng thực chất, mức định giá và điểm mua phù hợp, đồng thời duy trì kỷ luật bảo vệ vốn.

Chuyên gia chỉ ra loạt nhóm ngành có thể hút dòng tiền trong quý 4

https://cafef.vn/chuyen-gia-chi-ra-loat-nhom-nganh-co-the-hut-dong-tien-trong-quy-4-188261025194205121.chnNgọc Ly | 26-10-2026 – 00:05 AM | Thị trường chứng khoán
Chuyên gia chỉ ra loạt nhóm ngành có thể hút dòng tiền trong quý 4

Về chiến lược, ông Bùi Văn Huy cho rằng nguyên tắc đầu tiên là canh mua khi thị trường điều chỉnh, không vội vàng.

Nhịp hồi phục gần đây của VN-Index tiếp tục mang đậm dấu ấn của nhóm cổ phiếu "họ" Vingroup. Theo ông Bùi Văn Huy, Tổng Giám đốc FIDT, diễn biến này phản ánh hai vấn đề đáng chú ý của thị trường hiện tại.

Thứ nhất, nhóm Vingroup đang phần nào phản chiếu mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, khi nguồn lực tập trung nhiều hơn vào các doanh nghiệp đầu tàu với kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa tới chuỗi cung ứng và các ngành phụ trợ.

Trên thị trường chứng khoán, vai trò của nhóm này thể hiện khá rõ. Riêng phiên 22/10, VIC và VHM đóng góp hơn 21 điểm cho VN-Index. Đến phiên cuối tuần, VIC tiếp tục là cổ phiếu đóng góp nhiều điểm tăng nhất cho chỉ số.

Chuyên gia chỉ ra loạt nhóm ngành có thể hút dòng tiền trong quý 4 - Ảnh 1.

Chuyên gia FIDT nhận định rằng, gần như mỗi nhịp tăng mạnh của VN-Index trong năm nay đều có dấu ấn đáng kể của nhóm Vingroup. Nếu loại nhóm này ra, chỉ số trong nhiều thời điểm gần như đi ngang.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn, theo Tổng Giám đốc FIDT, là việc nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn tiếp tục chi phối chỉ số cho thấy dòng tiền trên thị trường vẫn còn tương đối yếu.

Mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao, trong khi các kênh dẫn vốn của nền kinh tế như trái phiếu doanh nghiệp và tín dụng ngân hàng vẫn chịu áp lực. Khi dòng tiền hạn chế, nguồn vốn có xu hướng tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn có câu chuyện riêng, khiến chỉ số có thể phục hồi mạnh nhưng mức độ lan tỏa không tương xứng.

Diễn biến tuần qua cũng cho thấy điều này. Phiên tăng đầu tiên ghi nhận sự lan tỏa khá rộng, song mức độ đồng thuận nhanh chóng suy yếu trong những phiên sau. Đà tăng dần phụ thuộc nhiều hơn vào nhóm trụ, thanh khoản chưa bùng nổ và khối ngoại vẫn duy trì trạng thái bán ròng.

Theo ông Huy, việc VN-Index tăng điểm vì vậy chưa đồng nghĩa sức khỏe chung của thị trường đã phục hồi hoàn toàn. Không ít nhà đầu tư vẫn ghi nhận danh mục tăng chậm, thậm chí giảm, dù chỉ số đã lấy lại hàng chục điểm.

Canh mua khi điều chỉnh, tránh đuổi theo cổ phiếu tăng nóng

Về chiến lược trong quý 4, ông Bùi Văn Huy cho rằng nguyên tắc đầu tiên là canh mua khi thị trường điều chỉnh, không vội vàng.

Nếu thị trường đang hình thành vùng đáy, nhiều khả năng đây sẽ là một vùng đáy phẳng, thanh khoản thấp và có thể kéo dài vài tháng. Trong bối cảnh đó, việc mua đuổi những cổ phiếu trụ vừa tăng nóng tiềm ẩn rủi ro, bởi chỉ cần dòng tiền rút khỏi nhóm này, chỉ số có thể điều chỉnh nhanh.

Nhà đầu tư nên chờ các nhịp rung lắc để giải ngân từng phần, duy trì tỷ trọng tiền mặt hợp lý và hạn chế sử dụng margin. Những doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, lợi nhuận tăng trưởng rõ ràng và định giá hợp lý nên được ưu tiên.

Nguyên tắc thứ hai là tập trung vào các ngành trọng điểm, có tính lan tỏa cao.

Theo ông Huy, định hướng điều hành hiện nay đang hướng dòng vốn vào một số lĩnh vực ưu tiên. Các chỉ đạo liên quan đến lãi suất không chỉ đặt mục tiêu giảm chi phí vốn mà còn hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh; các dự án trọng điểm; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; cùng giáo dục đào tạo và công nghiệp văn hóa.

Ở chiều ngược lại, tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và nhóm khách hàng có dư nợ lớn sẽ được kiểm soát chặt hơn.

Theo Tổng Giám đốc FIDT, khi dòng vốn được định hướng theo cách này, các doanh nghiệp nằm trong nhóm ưu tiên có thể có lợi thế hơn về chi phí vốn, khả năng tiếp cận tín dụng và cơ hội tăng trưởng.

Từ đó, ông cho rằng nhà đầu tư có thể chú ý tới nhóm hưởng lợi từ hạ tầng, đầu tư công và các dự án trọng điểm quốc gia; công nghệ và chuyển đổi số; năng lượng và chuyển đổi xanh; cùng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh được hưởng lợi trực tiếp từ các gói vay ưu đãi.

Dù vậy, chuyên gia cũng lưu ý việc lựa chọn cổ phiếu không thể chỉ dựa vào câu chuyện chính sách. Nhà đầu tư cần đánh giá thêm bối cảnh của từng ngành trên thị trường quốc tế cũng như tại Việt Nam. Chẳng hạn, lĩnh vực công nghệ và chuyển đổi số vẫn đối mặt với sức ép lớn từ làn sóng AI toàn cầu và sự thiếu vắng những doanh nghiệp đầu tư đủ lớn.

Với các ngành phụ thuộc nhiều vào đòn bẩy và nằm trong nhóm có khả năng bị kiểm soát tín dụng, nhà đầu tư cần thận trọng và chọn lọc kỹ hơn.

Cuối cùng, ông Huy nhấn mạnh yếu tố quản trị rủi ro trong quý 4. Đây sẽ là giai đoạn kiểm nghiệm hiệu quả thực tế của các biện pháp điều hành lãi suất, trong khi diễn biến lạm phát, tỷ giá và chính sách của Fed vẫn cần được theo dõi sát.

"Nếu lạm phát vượt tầm kiểm soát và lãi suất xuất hiện dấu hiệu đảo chiều tăng trở lại, nhà đầu tư cần chủ động hạ tỷ trọng cổ phiếu để bảo toàn vốn. Trong một thị trường mà dòng tiền còn mỏng và mức độ lan tỏa chưa cao, kỷ luật và sự kiên nhẫn quan trọng hơn việc cố gắng bắt trọn từng nhịp tăng", vị chuyên gia chỉ rõ.

Lịch chốt quyền trả cổ tức trong tuần từ ngày 26/10-30/10, tỷ lệ cao nhất 60%

https://cafef.vn/lich-chot-quyen-tra-co-tuc-trong-tuan-tu-ngay-26-10-30-10-ty-le-cao-nhat-60-188261026083903562.chnTheo Khánh Hân | 26-10-2026 – 08:38 AM | Thị trường chứng khoán
Trong tuần từ ngày 26/10/2026 đến ngày 30/10/2026, trên các sàn chứng khoán, có khoảng 18 doanh nghiệp và ngân hàng dự kiến trả cổ tức với tỷ lệ cao nhất là 60%.

Theo thống kê trên các sàn giao dịch chứng khoán, có khoảng 18 doanh nghiệp và ngân hàng sẽ chốt quyền chi trả cổ tức cho cổ đông bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu trong tuần này từ ngày 26/10/2026 – 30/10/2026, mức cao nhất là 60% và thấp nhất là 3,5%.

Cụ thể, doanh nghiệp chốt quyền chi trả cổ tức cao nhất tuần này là CTCP Khu công nghiệp Nam Tân Uyên (MCK: NTC, sàn HoSE) chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền tỷ lệ 60%, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận 6.000 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền là 26/10/2026.

Doanh nghiệp chi trả cổ tức thấp nhất tuần là CTCP Địa ốc Tân Bình (MCK: TBR, sàn UPCoM) trả cổ tức năm 2025 bằng tiền tỷ lệ 3,5%, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận 350 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng là 28/10/2026.

Lịch chốt quyền trả cổ tức trong tuần từ ngày 26/10-30/10, tỷ lệ cao nhất 60%- Ảnh 1.

Ảnh minh họa: VCBS

Ngoài ra, còn một số doanh nghiệp chốt quyền chi trả cổ tức trong tuần này, có thể kể đến như: CTCP Y Dược phẩm Vimedimex (MCK: VMD, sàn HoSE) trả cổ tức năm 2025 bằng tiền tỷ lệ 20%, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu được nhận 2.000 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền là 26/10/2026.

Tổng Công ty Khoáng Sản TKV – CTCP (MCK: KSV, sàn HNX) tạm ứng cổ tức năm 2026 bằng tiền tỷ lệ 30%, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận 3.000 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng là 26/10/2026.

CTCP Đông Sơn Holdings (MCK: DSH, sàn HoSE) trả cổ tức năm 2025 bằng cổ phiếu với tỷ lệ thực hiện quyền là 100:12, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận 12 cổ phiếu mới. Ngày đăng ký cuối cùng là 29/10/2026.

Tổng Công ty Sông Đà- CTCP (MCK: SJG, sàn UPCoM) chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt với tỷ lệ 12%, tức cổ sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận 1.200 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng là 30/10/2026.

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, MCK: TCB, sàn HoSE) trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ thực hiện quyền 100:50, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận 50 cổ phiếu mới. Ngày đăng ký cuối cùng là 30/10/2026.

CTCP Thủy điện Nậm Mu (MCK: HJS, sàn HNX) trả cổ tức đợt 2 năm 2025 bằng tiền mặt tỷ lệ 7%, tức cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận 700 đồng. Ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền là 30/10/2026.