Không giảm lãi suất, ngân hàng có thể bị cắt room tín dụng năm tới

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/khong-giam-lai-suat-ngan-hang-co-the-bi-cat-room-tin-dung-nam-toi-20261019002120663.htmThứ hai, 19/10/2026 – 08:02

(Dân trí) – Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động và cho vay; trường hợp không tuân thủ có thể bị xem xét giảm hạn mức tín dụng (room) còn lại năm nay.

Tại văn bản ngày 18/10 về điều hành hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường tiền tệ. Các ngân hàng trước mắt phải giảm ít nhất 0,5% lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết với kỳ hạn 6 tháng trở lên.

Ở chiều cho vay, các ngân hàng cần hạ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, các tổ chức tín dụng không tuân thủ việc hạ lãi suất sẽ bị xem xét lại hạn mức tín dụng còn lại của năm nay, giao chỉ tiêu thấp hơn vào năm tới hoặc buộc áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn.

Chỉ đạo được đưa ra trong bối cảnh lãi suất huy động duy trì ở mức cao, trong khi chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân còn lớn. Từ cuối tháng 4, lãi suất niêm yết cao nhất hệ thống, không tính các khoản tiền gửi lớn hoặc khách hàng VIP, tăng lên vùng 7,6-7,8%/năm. Lãi suất ưu đãi thực tế tại nhiều ngân hàng dao động 8,5-9,5%/năm.

Ở chiều cho vay, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tháng 8 đạt 10,7%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước và cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với lãi suất của các khoản vay giải ngân cách đó một năm. Còn trên thực tế, lãi suất cho vay có thể đến 12-13%, phụ thuộc nhiều yếu tố như thời hạn, mục đích vay, tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng.

Không giảm lãi suất, ngân hàng có thể bị cắt room tín dụng năm tới - 1

Kiểm tra giao dịch tiền ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).

Chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước được đưa ra sau cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ ngày 16/10. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá mặt bằng lãi suất cho vay còn cao, ảnh hưởng đến chi phí vốn, hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, người dân.

Trong khi đó, diễn biến thế giới phức tạp tạo áp lực lớn lên điều hành lãi suất, tỷ giá và lạm phát, nợ xấu và rủi ro ngân hàng còn tiềm ẩn.

Phó Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất thời gian qua, sớm có biện pháp giảm lãi suất cho vay. Theo đó, lãi suất cho vay cần giảm từ 1,5-2% với sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp.

"Thống đốc trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về hiệu quả các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay và bảo đảm thanh khoản cho các ngân hàng", Phó Thủ tướng giao.

Sau chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, loạt ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, Vietcombank và Agribank công bố các động thái giảm lãi suất cho vay, với mức giảm lên tới 2%/năm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân.

Cụ thể, BIDV triển khai chương trình tín dụng ưu đãi trên toàn hệ thống từ ngày 15/10, với lãi suất cho vay từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2 điểm phần trăm so với mức thông thường. Chương trình áp dụng với các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam, tập trung vào những ngành, lĩnh vực ưu tiên.

Trong khi đó, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết ngân hàng cam kết giảm tối thiểu 2%/năm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.

Mới nhất, Agribank thông báo từ ngày 19/10 triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm so với mức thông thường, tập trung vào lĩnh vực ưu tiên và khách hàng sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng dự kiến dành khoảng 2.000 tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng giảm chi phí vốn.

Các ngân hàng đầu tiên giảm lãi suất huy động

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/cac-ngan-hang-dau-tien-giam-lai-suat-huy-dong-20261019090508887.htmThứ hai, 19/10/2026 – 09:08

(Dân trí) – LPBank và VietBank đồng loạt hạ lãi suất tiền gửi ở nhiều kỳ hạn, trong đó mức giảm cao nhất lên tới 0,6 điểm phần trăm/năm.

Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa trở thành nhà băng đầu tiên giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Theo biểu lãi suất được LPBank cập nhật sáng 19/10, ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi ở tất cả kỳ hạn từ 1 đến 36 tháng, áp dụng với cả hình thức gửi trực tuyến và tại quầy.

Cụ thể, với tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ, lãi suất các kỳ hạn 1-5 tháng đồng loạt giảm 0,1 điểm phần trăm. Sau điều chỉnh, lãi suất kỳ hạn 1 tháng còn 4,3%/năm, kỳ hạn 2 tháng còn 4,5%/năm, trong khi các kỳ hạn 3-5 tháng cùng được niêm yết ở mức 4,55%/năm.

Đáng chú ý, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-12 tháng đồng loạt giảm 0,5 điểm phần trăm. Trong đó, kỳ hạn 6 tháng còn 6,5%/năm; các kỳ hạn 7-11 tháng còn 6,4%/năm và kỳ hạn 12 tháng còn 6,7%/năm.

Đối với kỳ hạn 13-18 tháng, LPBank giảm 0,6 điểm phần trăm, đưa lãi suất về mức 6,55%/năm.

Mức lãi suất huy động trực tuyến cao nhất tại LPBank hiện là 6,7%/năm, áp dụng cho các kỳ hạn 24-25 tháng, giảm 0,5 điểm phần trăm so với trước. Lãi suất kỳ hạn 36 tháng cũng giảm 0,5 điểm phần trăm, xuống 5,6%/năm. Với các kỳ hạn dài hơn, từ 48 đến 60 tháng, lãi suất được điều chỉnh về 5,2%/năm.

LPBank đồng thời giảm lãi suất huy động tại quầy. Theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn 1-5 tháng có lãi suất từ 4% đến 4,4%/năm; kỳ hạn 6 tháng ở mức 5,9%/năm; kỳ hạn 7-11 tháng ở mức 5,8%/năm.

Đối với kỳ hạn 12-18 tháng, lãi suất được niêm yết ở mức 6,1%/năm; kỳ hạn 24-25 tháng ở mức 6,3%/năm; kỳ hạn 36 tháng ở mức 5,6%/năm và các kỳ hạn 48-60 tháng ở mức 5,2%/năm.

Lãi suất tiền gửi tại quầy dành cho khách hàng ưu tiên cao hơn 0,15 điểm phần trăm so với mức thông thường. Theo đó, lãi suất huy động cao nhất dành cho nhóm khách hàng này là 6,45%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 24-25 tháng.

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank) cũng vừa điều chỉnh giảm lãi suất huy động trực tuyến ở các kỳ hạn từ 6 đến 36 tháng, với mức giảm đồng loạt 0,5 điểm phần trăm.

Sau điều chỉnh, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-8 tháng tại VietBank còn 5,4%/năm; kỳ hạn 9-11 tháng còn 5,5%/năm; kỳ hạn 12-14 tháng còn 5,6%/năm. Lãi suất kỳ hạn 15 tháng giảm xuống 5,7%/năm, kỳ hạn 16-17 tháng còn 5,8%/năm, trong khi các kỳ hạn 18-36 tháng cùng được niêm yết ở mức 5,9%/năm.

Ở chiều ngược lại, VietBank giữ nguyên lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 1-5 tháng ở mức 4,6%/năm. Mức giảm 0,5 điểm phần trăm cũng được VietBank áp dụng đối với các sản phẩm tiền gửi khác ở kỳ hạn từ 6 đến 36 tháng.

Các ngân hàng đầu tiên giảm lãi suất huy động - 1

Kiểm tra giao dịch tiền ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).

Động thái điều chỉnh diễn ra sau khi văn bản về điều hành hoạt động ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước ban hành. Đơn vị này yêu cầu các tổ chức tín dụng tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường tiền tệ. Các ngân hàng trước mắt phải giảm ít nhất 0,5% lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết với kỳ hạn 6 tháng trở lên. Vớii chiều cho vay, các ngân hàng cần hạ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, các tổ chức tín dụng không tuân thủ việc hạ lãi suất sẽ bị xem xét lại hạn mức tín dụng còn lại của năm nay, giao chỉ tiêu thấp hơn vào năm tới hoặc buộc áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn.

Chỉ đạo được đưa ra trong bối cảnh lãi suất huy động duy trì ở mức cao, trong khi chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân còn lớn. Từ cuối tháng 4, lãi suất niêm yết cao nhất hệ thống, không tính các khoản tiền gửi lớn hoặc khách hàng VIP, tăng lên vùng 7,6-7,8%/năm. Lãi suất ưu đãi thực tế tại nhiều ngân hàng dao động 8,5-9,5%/năm.

Ở chiều cho vay, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tháng 8 đạt 10,7%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước và cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với lãi suất của các khoản vay giải ngân cách đó một năm. Còn trên thực tế, lãi suất cho vay có thể đến 12-13%, phụ thuộc nhiều yếu tố như thời hạn, mục đích vay, tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng.

VCCI đề nghị bỏ yêu cầu thương nhân đầu mối xăng dầu sở hữu 40 cửa hàng

https://thanhnien.vn/vcci-de-nghi-bo-yeu-cau-thuong-nhan-dau-moi-xang-dau-so-huu-40-cua-hang-185261017230505027.htm18/10/2026 07:06 GMT+7
Góp ý cho dự thảo nghị định về kinh doanh xăng dầu, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng yêu cầu sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ có thể làm tăng chi phí đầu tư, thu hẹp mạng lưới bán lẻ độc lập. Thay vì đặt nặng sở hữu tài sản, cơ quan soạn thảo nên chuyển sang đánh giá năng lực cung ứng thực tế của doanh nghiệp.

Tăng chi phí tuân thủ

Theo đó, VCCI đề nghị không nâng yêu cầu về số cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu của thương nhân đầu mối xăng dầu lên tối thiểu 40 cửa hàng, đồng thời cho phép doanh nghiệp sử dụng kho, cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu hoặc thuê để đáp ứng điều kiện kinh doanh.

Đây là một trong những kiến nghị đáng chú ý của VCCI tại văn bản góp ý dự thảo nghị định về kinh doanh xăng dầu gửi Bộ Công thương mới đây.

Theo VCCI, dự thảo tiếp tục đặt trọng tâm vào các điều kiện đầu vào về sở hữu tài sản, trong khi yêu cầu quản lý cần hướng đến năng lực cung ứng thực tế của doanh nghiệp. Khả năng bảo đảm nguồn cung đã được kiểm soát thông qua quy định về tổng nguồn tối thiểu và dự trữ lưu thông 20 ngày, nhưng dự thảo chưa làm rõ lợi ích quản lý tăng thêm của yêu cầu sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng.

VCCI cho rằng, quyền sở hữu tài sản không đồng nghĩa với năng lực cung ứng. Yêu cầu này có thể buộc doanh nghiệp dồn vốn vào tài sản cố định, làm tăng chi phí tuân thủ. Trong bối cảnh thị trường có mức độ tập trung cao, nguồn cung chủ yếu thuộc một số đầu mối lớn, quy định trên còn có thể tạo động lực để các doanh nghiệp mua lại cửa hàng độc lập nhằm đáp ứng điều kiện, qua đó thu hẹp khối bán lẻ độc lập.

Vì vậy, tổ chức này đề nghị cho phép thương nhân đầu mối sử dụng kho, cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu hoặc thuê, với thời hạn thuê không ngắn hơn thời hạn của giấy xác nhận. Đồng thời, cần xác định rõ quyền sử dụng thực tế và phần năng lực được tính cho từng thương nhân, bảo đảm nguyên tắc không tính trùng.

VCCI đề nghị bỏ yêu cầu thương nhân đầu mối xăng dầu sở hữu 40 cửa hàng- Ảnh 1.

Theo VCCI, khả năng bảo đảm nguồn cung đã có quy định về tổng nguồn tối thiểu và dự trữ lưu thông 20 ngày

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Thay vì đặt nặng số lượng cửa hàng thuộc sở hữu, VCCI đề xuất xem xét các tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động như sản lượng cung ứng thực tế cho thị trường nội địa, mức độ tuân thủ dự trữ lưu thông và hợp đồng cung ứng dài hạn. Đối với các giấy phép, giấy xác nhận đang còn hiệu lực, VCCI cũng đề nghị cho phép doanh nghiệp tiếp tục áp dụng điều kiện tại thời điểm cấp đến hết thời hạn hiệu lực.

Kiểm soát chặt giao nhận thực tế

Ngoài ra, một nội dung đáng chú ý khác là đề xuất hoàn thiện quy định cho phép các thương nhân phân phối mua bán xăng dầu với nhau. VCCI ủng hộ cơ chế này vì có thể giúp điều chuyển hàng hóa cho các cửa hàng nhỏ, bổ sung nguồn cung khi một kênh cung ứng bị gián đoạn, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, đồng thời duy trì cạnh tranh ở khâu bán buôn.

Tuy nhiên, VCCI cho rằng quy định hạn chế hàng mua từ thương nhân phân phối khác chỉ được bán tại cửa hàng thuộc hệ thống hoặc cho các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng xăng dầu cần được làm rõ. Khi xăng dầu cùng chủng loại được nhập chung bồn, bể, dự thảo chưa có phương pháp hạch toán, phân bổ nguồn hàng thống nhất để xác định lượng hàng được phép bán tiếp. Từ đó, VCCI đề nghị kiểm soát giao dịch thông qua việc giao nhận thực tế, chuyển quyền sở hữu, hóa đơn điện tử và chứng từ giao nhận. Dòng hàng có thể được theo dõi bằng cách cân đối nhập – xuất – tồn theo chủng loại và kỳ báo cáo, kết hợp đối chiếu chứng từ, thay vì áp dụng những yêu cầu truy xuất khó thực hiện trong trường hợp hàng hóa được nhập chung bồn, bể.

VCCI cũng đề nghị bỏ quy định mặc nhiên xác định việc mua xăng dầu nhưng chưa đưa ra tiêu thụ trên thị trường là hành vi đầu cơ. Theo tổ chức này, việc xác định và xử lý hành vi đầu cơ, găm hàng phải căn cứ đầy đủ các dấu hiệu vi phạm theo pháp luật có liên quan, không thể chỉ dựa vào việc hàng mua vào chưa được đưa ra tiêu thụ.

Về cơ chế giá, VCCI đề nghị sử dụng công thức giá làm căn cứ kê khai, giải trình và giám sát, không trở thành công cụ áp đặt mức lợi nhuận hoặc chi phí ngoài phạm vi pháp luật quy định. Tổ chức này cũng kiến nghị đơn giản hóa thủ tục kê khai giá, tránh yêu cầu kê khai trùng lặp và bỏ ngưỡng thị phần kết hợp 30% trong quy định giám sát cạnh tranh tại Dự thảo.

Đối với Quỹ bình ổn giá xăng dầu, VCCI đề nghị làm rõ thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng Quỹ gắn với ngày nghị định có hiệu lực; quy định cụ thể cách tính, hạch toán và công khai khoản trích lập để hoàn trả tiền tạm ứng ngân sách. Đồng thời, cần xác định rõ thời hạn chuyển nộp số dư dương, hoàn trả số dư âm và rà soát quy định đình chỉ kinh doanh, thu hồi Giấy xác nhận khi chậm quyết toán quỹ.

Việt Nam tiến đến trung tâm trung chuyển quốc tế

https://thanhnien.vn/viet-nam-tien-den-trung-tam-trung-chuyen-quoc-te-185261017183449529.htm18/10/2026 06:00 GMT+7
Chỉ ít tháng nữa, Việt Nam sẽ chính thức chào đón hàng loạt "siêu bom tấn" cảng hàng không quốc tế. Cùng mạng lưới sân bay phủ khắp từ biển lên rừng đã được đưa vào quy hoạch, Việt Nam đang chính thức bước vào đường đua trở thành trung tâm trung chuyển và logistics hàng không hàng đầu châu Á.

Loạt "Mega-hub" chạy nước rút về đích

Liên tiếp 2 ngày 12 – 13.10 vừa qua, Cảng hàng không quốc tế Long Thành (TP.Đồng Nai) – đại dự án hạ tầng lớn nhất lịch sử Việt Nam – đã hoàn thành các bài bay kiểm tra, hiệu chuẩn hệ thống dẫn đường và đèn tín hiệu hàng không phục vụ đường cất hạ cánh. Sau khi thần tốc vượt mốc hơn 86% tổng khối lượng xây dựng, siêu dự án này đang bước vào các đợt vận hành thử nghiệm toàn diện quy trình khai thác, kiểm tra hệ thống điều hành bay và phương án ứng phó sự cố khẩn cấp, hướng tới mốc khai thác thương mại vào tháng 12 tới, chính thức đánh dấu bước ngoặt lịch sử của ngành hàng không Việt Nam.

Trên tổng diện tích 5.000 ha, Long Thành được thiết kế để trở thành một trung tâm trung chuyển hàng không thế giới với công suất tối đa lên tới 100 triệu lượt hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Riêng giai đoạn 1 sở hữu nhà ga hành khách rộng tương đương 50 sân bóng đá, công suất 25 triệu lượt hành khách/năm, đi kèm đường cất hạ cánh dài 4.000 m, rộng 75 m, đủ sức tiếp nhận các dòng tàu bay thương mại lớn nhất hành tinh như Airbus A380 hay Boeing 747-8.

Quy mô cùng tiến độ thi công thần tốc tại đây đã khiến các đoàn công tác quốc tế phải choáng ngợp. Mới nhất, trong chuyến khảo sát thực địa, ông Roger Cook, Thủ hiến kiêm Bộ trưởng Công nghiệp quốc phòng, du lịch, thương mại và đầu tư bang Tây Úc, đã không giấu được sự ngưỡng mộ trước tầm vóc và tiến độ kỷ lục của công trình. Ông đánh giá Long Thành không chỉ là một kiệt tác hạ tầng mà sẽ trở thành mắt xích kết nối chiến lược cho toàn bộ dòng chảy thương mại, du lịch giữa Úc với Việt Nam và toàn bộ khu vực Đông Nam Á.

Không phải chờ đến ngày cất cánh chính thức, thời gian qua, hàng loạt "gã khổng lồ" hàng không, các tập đoàn logistics và logistics hàng hóa (cargo) hàng đầu thế giới từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đã liên tục cử các đoàn chuyên gia cấp cao đến khảo sát thực địa tại Long Thành. Họ đến để mục sở thị siêu sân bay lớn nhất Việt Nam, đồng thời tìm kiếm cơ hội hợp tác, đặt nền móng cho các trung tâm trung chuyển hàng hóa cũng như trung tâm bảo dưỡng máy bay tầm khu vực.

Việt Nam tiến đến trung tâm trung chuyển quốc tế - Ảnh 1.

Siêu sân bay Long Thành sắp chính thức khai thác thương mại, đánh dấu mốc lịch sử cho ngành hàng không Việt Nam

ẢNH: ACV

Nếu Long Thành là "mega hub" phía nam thì Cảng hàng không quốc tế Gia Bình (TP.Bắc Ninh) lại là "ngòi nổ" hạ tầng chiến lược tại miền Bắc. Được cấp tập giải phóng mặt bằng và phê duyệt quy hoạch, dự án đã điều chỉnh công suất thiết kế lên 5 triệu lượt hành khách/năm giai đoạn đến 2030 và hướng tới 15 triệu lượt hành khách/năm tầm nhìn đến 2050. Để chuẩn bị cho APEC 2027, sân bay Gia Bình đang đẩy nhanh xây dựng hạ tầng, ứng dụng công nghệ, AI, tuyển dụng, đào tạo nhân sự, hợp tác quốc tế, nhằm xây dựng hệ sinh thái hàng không hiện đại.

Đến nay, tháp kiểm soát không lưu đã hoàn thành phần kết cấu chính ở độ cao thiết kế 127 m. Nhà ga VIP, đường băng cùng các hệ thống thông tin, dẫn đường và giám sát hàng không cũng đang được đẩy nhanh tiến độ. Các công việc xây dựng được triển khai song song với mua sắm, lắp đặt và chuẩn bị vận hành. Song song với hạ tầng sân bay, tuyến kết nối Gia Bình – Hà Nội cũng đang được hình thành, mở rộng khả năng liên thông giữa sân bay với Hà Nội và khu vực trọng điểm.

Nằm tại trái tim thủ phủ công nghiệp Bắc Ninh, nơi hội tụ các tập đoàn công nghệ toàn cầu, sân bay Gia Bình được kỳ vọng đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa giá trị cao và tăng trưởng nhanh của khu vực, góp phần tăng cường năng lực kết nối hàng không, đồng thời bổ trợ cho hệ thống sân bay hiện hữu, trong đó có Cảng hàng không quốc tế Nội Bài.

Cũng nằm trong nhóm siêu hạ tầng phục vụ APEC 2027, không khí tại đại công trường dự án mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc (An Giang) đang nóng lên từng giờ. Dự án đang thiết lập những kỷ lục khiến thế giới phải nghiêng mình: Đường cất hạ cánh số 2 dài 3,3 km hoàn thành thần tốc trên địa hình biển đảo chỉ trong vỏn vẹn 8 tháng, một tiến độ phá vỡ mọi giới hạn về thi công hạ tầng hàng không thế giới. Tâm điểm của siêu đại dự án này là Nhà ga T2 mang hình tượng chim phượng hoàng lửa đang sải cánh, với tổng công suất thiết kế lên tới 24 triệu lượt hành khách/năm. Nơi đây quy tụ những giải pháp kỹ thuật và công nghệ thi công hiện đại bậc nhất thế giới: từ hệ thống phân loại hành lý tự động 5 tầng tốc độ cao, đến kết cấu mái vòm thép chịu lực ngốn gần 25.000 tấn thép với nhịp vượt kỷ lục đạt tới 72 m. Mới bắt đầu cất những cấu kiện thép đầu tiên từ đầu tháng 3, nhưng chỉ sau 5 tháng thi công, phần khung chịu lực cánh trái phượng hoàng đã sừng sững định hình. Cùng với đó, Nhà ga VIP mang hình tượng cá đại bàng biển phục vụ chuyên cơ quy mô 300 hành khách đều đã cập mốc tiến độ nghẹt thở, sẵn sàng cho chuyến bay kỹ thuật vào cuối năm.

Bên cạnh bộ ba "bom tấn" sắp trình làng nói trên, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không toàn quốc giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 được điều chỉnh, bổ sung hàng loạt cảng hàng không mới tại các vị trí chiến lược như: Ninh Bình, Vân Phong (Khánh Hòa), Lai Châu, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Măng Đen (Quảng Ngãi), Phan Thiết (Lâm Đồng). Mạng lưới sân bay mới kết nối từ vùng sâu, biên giới, hải đảo tới các cực kinh tế mới đón đầu làn sóng đầu tư du lịch nghỉ dưỡng và logistics cảng biển nước sâu, mục tiêu đảm bảo đến năm 2030, trên 95% dân số có thể tiếp cận cảng hàng không trong bán kính 100 km, đặt Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mật độ hạ tầng hàng không tối ưu hàng đầu khu vực.

Các siêu đô thị sân bay dần thành hình

Điểm đột phá mang tính chiến lược trong đợt "lột xác" mạng lưới cảng hàng không Việt Nam thời gian qua này nằm ở tư duy quy hoạch: biến các cảng hàng không từ những "điểm dừng chân" thuần túy thành các siêu đô thị sân bay thông minh – mô hình phát triển kinh tế đang là xu hướng dẫn dắt trên toàn cầu.

Điển hình, Long Thành được quy hoạch trở thành một siêu đô thị sân bay hoàn chỉnh với bán kính ảnh hưởng lan tỏa khắp vùng Đông Nam bộ. Theo đó, đô thị sân bay không phải là một dự án riêng lẻ xung quanh sân bay Long Thành mà gắn với đô thị đa trung tâm, kinh tế số, công nghiệp hàng không, công nghệ cao và logistics liên vùng. Nghĩa là, khu vực đô thị này đang được định hình như một "cửa ngõ kinh tế toàn cầu" chứ không đơn thuần là một nhà ga hàng không. Khu vực xung quanh cảng Long Thành sẽ được chia thành các phân khu chức năng chuyên biệt như khu phi thuế quan, trung tâm triển lãm quốc tế, logistics hàng không tốc độ cao, khu công nghệ cao và hệ thống đô thị dịch vụ vệ tinh. Như vậy, giới doanh nhân quốc tế có thể bay đến, họp hành, ký kết hợp đồng, mua sắm và bay đi trong ngày mà không gặp phải tình trạng tắc nghẽn của nội đô cũ.

Việt Nam tiến đến trung tâm trung chuyển quốc tế - Ảnh 2.

Phối cảnh Cảng hàng không quốc tế Gia Bình

ẢNH: MAI

Nếu cảng Long Thành được xem là dự án mang tính đột phá về hạ tầng giao thông thì đô thị sân bay Long Thành được kỳ vọng tạo đột phá trong việc mở ra không gian phát triển mới của toàn vùng. Nghị quyết số 16 ngày 21.7.2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065 cũng đề ra nhiệm vụ phát triển tổng thể đô thị sân bay Long Thành và vùng phụ cận đặt trong mạng lưới kết nối vùng Đông Nam bộ, vùng ĐBSCL, vùng duyên hải Nam Trung bộ, Tây nguyên để trở thành động lực lan tỏa quan trọng của Đồng Nai.

Trong khi đó, Gia Bình lại bám sát lợi thế của "thủ phủ công nghiệp" Bắc Ninh để định hình theo mô hình đô thị sân bay chuyên biệt về Air Cargo và công nghiệp phụ trợ. Không gian quanh sân bay được quy hoạch đồng bộ với hệ thống kho bãi thông minh, trung tâm phân phối chuỗi cung ứng lạnh phục vụ linh kiện điện tử, bán dẫn và dược phẩm. Đi kèm là chuỗi dịch vụ đô thị, trung tâm hội nghị quốc tế và hạ tầng nghỉ ngơi dành cho lực lượng chuyên gia, kỹ sư toàn cầu.

Còn với sân bay Phú Quốc, vị trí chiến lược tại Đảo Ngọc mang đến những điều kiện hoàn hảo để hình thành mô hình đô thị du lịch – dịch vụ hàng không đẳng cấp. Điểm nhấn trong quy hoạch đô thị sân bay Phú Quốc là việc tích hợp đồng bộ hạ tầng chuỗi cung ứng dịch vụ hàng không kỹ thuật cao. Trong đó, dự án nhà máy chế biến suất ăn hàng không tiêu chuẩn quốc tế được đầu tư bài bản ngay tại cảng, đảm bảo cung ứng hàng chục ngàn suất ăn chất lượng cao mỗi ngày cho các hãng hàng không nội địa và quốc tế. Kết hợp cùng tổ hợp thương mại miễn thuế, trung tâm điều hành thông minh và chuỗi nghỉ dưỡng sinh thái, Phú Quốc đang chuyển mình thành một đô thị sân bay du lịch hàng đầu khu vực.

Những "cú nổ" cực mạnh cho tăng trưởng kinh tế

Theo PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, các dự án hạ tầng trọng điểm (đường cao tốc, cảng biển, sân bay) là những ưu tiên trong đột phá đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ hiện đại. Đây là một trong 3 đột phá chiến lược của Việt Nam nhằm khơi thông nguồn lực và bứt phá phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Thời gian gần đây, nhiều dự án đường bộ cao tốc, cảng hàng không, cảng biển được khởi công và về đích, cho thấy chủ trương, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước đang đi vào cuộc sống một cách thực chất, đồng bộ, hứa hẹn tạo ra những hiệu ứng lan tỏa rất tốt cho nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Thường Lạng, trong các dự án hạ tầng trọng điểm, cảng hàng không thế hệ mới được xem là đột phá tổng hợp và có tính lan tỏa cao. Lâu nay, tại các địa phương, hệ thống hạ tầng phát triển chưa đến mức tiềm năng đã hạn chế dây chuyền đến tăng trưởng của nhiều ngành nghề, lĩnh vực, làm chậm quá trình lưu thông hàng hóa khiến chi phí logistics cao, gây khó khăn trong di chuyển cho khách du lịch, nhà đầu tư… Với vai trò "mở đường", hạ tầng hàng không được khơi thông vừa giúp kết nối dòng khách trong và ngoài nước vừa thúc đẩy nhu cầu vận tải hàng hóa, đặc biệt là sản phẩm công nghệ, linh kiện điện tử, bán dẫn, phục vụ xuất khẩu công nghệ cao.

Việt Nam tiến đến trung tâm trung chuyển quốc tế - Ảnh 3.

Nhà máy suất ăn hàng không 2.400 tỉ đồng nằm liền kề Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc

ẢNH: S.G

"Kinh tế hàng không có nhiều yếu tố phát triển như công nghệ, mô hình quản lý hiện đại, hệ thống phụ trợ, phái sinh gồm logistics, kho hàng, kho chuyên dụng, trung tâm thương mại, đô thị lớn, thậm chí trung tâm tài chính, trung tâm văn hóa thể thao, thiết chế văn hóa… Đơn cử Đặc khu kinh tế Hồng Kông (Trung Quốc), cảng hàng không quốc tế ở đây dày đặc hệ thống dịch vụ, kể cả thị trường chứng khoán. Sự phát triển của cảng hàng không như vậy sẽ tạo ra hàng chục đô thị mới, phát triển theo mô hình mới, thông minh, xanh, đáng sống. Việt Nam đang theo đúng xu hướng phát triển các mô hình hạ tầng hàng không tích hợp, hình thành các tổ hợp đồng bộ hướng tới khai thác tối đa hiệu quả các không gian tăng trưởng từ tầng ngầm đến trên tầng mặt đất, tầm thấp, tầm cao. Nhờ đó, các nguồn lực gia tăng từ dịch vụ kinh tế hàng không đóng góp cho tăng trưởng là rất lớn", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận định.

Chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền phân tích: Nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, chỉ mất từ 3 – 4 giờ bay để kết nối tới tất cả các nền kinh tế năng động nhất châu Á, Việt Nam sở hữu vị trí địa – kinh tế "vàng" mà bất kỳ quốc gia nào cũng khao khát. Sự xuất hiện của các "mega hub" được quy hoạch đồng bộ ngay từ đầu chính là mảnh ghép hoàn hảo để Việt Nam nắm cơ hội cạnh tranh trực tiếp lượng khách và hàng hóa trung chuyển với các trung tâm lớn như Singapore hay Thái Lan. Long Thành không chỉ chia lửa cho Tân Sơn Nhất mà còn kết nối hữu cơ với cụm cảng biển nước sâu Cái Mép – Thị Vải, tạo thành mô hình phương thức vận tải đa dụng hiếm có trên thế giới. Gia Bình thì tích hợp trực tiếp với chuỗi logistics đường bộ cao tốc và hệ thống cảng cạn nội địa (ICD), tạo nên một mắt xích vận tải đa phương thức khép kín, chuyên biệt cho hàng hóa giá trị cao, linh kiện điện tử và bán dẫn. Đây là cơ sở để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị logistics toàn cầu, nơi hàng hóa cao cấp, linh kiện điện tử và hàng thương mại điện tử xuyên biên giới có thể được luân chuyển với chi phí và thời gian tối ưu.

Khi các sân bay đồng loạt vận hành, bài toán điểm nghẽn hạ tầng được giải quyết triệt để. Việt Nam sẽ hội đủ mọi điều kiện cần và đủ để xây dựng một trung tâm trung chuyển quốc tế thực thụ. Chúng ta hoàn toàn có thể chủ động thu hút các dòng khách và luồng hàng hóa nối chuyến toàn cầu, biến vùng không phận Việt Nam thành điểm dừng chân chiến lược thay vì chỉ là điểm kết nối chặng ngắn.

Chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các trung tâm kinh tế hàng không phát triển và thành công không dựa trên hoạt động đơn lẻ của hạ tầng xây dựng, hậu cần hay chuỗi cung ứng, mà có sự hợp lực, liên kết bởi động lực thị trường và những doanh nghiệp dẫn dắt thuộc nhiều lĩnh vực: hãng logistics, hãng hàng không, tập đoàn công nghệ… Sự hợp lực này sẽ giúp các trung tâm kinh tế hàng không phát huy sức mạnh tổng lực và kết nối hiệu quả các nguồn lực quốc gia để đi nhanh, đi bền vững.

PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và kinh tế quốc tế

221.611 căn nhà đã được gỡ vướng cấp sổ hồng

https://thanhnien.vn/221611-can-nha-da-duoc-go-vuong-cap-so-hong-185261019113900356.htm19/10/2026 12:01 GMT+7

Báo cáo với UBND TP.HCM về kết quả, khó khăn, vướng mắc trong công tác cấp sổ hồng cho người mua nhà tại các dự án nhà ở thương mại trên địa bàn TP.HCM, Tổ Công tác 1645 cho biết đã có 221.611 căn nhà được gỡ vướng cấp sổ.

Thực hiện 6 chức năng, nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1645 của UBND TP.HCM, Tổ Công tác 1645 đã liên tục tổ chức các cuộc họp nhằm tháo gỡ vướng mắc và giải quyết việc cấp sổ hồng cho người mua nhà tại các dự án với tần suất 1 lần/tuần.

Đến nay, Tổ Công tác 1645 đã tổ chức 156 cuộc họp tháo gỡ vướng mắc cho 349 dự án, với 221.611 căn nhà sẽ được giải quyết cấp sổ hồng, vượt chỉ tiêu đề ra theo kế hoạch là 60 dự án.

Trong đó, riêng năm 2025 đã gỡ vướng cấp sổ hồng 55.303 căn nhà trong dự án, thu lệ phí trước bạ được 3.026 tỉ đồng.

Từ đầu năm 2026 đến nay đã giải quyết cấp sổ hồng cho 43.200 căn nhà trong dự án và 13.949 hồ sơ đang chờ người mua nhà đóng lệ phí trước bạ.

Như vậy, theo mục tiêu Kế hoạch số 11815 về giải quyết 68.000 hồ sơ đủ điều kiện cấp sổ hồng trong năm 2026, tính đến ngày 21.9, tỷ lệ hồ sơ đủ điều kiện giải quyết cấp sổ hồng đạt 84%, đảm bảo tiến độ thực hiện trong năm 2026.

221.611 căn nhà đã được gỡ vướng cấp sổ hồng- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Toàn Thắng, Tổ trưởng Tổ Công tác 1645, Giám đốc Sở Nông nghiệp – Môi trường họp tổ công tác

ẢNH: ĐÌNH SƠN

Cũng theo Tổ Công tác 1645, công tác gỡ vướng cấp sổ hồng cho người mua nhà vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc.

Đầu tiên là hợp đồng vận hành chính thức đối với hệ thống phần mềm VBDLIS chưa được hoàn tất, do đó chưa có đầy đủ cơ sở và điều kiện để yêu cầu đơn vị triển khai thực hiện các nội dung hỗ trợ, hiệu chỉnh, bổ sung chức năng, công cụ theo yêu cầu phát sinh trong quá trình vận hành thực tế, đặc biệt đối với công tác quản lý hồ sơ địa chính số, kết nối và chia sẻ dữ liệu của TP.

Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn lực phục vụ vận hành, lưu trữ cơ sở dữ liệu địa chính cần tiếp tục được quan tâm, đầu tư, hoàn thiện đồng bộ, nhằm đáp ứng khối lượng dữ liệu ngày càng lớn và yêu cầu khai thác, sử dụng hệ thống ổn định, liên tục, an toàn.

Một số chủ đầu tư dự án chưa thực hiện bàn giao hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho cơ quan có thẩm quyền quản lý. Một số dự án chưa xác định hình thức thực hiện điều tiết 20% nhà ở xã hội bằng hình thức nộp tiền hay dành quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội. Nội dung này đang được Sở Xây dựng rà soát, thống kê để giải quyết theo quy định tại Nghị định số 100/2024 và Nghị định số 226/2025 của Chính phủ.

Không chỉ vậy, có trường hợp chủ đầu tư dự án không hoặc chưa bàn giao đầy đủ 2% quỹ bảo trì cho Ban Quản trị, dẫn đến người mua nhà, Ban Quản trị thường xuyên gửi đơn đến cơ quan quản lý nhà nước khiếu nại.

Một số dự án Sở Nông nghiệp và Môi trường không phối hợp được với chủ đầu tư dự án do người đại diện pháp luật của công ty không liên hệ được, điển hình là chung cư Khang Gia quận Gò Vấp (cũ) hoặc chủ đầu tư không phối hợp với cơ quan đăng ký đất đai để giải quyết cấp sổ hồng cho người mua nhà như Công ty Nhật Hoàng là chủ đầu tư dự án phường Trường Thạnh, Công ty Thương mại 12 là chủ đầu tư dự án phường Hiệp Thành.

221.611 căn nhà đã được gỡ vướng cấp sổ hồng- Ảnh 2.

Chung cư 4S Linh Đông được gỡ vướng cấp sổ hồng cho người mua nhà

ẢNH: ĐÌNH SƠN

Ông Nguyễn Toàn Thắng, Tổ trưởng Tổ Công tác 1645, Giám đốc Sở Nông nghiệp – Môi trường cho biết, thực hiện nội dung kế hoạch cấp sổ hồng, trong 3 tháng cuối năm 2026, Tổ Công tác 1645 tiếp tục đẩy nhanh tiến độ tháo gỡ vướng mắc, giải quyết cấp sổ tại các dự án nhà ở.

Trong đó tập trung tháo gỡ vướng mắc tại 20 dự án (6.950 căn nhà) cần phải phối hợp với các sở ngành liên quan để thực hiện thủ tục cấp sổ hồng cho người mua nhà.

Rà soát, xác định cụ thể các khó khăn, vướng mắc còn tồn đọng đối với 14 dự án thuộc loại hình bất động sản mới trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ. Từ đó đề xuất giải pháp tháo gỡ, hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục cấp sổ hồng theo quy định.

Tiếp tục thống kê thông tin các dự án chưa được giải quyết cấp sổ hồng từ đơn thư kiến nghị của người dân, Ban quản trị chung cư, chủ đầu tư dự án và công văn cung cấp của UBND phường, xã để tổng hợp, phân loại các dự án theo tình trạng pháp lý và các khó khăn, vướng mắc phát sinh để báo cáo Tổ Công tác 1645 – Sở Nông nghiệp và Môi trường xem xét, chỉ đạo tháo gỡ, làm cơ sở giải quyết thủ tục cấp sổ hồng cho người mua nhà.

Đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ giải quyết cấp sổ hồng đối với các dự án đã được tháo gỡ vướng mắc và các hồ sơ đã đủ điều kiện giải quyết. Chủ động rà soát, phối hợp thực hiện các thủ tục có liên quan, phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu cấp sổ hồng theo kế hoạch trong năm 2026.

Long đong số phận khu đô thị gần 1.300 tỷ ở Quảng Ngãi

https://nhadautu.vn/long-dong-so-phan-khu-do-thi-gan-1300-ty-o-quang-ngai-d108307.htmlTHÀNH VÂN
13:34 19/10/2026

Dự án Khu đô thị An Sơn tại Quảng Ngãi được cấp phép từ năm 2008, với tổng vốn đầu tư gần 1.300 tỷ đồng, nhưng liên tục lỡ hẹn tiến độ. Sau gần 20 năm, địa phương đang có những bước tháo gỡ, mở hướng triển khai dự án trong thời gian tới.

Tìm lời giải cho dự án kéo dài gần 20 năm

Dự án Khu đô thị An Sơn (trước đây là dự án Khu thương mại – Dịch vụ Vina Universal Paradise Sơn Tịnh) do CTCP Đầu tư Khu du lịch – Phim trường Vina làm chủ đầu tư, được tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu vào năm 2008. Dự án có tổng diện tích hơn 56ha, với tổng vốn đầu tư 1.259 tỷ đồng.

Nhưng trong quá trình triển khai dự án liên tục lỡ hẹn với các mốc tiến độ đã được điều chỉnh (tiến độ thực hiện từ năm 2008 đến hết quý IV/2023). Theo UBND tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2020 dự án gặp vướng mắc về thủ tục đất đai nên các cơ quan chức năng chưa có hướng giải quyết để dự án có thể tiếp tục triển khai được.

Cụ thể, dự án đã được UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất và giao đất 100% diện tích đất cho nhà đầu tư; đồng thời, đã ban hành thông báo thu hồi đất tổng thể dự án trước khi thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.

Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành thông báo thu hồi đất chi tiết cho từng hộ dân có đất, do đó, không có cơ sở thực hiện thủ tục bổ sung kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 để tiếp tục thực hiện lập phương án bồi thường phần còn lại và thực hiện chi trả cho phần diện tích đã lập phương án bồi thường nhưng chưa chi trả cho dân.

Dự án Khu thương mại – dịch vụ Vina Universal Paradise có quy mô gần 60ha. Ảnh: Thành Vân.

UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết, trong năm 2025, dự án này được Sở Tài chính tổng hợp vào danh mục các dự án khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài; đồng thời tham mưu UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo 751 Trung ương và cập nhật thông tin trên Hệ thống 751, kiến nghị các bộ, ngành Trung ương đề xuất cơ chế tháo gỡ.

Đầu năm 2026, Bộ Tài chính thông báo danh mục các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền tự xử lý của địa phương, trong đó có dự án Khu đô thị An Sơn.

Đến nay, căn cứ khoản 1 Điều 254 Luật Đất đai năm 2024 và Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, Sở Tài chính đã chủ trì, phối hợp với Sở NN&MT, UBND phường Trương Quang Trọng cùng các sở, ngành liên quan rà soát, xác định vướng mắc trong giải quyết thủ tục đất đai và công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Trên cơ sở đó, Sở Tài chính Quảng Ngãi đã tham mưu UBND tỉnh xem xét điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đến năm 2030.

Nhà đầu tư kiến nghị điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đến quý I/2030. Ảnh: Thành Vân.

Cơ cấu cổ đông thay đổi

Theo tìm hiểu, CTCP Đầu tư Khu du lịch – Phim trường Vina được thành lập tháng 4/2007, có trụ sở tại số 1 Lê Lợi, phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi. Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Minh Đức (SN 1988), Giám đốc công ty.

Công ty này từng thuộc sở hữu của hai cổ đông sáng lập là CTCP Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo và CTCP Đầu tư và Tư vấn tin học xây dựng Phương Nam.

Tuy nhiên, đến năm 2019, chủ sở hữu dự án thay đổi sang nhóm cổ đông mới là công ty thành viên với 100% vốn ngân hàng PVcomBank.

Đầu năm 2024, CTCP Đầu tư Khu du lịch – Phim trường Vina có vốn điều lệ 200 tỷ đồng. Các cổ đông được công bố thời điểm này gồm: Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PAMC) sở hữu 12.959.775 cổ phần, tương ứng giá trị vốn góp gần 129,6 tỷ đồng (64,799%); Công ty TNHH Xây dựng Văn hóa Ngọc Việt sở hữu 7.038.633 cổ phần, trị giá hơn 70,386 tỷ đồng (35,193%).

Hai cổ đông cá nhân là Nguyễn Minh Đức và Đỗ Thành Trung mỗi người sở hữu 796 cổ phần, tương ứng vốn góp 7,96 triệu đồng (0,004%).

Ông Nguyễn Minh Đức còn là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đầu tư Nhà ở xã hội Thuận Thành, doanh nghiệp thành lập tháng 12/2018, có trụ sở tại Bắc Ninh.

Khi mới thành lập, Nhà ở xã hội Thuận Thành có vốn điều lệ 25 tỷ đồng, chủ sở hữu là CTCP Tập đoàn Dabaco Việt Nam. Đến tháng 6/2019, Dabaco không còn ghi nhận doanh nghiệp này là công ty con. Tháng 8/2023, ông Nguyễn Minh Đức trở thành chủ sở hữu Nhà ở xã hội Thuận Thành. Doanh nghiệp hiện có vốn điều lệ 900 tỷ đồng.

Ngoài ra, ông Nguyễn Minh Đức còn là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Sao Mai, doanh nghiệp thành lập tháng 3/1998. Cập nhật đến tháng 1/2026, Sao Mai có vốn điều lệ 20 tỷ đồng, trong đó PAMC sở hữu 99% vốn, tương đương 19,8 tỷ đồng; ông Nguyễn Thiện Thông sở hữu 1% vốn còn lại, tương đương 200 triệu đồng.

Quay trở lại với dự án Khu đô thị An Sơn, mới đây, CTCP Đầu tư Khu du lịch – Phim trường Vina đã có báo cáo gửi UBND tỉnh Quảng Ngãi và Sở Tài chính về tình hình thực hiện dự án này.

Nhà đầu tư cho biết, đã bố trí khoảng 95,7 tỷ đồng cho dự án, gồm 26,9 tỷ đồng chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và 68,8 tỷ đồng đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Riêng phần hạ tầng đã triển khai có diện tích khoảng 4,68 ha, tương đương 8,3% quy mô dự án, gồm 182 lô đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 100 lô bố trí tái định cư.

Khó khăn lớn nhất của dự án là vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Do đó, doanh nghiệp đề nghị UBND tỉnh Quảng Ngãi xem xét cơ chế tháo gỡ để dự án tiếp tục được triển khai theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Đồng thời, nhà đầu tư kiến nghị điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án. Theo đề xuất, giai đoạn I từ quý IV/2026 đến quý I/2028 sẽ tập trung bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai và triển khai hạ tầng kỹ thuật trên diện tích 26,25 ha. Giai đoạn II từ quý II/2028 đến quý I/2030 tiếp tục triển khai hạ tầng trên diện tích hơn 30ha còn lại…

Doanh nghiệp cam kết bố trí đủ nguồn vốn, nhân lực để thực hiện dự án theo quy hoạch được duyệt, đồng thời mong muốn chính quyền địa phương sớm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để tiếp tục triển khai.

NHNN yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm

https://nhadautu.vn/khong-de-doanh-nghiep-thieu-tai-san-the-chap-kho-tiep-can-von-d108341.htmlGIAO THỦY
09:28 18/10/2026

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gợi ý chuyển mạnh từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, dữ liệu giao dịch và hợp đồng đầu ra, để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thêm cơ hội tiếp cận tín dụng.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Ảnh: Quochoi.vn.

Chiều 17/10, thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng khả năng tiếp cận vốn vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn nhất của khu vực này. Dù ngành ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi, quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng với lãi suất thấp hơn thông thường, phần lớn doanh nghiệp vẫn gặp khó khi vay vốn.

Một nguyên nhân là ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp, thường yêu cầu bất động sản hoặc tài sản có giá trị cao để bảo đảm khoản vay. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp mới thành lập, thường không có đủ tài sản đáp ứng yêu cầu.

Hai trở ngại khác là thông tin tài chính chưa minh bạch và năng lực hấp thụ vốn còn hạn chế. Báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp chưa được chuẩn hóa, chưa tách bạch rõ tài chính cá nhân với tài chính doanh nghiệp, khiến ngân hàng khó đánh giá khả năng trả nợ. Một số doanh nghiệp cũng chưa có phương án kinh doanh rõ ràng, năng lực quản trị còn yếu.

Theo Chủ tịch Quốc hội, những hạn chế này tạo thành vòng luẩn quẩn: doanh nghiệp thiếu vốn nên khó mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh; quy mô doanh thu, dòng tiền yếu lại khiến họ khó tiếp cận tín dụng.

Vì vậy, cần chuyển mạnh từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, dữ liệu giao dịch, hợp đồng đầu ra và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Chủ tịch Quốc hội cho biết vấn đề đã được Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quan tâm, song cần được cụ thể hóa bằng những giải pháp khả thi.

Trong đó, cần đẩy mạnh cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), phát triển hình thức cho vay không có hoặc có ít tài sản bảo đảm dựa trên dữ liệu, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp cũng cần được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính thông qua đào tạo, tư vấn kế toán và ứng dụng phần mềm quản lý.

Quang cảnh buổi thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn.

Mở rộng nguồn vốn nhưng phải dựa trên dữ liệu

Đại biểu Nguyễn Văn Thân, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, cho biết cả nước hiện có gần 6 triệu hộ kinh doanh và gần 1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là lực lượng tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động trực tiếp và gián tiếp, nhưng đang đối mặt với nhu cầu vốn ngày càng tăng để đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng hoạt động.

Đại biểu đề nghị đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tài chính, triển khai sandbox và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, tổ chức tài chính vi mô trong và ngoài nước tham gia cung ứng vốn. Ông cũng kiến nghị nghiên cứu thí điểm một đến hai mô hình ngân hàng số độc lập. Việc tiết giảm chi phí vận hành có thể tạo điều kiện giảm lãi suất và mở rộng cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.

Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, lưu ý rằng ngân hàng số không đương nhiên có nguồn vốn huy động rẻ hơn ngân hàng truyền thống. Theo ông, điều kiện quan trọng để đánh giá khách hàng và quản trị rủi ro là phải có dữ liệu đầy đủ, được chuẩn hóa và chia sẻ thông suốt.

Ông cho biết tại ngân hàng nơi mình từng công tác, khoảng 99% giao dịch của khách hàng cá nhân và trên 96% giao dịch của khách hàng tổ chức được thực hiện trên kênh số. Tuy nhiên, nếu thiếu dữ liệu, ngân hàng vẫn khó có căn cứ để đánh giá và quyết định cho vay.

Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cũng cho rằng chính sách hỗ trợ không nên áp dụng đồng loạt cho toàn bộ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi nguồn lực Nhà nước có giới hạn và dễ bị dàn trải. Cần xác định rõ nhóm ưu tiên, tập trung vào ngành nghề, lĩnh vực và doanh nghiệp có tiềm năng, có khả năng liên kết với doanh nghiệp lớn, tham gia chuỗi sản xuất và cung ứng. Ông cho biết Vietcombank cam kết từ nay đến cuối năm giảm tối thiểu 2% lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.

Số hóa chính sách, ưu tiên doanh nghiệp siêu nhỏ

Bên cạnh tín dụng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị số hóa quá trình triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội và tín dụng cần được liên thông để giảm thủ tục, hạn chế việc doanh nghiệp phải cung cấp lặp lại hồ sơ. Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu quy định cụ thể nội dung này trong dự thảo Luật, gắn với trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Chính sách cũng cần đi cùng trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra cụ thể. Doanh nghiệp cần biết chính sách nào được hỗ trợ, điều kiện thụ hưởng ra sao, cơ quan nào giải quyết và kết quả thực hiện như thế nào. Theo Chủ tịch Quốc hội, thành lập doanh nghiệp đã tương đối thuận lợi; điều quan trọng là tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì hoạt động và phát triển thực chất.

Đặc biệt, cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, bởi đây là nhóm dễ gặp khó khăn về vốn, công nghệ, quản trị và tiếp cận chính sách. Các giải pháp cũng cần đa dạng hóa kênh huy động vốn ngoài ngân hàng như quỹ đầu tư, trái phiếu và các định chế tài chính phù hợp.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, nút thắt không chỉ nằm ở nguồn vốn của hệ thống ngân hàng mà còn ở cách đánh giá rủi ro và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Nếu không tháo gỡ được, các chính sách hỗ trợ về thuế, mặt bằng sản xuất, công nghệ và thị trường cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả.

NHNN yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm

https://nhadautu.vn/nhnn-yeu-cau-giam-lai-suat-tien-gui-niem-yet-toi-thieu-05-nam-d108349.htmlĐÌNH VŨ16:36 18/10/2026

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Các ngân hàng không chấp hành có thể bị xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

NHNN yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm. Ảnh: SBV

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành văn bản số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026, yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Theo văn bản của NHNN, các TCTD phải thực hiện nghiêm các quy định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất; tập trung mọi nguồn lực, tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất.

Trước mắt, điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. NHNN nhấn mạnh, các ngân hàng tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn an ninh tài chính – tiền tệ.

Ở chiều cho vay, cơ quan quản lý yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất đối với khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Yêu cầu này đặt các ngân hàng trước nhiệm vụ đồng thời điều chỉnh cả hai đầu của hoạt động kinh doanh: giảm chi phí huy động vốn và hạ lãi suất cho vay, trong khi vẫn phải bảo đảm an toàn thanh khoản, chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động.

NHNN cũng yêu cầu các TCTD phát triển hài hòa, cân đối giữa huy động vốn và tín dụng; thường xuyên rà soát cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền, kỳ hạn, đa dạng hóa các kênh huy động. Các ngân hàng phải kiểm soát rủi ro thanh khoản, mất cân đối kỳ hạn, đồng thời tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn để bảo đảm tính bền vững giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.

Như vậy, định hướng giảm lãi suất không đồng nghĩa với việc nới lỏng các yêu cầu quản trị rủi ro. Ngược lại, các ngân hàng phải chủ động cơ cấu nguồn vốn, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động để tạo dư địa hạ lãi suất.

TCTD kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro

Về phân bổ vốn, NHNN yêu cầu tăng trưởng tín dụng phải an toàn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế. Các ngân hàng được định hướng cấp tín dụng cho những công trình, dự án trọng điểm có tính khả thi, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời ưu tiên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giáo dục và đào tạo, công nghiệp văn hóa.

Đối với các dự án lớn, NHNN khuyến khích tăng cường cho vay hợp vốn. Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhấn mạnh các TCTD không được hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng, không đánh đổi chất lượng tín dụng để gia tăng quy mô cho vay.

Trong chỉ thị lần này, NHNN đặc biệt nhấn mạnh tới yêu cầu kiểm soát rủi ro với các TCTD. Cụ thể, yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, các khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn.

Trong đó, chú trọng theo dõi, đánh giá mức độ rủi ro tập trung tín dụng lớn tại các nhóm khách hàng và người có liên quan, cơ cấu tín dụng theo khách hàng, các dự án có quy mô lớn; lưu ý các nhóm khách hàng có một hoặc một số dấu hiệu như: cùng người quản lý hoặc đại diện theo pháp luật hoặc người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của khách hàng, chung tài sản bảo đảm (TSBĐ), chung một chủ sở hữu TSBĐ, tập trung vốn vào cùng một dự án, có chung nguồn trả nợ; đa dạng hóa danh mục tín dụng; kết hợp đánh giá các chỉ báo liên quan đến diễn biến giá bất động sản, thanh khoản thị trường, tồn kho dự án và tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp để sớm nhận diện các vi phạm, tồn tại và rủi ro tiềm ẩn, từ đó kịp thời có các giải pháp, biện pháp kiểm soát, xử lý phù hợp.

Kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân với các nhu cầu vốn: (i) Để thanh toán tiền góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng cổ phần của công ty cổ phần chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom.

(ii) Để thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định của pháp luật tại thời điểm TCTD quyết định cho vay.

(iii) Để bù đắp tài chính (trừ một số trường hợp khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định).

NHNN nhấn mạnh, vấn đề kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn của hệ thống TCTD có ý nghĩa rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế, an ninh, trật tự và an toàn xã hội của đất nước; vì vậy, trong thời gian tới, pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng sẽ tiếp tục được hoàn thiện để kiểm soát có hiệu quả, thực chất vấn đề sở hữu cổ phần, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, về mục đích sử dụng vốn vay.

Từ nay đến cuối năm 2026, đối với các TCTD không tuân thủ và không thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất, hoặc có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường, rủi ro trong hoạt động ngân hàng, ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật, NHNN căn cứ tính chất, mức độ rủi ro xem xét áp dụng các biện pháp: (i) Xem xét lại chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong thời gian còn lại của năm 2026 và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp năm 2027; (ii) Yêu cầu thực hiện một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định.

Cổ phiếu ngân hàng chịu sức ép từ yêu cầu giảm lãi suất cho vay

https://nhadautu.vn/co-phieu-ngan-hang-chiu-suc-ep-tu-yeu-cau-giam-lai-suat-cho-vay-d108369.htmlNGỌC ĐIỂM
15:39 19/10/2026

Cổ phiếu ngân hàng đồng loạt chịu áp lực bán sau yêu cầu giảm lãi suất cho vay của cơ quan quản lý. Trong bối cảnh chi phí vốn tăng cao, SSI Research dự báo NIM toàn ngành tiếp tục thu hẹp và tăng trưởng lợi nhuận chậm lại trong năm 2027.

Thống đốc yêu cầu ngân hàng cân đối lợi nhuận để chia sẻ khó khăn doanh nghiệp. Ảnh: NĐT

Trong phiên giao dịch ngày 19/10, VN-Index giảm hơn 16 điểm, xuống 1.689,84 điểm và đánh mất mốc 1.700 điểm. Nhóm cổ phiếu ngân hàng chịu áp lực bán với hàng loạt mã giảm giá như VPB, ACB, STB, VCB, SHB, BID, NVB và HDB.

VPB giảm 2,04% xuống 24.000 đồng/cp, với khối lượng giao dịch hơn 30,7 triệu đơn vị. Diễn biến này khá bất ngờ khi VPBank vừa công bố lợi nhuận quý III đạt hơn 11.000 tỷ đồng, đánh dấu quý thứ hai liên tiếp ghi nhận lợi nhuận ở mức kỷ lục.

NVB và VBB cùng giảm trên 2%, lần lượt xuống 13.300 đồng/cp và 12.150 đồng/cp. SHB giảm 0,94% xuống 10.550 đồng/cp, với khối lượng giao dịch hơn 30 triệu đơn vị.

Diễn biến trên xuất hiện trong bối cảnh cơ quan quản lý liên tiếp đưa ra yêu cầu giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Tại cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ ngày 16/10, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến chi phí vốn, hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, người dân. Trong khi đó, diễn biến thế giới phức tạp tạo áp lực lớn lên công tác điều hành lãi suất, tỷ giá và lạm phát; nợ xấu cùng các rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn tiềm ẩn.

Phó thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất thời gian qua, đồng thời sớm có biện pháp giảm lãi suất cho vay. Theo đó, lãi suất cho vay cần giảm 1,5-2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Tại cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước sáng 19/10, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho rằng việc ngân hàng duy trì kết quả kinh doanh tốt để phục vụ kế hoạch phát hành cổ phiếu, tăng vốn và thu hút nhà đầu tư là nhu cầu chính đáng. Tuy nhiên, nếu ngân hàng công bố lợi nhuận tăng cao trong khi doanh nghiệp vẫn phải chịu lãi suất vay lớn, điều này có thể tạo ra cảm nhận rằng hệ thống ngân hàng đang hưởng lợi trên khó khăn của doanh nghiệp.

Vì vậy, Thống đốc đề nghị các ngân hàng thương mại rà soát, cân đối lại kế hoạch lợi nhuận, dành một phần nguồn lực hỗ trợ cả khách hàng hiện hữu và khách hàng vay mới.

Chi phí vốn cao, lợi nhuận ngân hàng đối mặt sức ép

Trong bối cảnh thanh khoản hệ thống căng thẳng, chi phí vốn của các ngân hàng tăng lên. Theo SSI Research, tính đến tháng 9, lãi suất huy động đã tăng lên khoảng 8,3% tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, 8,8-9,4% tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu và 9,8-10% tại nhóm ngân hàng thương mại quy mô nhỏ.

Xu hướng tăng lãi suất trong 9 tháng đầu năm 2026 phản ánh áp lực mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tích tụ từ năm 2024, khi tăng trưởng cho vay vượt tăng trưởng tiền gửi. Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng cao cũng tạo thêm áp lực lên lạm phát.

Trong bối cảnh này, yêu cầu giảm lãi suất cho vay có thể tạo thêm sức ép lên biên lãi thuần (NIM) nếu lãi suất đầu ra giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn, qua đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

Theo số liệu được SSI Research đề cập, NIM giảm trong quý I/2026 do chi phí vốn tăng mạnh, trước khi phục hồi lên 3,22% trong quý II. Các ngân hàng đã tìm cách bảo vệ biên lãi thông qua việc điều chỉnh kỳ hạn cho vay và phân bổ tài sản sang những khoản mục có lợi suất cao hơn.

Tuy nhiên, SSI Research cho rằng đây có thể chỉ là nhịp phục hồi trong xu hướng giảm của NIM. Trong nửa cuối năm, khả năng duy trì biên lãi và kiểm soát chất lượng tài sản sẽ tiếp tục là thách thức đối với các ngân hàng.

SSI Research nhận định trong năm 2027, nguồn vốn vẫn là yếu tố hạn chế khả năng tăng trưởng của ngành ngân hàng, trong khi NIM có xu hướng giảm và chất lượng tài sản ngày càng đóng vai trò quan trọng.

Cụ thể, SSI Research dự báo NIM toàn ngành giảm nhẹ 2 điểm cơ bản xuống 3,11% trong năm 2027. Trong đó, NIM của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến tăng 2 điểm cơ bản, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 8 điểm cơ bản.

Vì vậy, sự phân hóa giữa các ngân hàng sẽ không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mà còn nằm ở khả năng huy động vốn với chi phí hợp lý và kiểm soát rủi ro trong môi trường nhiều thách thức.

Theo SSI Research, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có lợi thế nhờ nền tảng tiền gửi từ doanh nghiệp lớn và khối FDI, qua đó duy trì nguồn tiền gửi không kỳ hạn (CASA) với chi phí thấp và ổn định hơn, giúp giảm tác động từ môi trường lãi suất cao.

Ngược lại, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần chịu sức ép lớn hơn về chi phí huy động. Các ngân hàng có hạn mức tín dụng lớn như MBB, VPB và HDB duy trì lãi suất huy động cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng, trong khi các ngân hàng quy mô nhỏ phải trả lãi suất cao để giữ chân khách hàng.

Một yếu tố khác có thể gây sức ép lên NIM trong năm 2027 là cơ cấu tín dụng. Khi dòng vốn cho vay dịch chuyển nhiều hơn sang lĩnh vực hạ tầng, các ngân hàng có thể phải gia tăng tỷ trọng tài sản có biên lợi nhuận thấp và kỳ hạn dài, trong khi nguồn vốn tài trợ vẫn có chi phí cao và kỳ hạn ngắn.

Trong bối cảnh đó, SSI Research dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng trong phạm vi theo dõi đạt 15,4% trong năm 2027, thấp hơn mức dự báo 19,5% của năm 2026. Triển vọng tăng trưởng chậm lại phản ánh sức ép từ NIM thu hẹp và chi phí dự phòng gia tăng.

Tín dụng giảm tốc, ‘đi lùi’ nửa đầu tháng 10

https://nhadautu.vn/tin-dung-giam-toc-lai-suat-chiu-suc-ep-di-xuong-d108373.htmlĐÌNH VŨ
17:00 19/10/2026

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống giảm từ 11,59% cuối tháng 9 xuống 11,44% vào ngày 14/10, cho thấy nhịp mở rộng dư nợ có dấu hiệu chững lại, thậm chí đi lùi trong ngắn hạn. Trong khi đó, NHNN tiếp tục yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất huy động và cho vay.

Tín dụng giảm tốc, lãi suất chịu sức ép đi xuống. Ảnh: NĐT

Tín dụng xuất hiện nhịp đi lùi ngắn hạn

Theo thông tin được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn công bố tại cuộc họp ngày 19/10, đến ngày 14/10/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,72 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và tăng 16,73% so với cùng kỳ năm trước.

Con số này thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng 11,59% được NHNN công bố trước đó, hồi đầu tháng 10 là tính đến 30/9, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính từ đầu năm đã giảm khoảng 0,15 điểm % chỉ trong nửa đầu tháng 10.

Diễn biến này đáng chú ý trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, kéo theo nhu cầu vốn lớn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư.

Cùng với diễn biến tín dụng, sức ép giảm lãi suất đang gia tăng. Ngày 19/10, NHNN họp với các tổ chức tín dụng dưới sự chủ trì của Thống đốc Phạm Đức Ấn, sau khi ban hành Công văn số 9608/NHNN-CSTT về việc triển khai các giải pháp hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Tại cuộc họp, Thống đốc nhấn mạnh muốn giảm lãi suất cho vay thực chất, các ngân hàng phải đồng thời tiết giảm chi phí hoạt động, chia sẻ lợi nhuận và hạ chi phí huy động vốn. Lãi suất huy động là cấu phần quan trọng của chi phí vốn; nếu các ngân hàng tiếp tục đẩy lãi suất tiền gửi lên cao, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế.

Theo yêu cầu của NHNN, trước mắt, các tổ chức tín dụng phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; không chạy đua tăng lãi suất huy động, gây cạnh tranh không lành mạnh và bất ổn thị trường tiền tệ. Đồng thời, các ngân hàng phải triển khai giải pháp giảm lãi suất cho vay 1,5-2 điểm phần trăm/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Đáng chú ý, chính sách giảm lãi suất không thực hiện cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng, áp dụng đối với cả dư nợ hiện hữu và khoản vay mới. NHNN cũng yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, không hạ chuẩn cho vay để chạy theo quy mô tín dụng.

Đây là sự tiếp nối của nhiều đợt chỉ đạo giảm lãi suất từ đầu năm, đồng thời cho thấy cơ quan điều hành muốn chuyển yêu cầu chung thành hành động cụ thể hơn ở cả đầu vào và đầu ra của dòng vốn.

Sáu lần Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất

Từ đầu năm 2026, Chính phủ và NHNN đã nhiều lần yêu cầu hệ thống ngân hàng giảm mặt bằng lãi suất. Các mốc đáng chú ý gồm Chỉ thị 01/CT-NHNN đầu năm; cuộc họp với 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4; các văn bản chấn chỉnh, đôn đốc trong tháng 5; những chỉ đạo về hỗ trợ lãi suất và tín dụng trong các tháng tiếp theo; cùng với đó là yêu cầu mới nhất ngày 18/10. Tổng cộng từ đầu năm tới nay NHNN đã có 6 lần yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất.

Sau chỉ đạo mới, thị trường đã ghi nhận những phản ứng cụ thể ở cả lãi suất huy động và cho vay. Ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, BIDV triển khai chương trình cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam với lãi suất từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2%/năm so với mức thông thường, tùy kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.

Vietcombank cam kết từ nay đến cuối năm giảm tối thiểu 2%/năm suất cho vay.

Từ ngày 19/10, Agribank cũng triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, dự kiến dành khoảng 2.000 tỷ đồng nguồn lực tài chính để hỗ trợ khách hàng.

Ở nhóm ngân hàng cổ phần, LPBank và VietBank là những đơn vị đầu tiên điều chỉnh biểu lãi suất huy động ngay ngày 19/10.

LPBank giảm 0,5%/năm đối với các kỳ hạn 6-12 tháng và 0,6%/năm đối với các kỳ hạn 13-18 tháng. Đáng chú ý, ngân hàng này đồng thời giảm 1,6-2%/năm lãi suất đối với các khoản giải ngân mới phục vụ sản xuất, kinh doanh ngắn hạn.

VietBank giảm 0,5%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn 6-36 tháng.

Thị trường cũng ghi nhận thông tin ACB điều chỉnh biểu lãi suất huy động từ ngày 20/10; mức giảm cụ thể cần được đối chiếu với biểu lãi suất chính thức của ngân hàng trước khi công bố.

Những động thái này cho thấy yêu cầu điều hành đã bắt đầu được chuyển thành các chương trình cụ thể. Tuy nhiên, mức giảm tối đa theo từng chương trình, đồng nghĩa không phải toàn bộ khách hàng đều được hưởng mức lãi suất thấp hơn tương ứng.

Đánh giá về triển vọng, dư địa giảm lãi suất trong phần còn lại của năm 2026, VNDirect cho rằng mặt bằng lãi suất có khả năng duy trì tương đối ổn định đến hết năm và giảm rõ nét hơn từ đầu năm 2027, khi áp lực bên ngoài hạ nhiệt. Dự báo này phản ánh những ràng buộc từ áp lực lạm phát, nhu cầu vốn lớn và khả năng Mỹ tiếp tục tăng lãi suất.

Áp lực huy động vốn cũng là yếu tố khiến việc giảm lãi suất khó diễn ra đồng đều. Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), tăng trưởng tiền gửi thấp hơn tín dụng tiếp tục tạo sức ép lên nguồn vốn của các ngân hàng. Vì vậy, các đợt giảm lãi suất theo chỉ đạo của NHNN có thể tạo chuyển biến trước ở những chương trình cho vay ưu tiên và biểu lãi suất huy động niêm yết nhưng để mặt bằng lãi suất giảm bền vững trên diện rộng, hệ thống vẫn cần cải thiện khả năng huy động vốn và cân đối thanh khoản.