Thu hồi loạt dự án chắn biển: Đằng sau câu chuyện và góc nhìn chuyên gia

https://dantri.com.vn/bat-dong-san/thu-hoi-loat-du-an-chan-bien-dang-sau-cau-chuyen-va-goc-nhin-chuyen-gia-20220721074907784.htm

Thu hồi loạt dự án chắn biển: Đằng sau câu chuyện và góc nhìn chuyên gia

(Dân trí) – Theo chuyên gia, khi phát triển các dự án ven biển cần cân nhắc để tránh lợi ích trước mắt từ việc kinh doanh bất động sản tạo nên "bức tường nhà cao tầng" chạy dọc bờ biển.

GS. Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường – đã có những chia sẻ với Dân trí quanh vấn đề quy hoạch ven bãi biển.

Thu hồi loạt dự án chắn biển: Đằng sau câu chuyện và góc nhìn chuyên gia - 1

Theo GS. Đặng Hùng Võ, doanh nghiệp sai, doanh nghiệp phải chịu. Tuy nhiên, phải sòng phẳng cái gì địa phương phê duyệt cho họ làm rồi lại thay đổi thì địa phương phải chịu (Ảnh: IT).

Thu hồi, di dời các dự án nhằm đảm bảo môi trường, cảnh quan

Một số địa phương đã và đang thực hiện chỉ đạo thu hồi dự án, trả lại không gian cho bờ biển, ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

– Nhiều địa phương đang thực hiện việc thu hồi các dự án chắn biển. Có dự án bị thu hồi khi dự án hết thời gian thuê đất, một số công trình che chắn biển, xâm phạm lợi ích cộng đồng. Có nơi thực hiện chủ trương di dời hàng trăm ki ốt kinh doanh, nhà nghỉ dưỡng để làm sạch bãi biển…

Có nhiều lý do, nhưng nhìn chung đều ở vấn đề người ta sợ các dự án nằm ngay bờ biển như vậy tạo ra những điều không thuận lợi cho cảnh quan nói chung, các hoạt động du lịch gây ô nhiễm và cản trở các hoạt động kinh tế khác ở biển… Việc thu hồi này nhận được đồng tình từ phía người dân bởi vốn dĩ bãi biển là của chung.

Thực tế, nhiều bãi biển đẹp nhưng các dự án lại che chắn, làm không gian riêng cho doanh nghiệp. Do vậy, việc thu hồi, di dời các dự án sẽ nhằm đảm bảo môi trường, cảnh quan, lợi ích chung.

Có ý kiến cho rằng việc ven biển nhiều nơi trở thành "rừng cao ốc", các địa phương đua nhau cho doanh nghiệp thuê đất làm dự án chắn hết bờ biển, tạo ra mâu thuẫn lợi ích trong khu vực công cộng giữa người dân và doanh nghiệp… là không ổn ngay từ khi quy hoạch. Góc nhìn của ông?

– Theo tôi, những quy hoạch đó thuộc diện "duyệt cho có". Duyệt xong để có cơ sở giao đất cho doanh nghiệp thực hiện dự án.

Còn về nguyên tắc, phát triển phải dựa trên bản quy hoạch tạo nên lợi ích cao nhất, lợi ích chung cho cả cộng đồng và lợi ích của từng cư dân, lợi ích cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Song muốn đạt được hiệu quả tốt nhất thì cần một bản quy hoạch được nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và khả thi. Quy hoạch là yếu tố đặt nền móng cho phát triển và cũng là kịch bản phát triển cho tương lai.

Ngay từ bản quy hoạch dự án đã phải đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật đã được quy định, thể hiện được sự thông minh, sáng tạo và dự báo hướng đến tương lai xem cái gì có lợi nhất cho cộng đồng con người, giải quyết các vấn đề đang tồn tại gây hại cho đời sống con người, tạo đà cho các bước phát triển về sau…

Khi có quy hoạch hiệu quả và khả thi, chính quyền từ đó phê duyệt dựa trên sự cân nhắc sử dụng đất trên toàn khu vực cho tới từng thửa đất. Việc giao và cho thuê đất xong, cho phép xây dựng, rồi lại thu hồi lại đất do gặp nhiều ý kiến không đồng thuận cả từ người dân, từ công luận, từ cấp trên… cũng cho thấy quy hoạch đó cũng chỉ theo tầm nhìn của lợi ích trước mắt.

Giờ nhìn lại theo tầm nhìn dài hạn mới thấy bất cập, nên giờ thu hồi lại mọi quyết định cũ để khắc phục tầm nhìn hạn hẹp trước đây. Việc khắc phục lại như vậy bao giờ cũng lãng phí của cải xã hội.

Không phải mọi công trình ven biển đều sai

Câu chuyện di dời các dự án chắn biển đang được thực hiện ở nhiều nơi (Bình Định, Nha Trang, Nghệ An…). Có những địa phương đặt ra bao năm giờ mới rốt ráo thực hiện, cũng có những nơi chưa thấy gì, ông nghĩ sao về vấn đề này?

– Thực tế, nhiều địa phương đang có chỉ đạo thu hồi, di dời các dự án che lấp đường bao bờ biển. Như Nha Trang vừa qua đã cưỡng chế dự án Nha Trang Sao, sắp tới là dự án Công viên Phù Đổng. Địa phương này cũng vừa ký quyết định điều chỉnh quyết định về việc thu hồi đất, mặt nước biển tại dự án Khu nghỉ dưỡng Ana Mandara.

Ở Cửa Lò, dự kiến cuối năm nay, đầu năm 2023 có hơn 220 ki ốt kinh doanh, nhà nghỉ dưỡng… nằm dọc bãi biển, sẽ không được kinh doanh và nhường lại mặt bằng để làm sạch bãi biển.

Nhưng bây giờ hỏi địa phương nào làm đúng, làm tốt, địa phương nào làm chưa đúng rất khó. Bởi lẽ, có thể những địa phương chưa làm bởi họ thấy chưa cần phải làm, hoặc việc thu hồi tùy thuộc vào từng khu vực, quan điểm của lãnh đạo địa phương như thế nào…

Thu hồi loạt dự án chắn biển: Đằng sau câu chuyện và góc nhìn chuyên gia - 2

Với tầm nhìn khác về tiềm năng kinh tế biển sẽ dẫn tới cách nhìn khác về quy hoạch và khai thác vùng ven bờ biển (Ảnh: DT).

Nhìn chung, để có thể trả lời chính xác thì cần có đoàn đi khảo sát, nghiên cứu thực tế thì mới có thể đánh giá được tổng thể hiện trạng quy hoạch ven biển hiện nay. Rồi việc đúng sai cũng cần phải dựa vào quy hoạch đã được duyệt rồi, thậm chí tính hợp lý của quy hoạch đã được duyệt.

Không phải mọi công trình ven biển đều sai. Có những công trình sai, có những dự án đúng. Không thể đánh đồng được. Chắc chắn phải có quy hoạch chuẩn với tầm nhìn dài hạn và toàn diện, dựa vào đó để cân nhắc.

Hiện nay, các địa phương ven biển nước ta mới hiểu và quan tâm tới những ngành kinh tế biển truyền thống. Dùng bờ biển cho các dự án đầu tư mới nhiều nhất hiện nay vẫn là du lịch biển và đô thị biển, cũng có dự án lớn nhưng chủ yếu vẫn là các dự án nhỏ. Còn lại là những địa điểm từ cũ với các ngành kinh tế biển truyền thống như đánh bắt hải sản, vận tải biển và khai thác khoáng sản.

Trong khi đó, trên thế giới người ta đã nhìn biển với tiềm năng kinh tế lớn hơn nhiều như nông nghiệp biển, khai thác năng lượng tái tạo của biển. Với tầm nhìn khác về tiềm năng kinh tế biển sẽ dẫn tới cách nhìn khác về quy hoạch và khai thác vùng ven bờ biển.

Việc thu hồi, di dời các công trình chắn biển sẽ gặp không ít khó khăn vì vấn đề lợi ích, theo ông cần giải quyết vấn đề này thế nào?

– Giải quyết bài toán lợi ích bao giờ cũng là vấn đề khó. Trong trường hợp thu hồi khi dự án hết thời gian thuê đất hay làm sai quy hoạch thì doanh nghiệp phải chấp hành. Nếu doanh nghiệp không chấp hành, chính quyền có thể tiến hành cưỡng chế, thu hồi theo quy định.

Doanh nghiệp sai, doanh nghiệp phải chịu. Tuy nhiên, phải sòng phẳng cái gì địa phương phê duyệt cho họ làm rồi lại thay đổi thì địa phương phải chịu. Xử lý vấn đề này, phải đảm bảo cân đối lợi ích của các bên. Nếu các dự án ban đầu được chấp thuận đầu tư đúng quy hoạch tại thời điểm đó, sau đó họ lại bị thu hồi cho thấy bất cập từ phía cơ quan quản lý, không phải từ doanh nghiệp.

Đấy là ta giả định các bản quy hoạch đã được duyệt phù hợp. Trên thực tế có nhiều bản quy hoạch theo kiểu quá "lãng mạn" hay quá "nông cạn" hay làm ra để cho có quy hoạch, không làm đúng tiêu chuẩn nào cả. Cho phép doanh nghiệp đầu tư, sau đó có thể thấy sai rồi bắt dừng lại làm cho các doanh nghiệp đã thực hiện đầu tư cũng chịu nhiều thiệt hại.

Việt Nam cũng có quy định pháp luật về bồi thường cho doanh nghiệp nếu hệ thống quản lý gây ra thiệt hại. Quy định này cũng thiếu chi tiết và ít được thực hiện trên thực tế, nên doanh nghiệp thường phải im lặng chịu đựng thua thiệt, lãng phí lớn. Việc này cũng nên được cân nhắc để tránh ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.

Cân nhắc khi tạo nên "bức tường nhà cao tầng" chạy dọc bờ biển

Các địa phương đang thực hiện đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung. Theo ông, phương án gì để quy hoạch bãi biển một cách đồng bộ và có lợi cho phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích cộng đồng? Bài toán quy hoạch ven biển thời gian tới sẽ cần chú trọng những gì?

– Nếu cứ theo đúng luật quy hoạch làm và làm tốt thì sẽ có quy hoạch hợp lý. Nếu làm không tốt, không đúng, quy hoạch sẽ bất hợp lý. Đấy là nói về luật pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật của quy hoạch.

Đối với quy hoạch cho từng loại không gian mặt đất, người làm quy hoạch phải hiểu thật rõ hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng kinh tế, xã hội, môi trường của không gian mặt đất để đề xuất các kịch bản quy hoạch dựa trên thay đổi hiện trạng để hướng tới tương lai tạo lợi ích cao hơn chi phí nhiều lần. Chi phí – lợi ích phải cân nhắc phân tích cả về kinh tế, xã hội và môi trường.

Đối với không gian vùng ven biển, bờ biển cần được xem xét với tiềm năng kinh tế biển gắn với rủi ro phát triển trong mối quan hệ giữa vùng bờ với vùng biển ven bờ và vùng biển xa. Chúng ta cũng lưu ý xu hướng thế giới hiện nay là tràn xuống biển với những ngành kinh tế mới có tiềm năng lớn như điện gió ngoài biển, năng lượng tái tạo từ sóng biển, từ thủy triều; nông nghiệp biển, nuôi biển xa bờ; đô thị trên đảo xa, trên biển gắn với du lịch, nghỉ dưỡng.

Từ phát triển của vùng biển sẽ tạo động lực để phát triển vùng núi còn nghèo nàn. Nhìn từ góc độ khác, biển cũng chứa đựng nhiều hiểm họa từ các tai biến thiên nhiên như bão lớn, động đất, sóng thần… Các thảm họa như vậy cũng cần được nghiên cứu, lượng tính như những rủi ro có thể gặp phải.

Mặt khác nữa, vùng bờ biển thoải cũng tạo nên ngữ cảnh mắt nước thay đổi hàng ngày theo thủy triều làm ra một vùng không cạn, không ngập nước. Thế giới đã hình thành lý thuyết về quản lý tích hợp giải ven bờ mà chúng ta cần áp dụng.

Để có một quy hoạch chất lượng, phải đảm bảo năng lực từ khâu tư vấn quy hoạch, những chuyên gia làm quy hoạch họ có con mắt riêng nhìn vào hiện trạng và tiềm năng để tìm ra con đường phát triển hiệu quả nhất. Từ đó, những người quản lý cũng hiểu kỹ hơn về không gian mặt đất mình đang quản lý để thẩm định và phê duyệt. Quá trình này phải khách quan và độc lập về lợi ích. Nếu bất kỳ khâu nào bị "nhóm lợi ích bao vây" cũng sẽ làm mất tính "tự nhiên, khách quan" của con đường phát triển.

Khi phát triển các dự án ven biển, mà đặc biệt là ven biển gắn với các đô thị hiện hữu, tôi cho rằng cần cân nhắc để tránh lợi ích trước mắt từ kinh doanh bất động sản tạo nên "bức tường nhà cao tầng" chạy dọc bờ biển, làm mất hết các tiềm năng kinh tế biển khác, ít nhất là mất đi cảnh quan mặt biển đối với dân cư sinh sống ở bờ biển và đại đa số du khách muốn thấy biển đẹp mà đến.

Chúng ta hãy nhìn biển nước nhà với tiềm năng đóng của kinh tế biển hiện đại và những rủi ro có thể từ tai biến thiên nhiên từ biển, từ đó mà có quy hoạch để khai thác hết tiềm năng và ngăn chặn được các rủi ro từ biển, đồng thời tìm ra con đường đi rẻ nhất từ hiện trạng tới ngữ cảnh mà quy hoạch đã chỉ ra, được thẩm định, được phê duyệt và được nghiêm túc thực hiện, đừng làm quy hoạch theo kiểu "cho có" nữa.

Quy hoạch công khai rộng rãi, thành tâm lấy ý kiến của cộng đồng dân cư, của các chuyên gia nhiều kinh nghiệm, các nhà đầu tư quan tâm. Và cũng cần làm cho bản quy hoạch đó được xây dựng độc lập, khách quan, không bị lợi ích riêng chi phối.

Thị trường “xì hơi”, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu

https://dantri.com.vn/bat-dong-san/thi-truong-xi-hoi-van-phong-moi-gioi-bat-dong-san-diu-hiu-20220808162804865.htm

Thị trường "xì hơi", văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu

Hà Phong
Thứ ba, 09/08/2022 – 07:17

(Dân trí) – Thị trường bất động sản ít thanh khoản thời gian này khiến hàng loạt văn phòng môi giới ở những nơi từng "sốt nóng" phải đóng cửa, im ắng.

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 1

Báo cáo thị trường bất động sản quý II vừa qua của nhiều đơn vị nghiên cứu cho thấy, tốc độ giao dịch trên thị trường địa ốc chậm lại. Thị trường vẫn tồn tại không ít khó khăn và thách thức như lạm phát, sự bất ổn chính trị trên thế giới, nguồn cung hạn chế, vốn tín dụng bị siết… Thị trường trầm lắng khiến các văn phòng môi giới bất động sản rơi vào tình trạng "cửa đóng then cài" (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 2

Theo ghi nhận của Dân trí, một số quận, huyện ngoại thành Hà Nội như: Hà Đông, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm, huyện Hoài Đức… từng nhan nhản sàn giao dịch tự phát nhưng đến nay đã đóng kín cửa. Chỉ riêng trong khu đô thị An Khánh (huyện Hoài Đức) từ hàng chục điểm tư vấn nhà đất, giờ chỉ còn một sàn giao dịch hoạt động èo uột (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 3

Hàng loạt văn phòng môi giới bất động sản trên trục đường chính vào dự án khu đô thị Nam An Khánh (Hoài Đức, Hà Nội) thời điểm này đều vắng vẻ, không có hoạt động giao dịch mua – bán – tư vấn (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 4

Anh Nguyễn Văn Quảng – một môi giới khu vực huyện Hoài Đức cho biết, từ tháng 4, không ít môi giới tại các văn phòng môi giới ở khu vực Nam An Khánh phải nghỉ việc do thị trường rơi vào cảnh trầm lắng. Nhiều sàn giao dịch cũng phải tạm thời đóng cửa, chờ đợi diễn biến mới của thị trường (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 5

Một văn phòng nhà đất tự phát nằm trong dự án nhà ở khu Văn phòng Quốc hội (Nam Từ Liêm, Hà Nội) cũng rơi vào cảnh đìu hiu, phủ bạt (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 6

Ghi nhận những ngày này, khu vực huyện Quốc Oai, Thạch Thất, thị xã Sơn Tây (Hà Nội) đã không còn "sốt đất" như suốt 2 năm qua. Dọc đại lộ Thăng Long nhiều văn phòng môi giới bất động sản khu vực ngoại thành của Hà Nội thời gian này luôn trong tình trạng "cửa đóng then cài" (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 7

Không chỉ ở Hà Nội, thị trường bất động sản các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang cũng ghi nhận trầm lắng. Các văn phòng môi giới không có hoạt động tư vấn, mua bán (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 8

Một số sàn môi giới cũng tạm thời đóng cửa, khác xa với cảnh nhộn nhịp trong giai đoạn thị trường "sốt nóng" (Ảnh: Hà Phong).

Thị trường xì hơi, văn phòng môi giới bất động sản đìu hiu - 9

Chỉ có số ít môi giới kiên trì bám trụ với dự án thời gian này. "Mấy hôm nay, tôi chỉ ra văn phòng cho có, chứ biết là ra cũng chẳng có khách như dạo tháng 4 đổ lại, họa may có vài nhà đầu tư có nhu cầu thật đến nhờ đưa đi xem, nhưng họ cân nhắc thận trọng về giá, khó giao dịch", một môi giới nhà đất ở Bắc Giang chia sẻ (Ảnh: Hà Phong).

Giá bất động sản sắp tới tăng hay giảm?

https://dantri.com.vn/bat-dong-san/gia-bat-dong-san-sap-toi-tang-hay-giam-20220808101849915.htm

Giá bất động sản sắp tới tăng hay giảm?

Nguyễn Khánh
Thứ hai, 08/08/2022 – 11:31

(Dân trí) – Thị trường bất động sản đã và đang có dấu hiệu hạ nhiệt. Vậy thị trường từ nay đến cuối năm sẽ ra sao, liệu giá có giảm?

Thị trường hạ nhiệt, giá liệu có giảm?

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Xây dựng, thị trường bất động sản đã có những dấu hiệu hạ nhiệt. Cụ thể, giá căn hộ chung cư vẫn tăng so với thời điểm cuối năm 2021, song chậm dần và có dấu hiệu chững lại trong các tháng quý II năm nay.

Còn đối với phân khúc giá nhà ở riêng lẻ, đất nền cho xây dựng nhà ở tại các dự án trong quý II năm nay, Bộ Xây dựng cũng cho biết "đang có xu hướng chững lại ở hầu hết các địa phương khi các hoạt động đầu tư, kinh doanh, dịch vụ thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác được phục hồi, bình thường trở lại".

Giá bất động sản sắp tới tăng hay giảm? - 1

Một số chuyên gia cho rằng, dù có khó khăn song việc giảm giá là khó xảy ra bởi thị trường vẫn đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng (Ảnh: Trần Kháng).

Vậy thị trường bất động sản trong các quý cuối năm nay sẽ ra sao, liệu giá có giảm đang là vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo nhận định của SSI Research, thị trường bất động sản hạ nhiệt và chủ đầu tư có thể đối mặt với rủi ro khi tỷ suất lợi nhuận có thể bị ảnh hưởng bởi giá đất tăng, giá vật liệu xây dựng và lãi suất cao hơn.

Một số chuyên gia khác cho rằng, dù có khó khăn song việc giảm giá là khó xảy ra bởi thị trường vẫn đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng. Việc giảm giá khó xảy ra khi mất cân đối cung – cầu, trong đó cầu cao – cung thấp.

Tuy nhiên, tại hội thảo mới diễn ra, TS Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ quốc gia đưa ra nhận thị trường bất động sản thời gian tới giá có thể giảm đi 30% nhưng "không sụp đổ và sau đó sẽ phục hồi".

"Năm 2008, giá bất động sản giảm tới 60 – 70%. Chúng ta đang có nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát thấp, tăng trưởng kinh tế cao, lãi suất tăng ít. Nền tảng này giúp cho nhận định giá bất động sản có thể giảm 30%, sau đó có thể phục hồi trở lại", ông Nghĩa dự báo.

Còn theo ông Nguyễn Văn Đính – Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, trong nửa đầu năm nay, thị trường bất động sản bị tác động bởi hàng loạt yếu tố như lạm phát phủ bóng lên nền kinh tế, dòng tiền có những dấu hiệu chậm lại; thanh khoản giảm rõ rệt; chính sách siết tín dụng và hạn chế nguồn cung làm cho giá nhà bị đẩy lên, vượt quá sức mua của phần lớn người dân…

"Chính những điều đó đã ảnh hưởng tới thị trường bất động sản Việt Nam. Cụ thể, đối với nhà ở, dòng tiền dễ chủ yếu phân bố vào các dạng bất động sản đầu cơ nên đẩy giá nhà tăng quá nhanh. Nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp không được chú trọng, dẫn đến thiếu nguồn cung cho phân khúc mà nhu cầu để ở thực rất cao", ông Đính nói.

Trong 6 tháng cuối năm, ông Nguyễn Văn Đính cho rằng, thị trường bất động sản đang trải qua thời kỳ tái cân bằng. Giá nhà sẽ chịu áp lực tăng do chi phí tăng: lạm phát, nhu cầu nhà ở cao và nguồn cung thấp tiếp tục khiến chi phí tăng vọt. Thanh khoản sẽ giảm, dòng tiền dễ không còn. Các nhà đầu tư cũng có xu hướng cho dòng tiền nghỉ ngơi và trở nên thận trọng hơn.

"Nếu không được tháo gỡ, có thể có một giai đoạn đóng băng dài và gây đổ vỡ cho các doanh nghiệp. Vì vậy, cần có các chính sách hỗ trợ để quá trình tái cân bằng của thị trường diễn ra", ông Đính nhấn mạnh.

Phân tích thêm về lý do giá bất động sản tăng, ông Nguyễn Văn Đính cho rằng, nguồn hàng hiện nay đang rất thiếu, dự án đang đình trệ, thậm chí có cả những dự án chưa đưa vào thị trường. Theo ông, hiện có nhiều dự án găm đất đai, chưa muốn đưa hàng vào thị trường.

Theo ông Đính, nhiều địa phương sốt đất, khi thị trường hàng hóa khan hiếm, họ tìm cách lách để có nguồn hàng "lậu", hàng giả… Đó là san lấp đất rừng, gom đất chia lô tách thửa dù địa phương không có nhu cầu. Họ chỉ có mục đích mua, không có nhu cầu sử dụng. Việc đầu cơ đó làm cho thị trường trở nên méo mó.

Trong khi nguồn cung trên thị trường không nhiều nhưng nhu cầu thật về nhà ở, đầu tư lớn nên gây ra hiệu ứng tăng giá, "sốt đất".

Nhận định về khả năng giảm giá, ông Đính cho rằng, có thể sẽ xuất hiện ở nhóm được "thổi giá" trong giai đoạn gần đây, còn những bất động sản khác có nhu cầu thực rất khó giảm giá.

Giá bất động sản không giảm nhưng có còn tăng mạnh?

Trong một khảo sát của trang batdongsan.com.vn về giá bất động sản trong tương lai, đa số vẫn cho rằng giá nhà sẽ tăng. Thậm chí, có khoảng 35% khi tham gia khảo sát còn cho rằng giá bất động sản sẽ tăng mạnh, 50% cho rằng sẽ tăng nhưng nhẹ và chỉ 1% cho rằng sẽ giảm mạnh.

Giá bất động sản sắp tới tăng hay giảm? - 2

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận một thực tế là giá bất động sản quá cao đang là rào cản lớn nhất đối với người mua. Trong một cuộc khảo sát khác, có 78% người tham gia cho rằng giá bất động sản quá cao là rào cản lớn nhất, tiếp đến mới là các vấn đề về lãi suất vay mua nhà, lo ngại suy thoái kinh tế, không đủ vay ngân hàng.

Ông Lê Bảo Long, Giám đốc Chiến lược của Batdongsan.com.vn nhận định khi bất động sản đã ở nền giá cao sau một thời gian liên tục tăng giá, thì việc người tiêu dùng dự đoán giá bất động sản sẽ không tăng mạnh nữa là điều dễ hiểu.

"Tuy nhiên 50% đáp viên vẫn tin bất động sản sẽ tăng giá nhẹ, gần như không có ai cho rằng bất động sản sẽ giữ nguyên hoặc giảm giá trong 1-5 năm tới", ông Long nói.

Theo Bộ Xây dựng, nguồn cung mới các sản phẩm bất động sản ở tất cả các phân khúc trong nửa đầu năm nay đều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do việc siết chặt các thủ tục pháp lý của các dự án bất động sản. Ngoài ra, việc dòng vốn cho thị trường bị thu hẹp từ nhiều phía như kiểm soát chặt tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, sự suy giảm của thị trường trái phiếu… cũng là nguyên nhân khiến nguồn cung hạn chế.

Tuy vậy, nhà ở, đất nền vẫn là loại hình bất động sản thu hút sự quan tâm nhiều nhất trong nửa đầu năm nay, đặc biệt là phân khúc nhà ở thương mại trung cấp, bình dân và nhà ở xã hội. Tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, nguồn cung cho phân khúc này tương đối ít,

Về tình hình giao dịch các sản phẩm bất động sản trên thị trường sơ cấp và thứ cấp, theo Bộ Xây dựng, dù có cải thiện so với cùng kỳ năm ngoái song đang có xu hướng chững lại so với thời điểm cuối năm 2021. Các giao dịch chủ yếu vẫn tập trung ở loại hình căn hộ chung cư trung cấp, nhà ở riêng lẻ và đất nền.

Bộ Xây dựng kiến nghị, cần rà soát lập danh mục các dự án nhà ở, bất động sản trên địa bàn; từ đó đánh giá cụ thể lý do, nguyên nhân đối với các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng chưa triển khai hoặc chậm triển khai. Trên cơ sở đó, tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc về pháp lý, thủ tục chuẩn bị đầu tư các dự án nhà ở để tăng nguồn cung cho thị trường.

Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao?

https://dantri.com.vn/bat-dong-san/thi-truong-bat-dong-san-dang-ha-nhiet-ra-sao-20220808175607379.htm

Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao?

Nguyễn Khánh
Thứ ba, 09/08/2022 – 09:10

(Dân trí) – Giá một số phân khúc bất động sản vẫn tăng so với thời điểm cuối năm 2021. Song mức độ tăng giá các phân khúc tập trung trong quý I chậm dần và có dấu hiệu chững lại trong các tháng quý II năm nay.

Thị trường bất động sản đang hạ nhiệt ra sao? - 1

Sửa Luật Đất đai 2013 nhưng không thoát “cái bóng” của nó

https://www.saigondautu.com.vn/bat-dong-san/sua-luat-dat-dai-2013-nhung-khong-thoat-cai-bong-cua-no-108108.html

Sửa Luật Đất đai 2013 nhưng không thoát “cái bóng” của nó

Thứ Ba, 9/8/2022 09:32

(ĐTTCO) – Tại buổi lấy ý kiến góp ý của doanh nghiệp và chuyên gia về Luật Đất đai (sửa đổi) diễn ra tuần qua, một số chuyên gia cho rằng nhiều quy định trong dự thảo chưa hợp lý, và cuối cùng cũng vào vòng xoáy “cái bóng” của Luật Đất đai 2013.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2013 đã bị các chuyên gia và DN phản ứng vì vẫn còn "bóng" của Luật Đất đai 2013.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2013 đã bị các chuyên gia và DN phản ứng vì vẫn còn "bóng" của Luật Đất đai 2013.

Rắc rối quy định “giá đất cụ thể”

Theo Khoản 1 Điều 131 của dự thảo, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan định giá đất cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể… Cụ thể, cơ quan định giá đất cấp tỉnh trình hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm chủ tịch UBND tỉnh làm chủ tịch, và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.

Phân tích về quy định này, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Phó Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Luật Hà Nội, cho rằng quy định này chưa có sự đổi mới về cơ chế xác định giá đất cụ thể, về cơ bản vẫn kế thừa Luật Đất đai 2013. Qua tổng kết thực tiễn gần 10 năm thi hành Luật Đất đai 2013 cho thấy, quy định về giá đất cụ thể là điểm không thành công của luật này.
Bởi giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định được sử dụng làm căn cứ tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất không nhận được sự đồng thuận của nhiều người bị thu hồi; tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn chiếm tỷ lệ cao (khoảng 60% khiếu nại của người dân), do giá đất cụ thể được xác định thấp hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường.

Bên cạnh đó, hội đồng thẩm định giá đất chưa đảm bảo sự độc lập theo như tinh thần của Nghị quyết 18-NQ/TW (về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất…).
Bởi theo quy định của dự thảo, chủ tịch UBND cấp tỉnh là chủ tịch hội đồng thẩm định giá và các thành viên là đại diện các cơ quan, tổ chức công, có nghĩa chỉ 1 cơ quan có hiểu biết chuyên sâu về xác định giá đất là tổ chức tư vấn xác định giá đất. “Thông thường, nguyên tắc chung của bất kỳ hội đồng nào là làm việc tập thể, quyết định theo đa số. Vậy với cơ cấu và thành phần nêu trên liệu có đảm bảo tính độc lập của hội đồng thẩm định giá?” – ông Tuyến đặt câu hỏi.

Từ đó, ông Tuyến đề xuất dự thảo nên chỉnh theo hướng: “Cơ quan quản lý giá đất cấp tỉnh – độc lập với UBND cấp tỉnh – quyết định giá đất cụ thể và được thuê tổ chức có chức năng tư vấn, xác định giá đất để tư vấn mới xác định giá đất cụ thể”. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.

Ở khía cạnh khác, liên quan đến quy định về bảng giá đất, theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam, cần xác định rõ thế nào là giá đất phổ biến trên thị trường có sự biến động để làm căn cứ điều chỉnh bảng giá đất, do giá đất trên thị trường luôn biến động từng ngày.
Việc biến động giá đất trên thị trường xuất phát từ nhiều lý do và luôn có tình trạng cố tình thổi giá. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào sự biến động giá đất trên thị trường để làm căn cứ điều chỉnh bảng giá đất, bảng giá đất sẽ được điều chỉnh liên tục, tạo sự thiếu ổn định và gây nhiều ý kiến tranh cãi, không thống nhất.

Tại sao là 100ha?

Theo Điều 64 dự thảo luật, đất được lựa chọn để thực hiện đấu thầu dự án phải đảm bảo nhiều điều kiện, trong đó khu đất đã có quy hoạch chi tiết 1/500, tiêu chí và điều kiện về đấu thầu dự án phải có quy mô diện tích từ 100ha trở lên…

Ông Nguyễn Văn Đỉnh, chuyên gia pháp lý đất đai, cho rằng quy định này xung đột với Khoản 7, Điều 19, Luật Quy hoạch đô thị, và Khoản 3, Điều 24, Luật Xây dựng. Theo đó, quy hoạch chi tiết do chủ đầu tư dự án lập. Điều bất hợp lý ở chỗ, “nếu chưa đấu thầu dự án, chưa lựa chọn được chủ đầu tư, thì chủ thể nào chịu trách nhiệm lập quy hoạch chi tiết và bằng nguồn kinh phí nào? Quy định như dự thảo sẽ gây xung đột pháp luật trong đấu thầu dự án”. Ông Đỉnh cũng lưu ý, Nghị định 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, chỉ yêu cầu có quy hoạch phân khu xây dựng hoặc quy hoạch phân khu đô thị là đủ điều kiện đấu thầu, không cần có quy hoạch chi tiết.

Về quy định tiêu chí, điều kiện đấu thầu dự án phải có quy mô diện tích từ 100ha trở lên, theo ông Đỉnh có phần duy ý chí và bất khả thi, bởi quy mô 100ha rất lớn. Trong khi với dự án xây dựng khu đô thị theo pháp luật xây dựng chỉ cần có quy mô sử dụng đất từ 20ha trở lên. “Luật Đất đai áp dụng chung cho cả nước, trong đó có những địa phương trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao. Việc đấu thầu dự án có quy mô 100ha rất khó thu hút đầu tư cũng như kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, dễ dẫn đến dự án treo, bỏ hoang hóa đất đai” – ông Đỉnh cảnh báo.

Đại diện CTCP Eurowindow Holding cho rằng, với tiêu chí 100ha trở lên, các quỹ đất có diện tích dưới 100ha chỉ có thể lựa chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu giá. Như vậy ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ phải thu xếp trước tiền giải phóng mặt bằng (khoảng 2,5-5 tỷ đồng/ha) và không phải địa phương nào cũng có thể bố trí được NS để thực hiện. Từ đó, các địa phương sẽ có xu hướng lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu giá đối với các dự án nhỏ. Điều này sẽ không cải thiện được bộ mặt đô thị, hiệu quả quỹ đất, làm giảm thu NSNN, chưa kể trường hợp tổ chức đấu giá không lựa chọn được nhà đầu tư, khi đó NSNN sẽ bị ảnh hưởng, gây lãng phí.

Luật Đất đai 2013 trao UBND cấp tỉnh nhiều quyền năng (quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất…) sẽ khó tránh tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong thu hồi đất, xác định giá đất cụ thể để bồi thường cho người bị thu hồi đất.

Hà My

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

https://www.saigondautu.com.vn/ngan-hang/kiem-soat-tin-dung-vao-bat-dong-san-108122.html

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

Thứ Ba, 9/8/2022 08:46

(ĐTTCO) – Kiên định chỉ tiêu tín dụng định hướng năm 2022 là 14%, điều hành chặt chẽ tín dụng bất động sản (BĐS), là thông tin được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra trong thông báo tuần qua. Đây là lần thứ 2 trong vòng 1 tháng, cơ quan điều hành chính sách tiền tệ phát đi thông điệp về vấn đề này.

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản

Thời gian gần đây, qua các kênh khác nhau, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) gửi đến cơ quan điều hành thông tin về việc room tín dụng đã cạn. Tình hình này khiến các NH không thể tiếp tục giải ngân cho khách hàng. Còn các khách hàng, nhất là doanh nghiệp BĐS, bị rơi vào thế khó khi dự án đang triển khai nhưng khoản vay ngàn tỷ chưa được giải ngân.

Theo NHNN, nguyên nhân do các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng tín dụng quá nhanh trong 6 tháng đầu năm. Việc từ chối cho vay đối với khách hàng không hẳn do hết room, còn có thể do phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn, hoặc một số NH xếp hạng thấp không được tăng trưởng tín dụng cao… Nếu NH nào hoạt động chủ yếu tập trung cho vay ngắn hạn, cho vay bổ sung vốn lưu động, sẽ thường xuyên có nguồn thu nợ và tiếp tục cho vay. Một số TCTD chủ yếu cho vay trung, dài hạn, tập trung vào lĩnh vực BĐS thời gian quay vòng vốn chậm, không thu hồi được nợ nhanh, dẫn đến hết dư địa tăng trưởng tín dụng.

Những tháng đầu năm, tín dụng tăng nhanh trước diễn biến phục hồi của nền kinh tế. Tính đến ngày 20-7, dư nợ toàn hệ thống tăng 9,27% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ 2021 tăng 6,47%) và tăng 16,61% so với cùng kỳ 2021 (cùng kỳ 2021 tăng 15,87%). Điều này cho thấy, chính sách tín dụng đang thực hiện hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế, nhưng cũng là tín hiệu thể hiện tín dụng đã tăng rất mạnh.

Trong bối cảnh áp lực tăng giá ngày càng gia tăng, khi lạm phát từ bên ngoài đã bắt đầu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất trong nước, cũng như nợ xấu NH tăng ở mức cao, cơ cấu tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là tín dụng bán lẻ và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng, thì chính sách tiền tệ phải thận trọng, chủ động thích ứng với rủi ro lạm phát, tỷ giá.

Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11-1-2022 của Quốc hội và Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30-1-2022 của Chính phủ, yêu cầu thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ để phục hồi kinh tế, nhưng mục tiêu bao trùm vẫn phải đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Việc điều hành phải theo dõi sát sao diễn biến tốc độ giải ngân của chương trình phục hồi, sự tích cực của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam.
Đây là những vấn đề liên quan tới chính sách tiền tệ ngắn hạn cần theo dõi. NHNN tiếp tục điều hành theo chỉ tiêu định hướng 14% đã đề ra từ đầu năm; đồng thời theo dõi sát diễn biến để có chỉ đạo điều hành, kết hợp với chính sách tài khóa.

Với tín dụng lĩnh vực BĐS, đến tháng 6 tổng dư nợ đạt trên 2,36 triệu tỷ đồng, tăng 14,07% so với cuối năm 2021, chiếm 20,74% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống (cùng kỳ năm 2021 tăng 8,2%, chiếm 19,9%). Dù nguồn vốn tín dụng chỉ là một trong số các nguồn vốn đầu tư vào thị trường BĐS, nhưng đây là nguồn vốn mang tính chất trọng yếu. Tuy vậy, NHNN khẳng định tín dụng NH chỉ giải quyết được các vấn đề tạm thời đối với thị trường BĐS.

Bởi lẽ tín dụng NH được đẩy mạnh quá mức vào BĐS sẽ tạo rủi ro lớn, ảnh hưởng tới an toàn hệ thống TCTD nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do nhu cầu tín dụng đối với lĩnh vực BĐS có thời gian vay vốn dài (khoảng 94% dư nợ tín dụng BĐS có thời gian vay vốn 10-25 năm), trong khi nguồn huy động của TCTD chủ yếu là ngắn hạn (chiếm 80%) với lãi suất thay đổi theo thị trường, vì vậy các TCTD sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoản. Do đó, cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ tín dụng chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro thời gian qua.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Công ty chứng khoán nội bắt đầu “ngấm đòn”

https://www.saigondautu.com.vn/chung-khoan/cong-ty-chung-khoan-noi-bat-dau-ngam-don-108112.html

Công ty chứng khoán nội bắt đầu “ngấm đòn”

Thứ Ba, 9/8/2022 08:34

(ĐTTCO) – Chuỗi điều chỉnh sâu và dài của thị trường chứng khoán (TTCK) trong những tháng gần đây, khiến cho nhiều công ty chứng khoán (CTCK) nội đang lãi to chuyển sang lỗ nặng. Tuy nhiên, phía ngược lại các CTCK ngoại vẫn sống khỏe nhờ… cho vay.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Lỗ “kinh hoàng”

Tính đến thời điểm hiện tại, có gần 50 doanh nghiệp (DN) niêm yết báo lỗ trong quý II vừa qua, trong đó có gần 20 DN lỗ trên 100 tỷ đồng. Điều bất ngờ là danh sách các DN thua lỗ có sự góp mặt của hàng loạt CTCK, và đây đều là những DN ghi nhận lợi nhuận đột biến trong các quý trước đó.
Theo thống kê, tổng lợi nhuận trước thuế của Top 30 CTCK hàng đầu chỉ còn khoảng 3.300 tỷ đồng, tức đã giảm 3.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm ngoái và thấp hơn khoảng 5.000 tỷ đồng so với con số kỷ lục của quý IV-2021.

Đơn cử là CTCK Rồng Việt (VDS) với lãi ròng quý II-2021 đạt gần 150 tỷ đồng, nhưng ở quý II vừa qua bất ngờ báo lỗ gần 234 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm VDS lỗ ròng sau thuế 129 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi 247 tỷ đồng.
Tương tự, báo cáo tài chính vừa được CTCK APEC (APS) công bố cũng ghi nhận con số “kinh hoàng” với cổ đông: chỉ riêng trong quý II APS lỗ ròng gần 363 tỷ đồng, tương đương mức giảm hơn 9 lần so với cùng kỳ năm ngoái. CTCK Tiên Phong (ORS), một thành viên thuộc hệ sinh thái của TPBank, cũng công bố kết quả kinh doanh quý II hết sức tiêu cực dù doanh thu tăng mạnh.
Cụ thể, doanh thu hoạt động trong kỳ đạt 660 tỷ đồng (tăng 132%), nhưng lợi nhuận ròng của ORS lại âm gần 129 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi hơn 54 tỷ đồng. Đây cũng là khoản lỗ kỷ lục nhất của DN này kể từ khi niêm yết trên TTCK.
“Ngã ngựa” tự doanh

Hầu hết các CTCK thua lỗ ngoài sự sụt giảm doanh thu môi giới, thì nguyên chính là khoản lỗ tự doanh. Đơn cử APS đã cắt lỗ các mã CP có tính chất đầu cơ như: IDJ, NBB, TCH, ATT, PHC, CEO. Không chỉ thua lỗ CP niêm yết, APS còn lỗ nặng khi đầu tư vào CP chưa niêm yết là Thép Đình Vũ.
Trong khi đó, ORS đã cắt lỗ loạt CP và trái phiếu trong danh mục, dẫn đến việc hạch toán lỗ các tài sản tài chính (FVTPL) tăng 488%, lên gần 528 tỷ đồng. Trong quý II, ORS đã cắt lỗ loạt CP niêm yết với giá trị hơn 87 tỷ đồng, cắt lỗ trái phiếu chưa niêm yết hơn 280 tỷ đồng.

Theo đại diện ORS, nguyên nhân thua lỗ là do chi phí tăng cao chủ yếu từ hoạt động tự doanh bị ảnh hưởng từ việc VN Index giảm mạnh. Giải trình về nguyên nhân thua lỗ, ông Nguyễn Đỗ Lăng, Tổng giám đốc APS, thừa nhận kết quả kinh doanh “thụt lùi” phần lớn do hoạt động tự doanh.
Với giải trình tương tự, Phó Tổng giám đốc VDS Lê Minh Hiền, cho rằng diễn biến TTCK không thuận lợi đã ảnh hưởng mạnh đến kết quả kinh doanh, đặc biệt là hoạt động đầu tư tự doanh và hoạt động kinh doanh môi giới.

Việc VDS thua lỗ có phần bất ngờ bởi danh mục tự doanh của CTCK này phần lớn là những mã CP cơ bản như: CTG, TCB, DBC. Đây cũng là tình trạng chung của các CTCK lớn như CTCK Sài Gòn (SSI), CTCK TPHCM (HCM), CTCK Bản Việt (VCI). Các CTCK này may mắn không thua lỗ nhờ duy trì được doanh thu môi giới, nhưng lợi nhuận cũng có dấu hiệu “hụt hơi” vì mảng tự doanh của CTCK dù danh mục đầu tư phần lớn là CP cơ bản.

Bài học không cũ

Nếu các CTCK nội “lao đao” vì hoạt động tự doanh, thì các CTCK ngoại vẫn sống khỏe bất chấp diễn biến tiêu cực của thị trường chung. Điển hình là CTCK KB Việt Nam (KBSV) với lợi nhuận sau thuế đạt gần 76 tỷ đồng (tăng 21%). Kết quả kinh doanh khả quan của KBSV có được là nhờ doanh thu từ mảng cho vay margin tăng cao. Mặt khác, việc hoàn tất tăng vốn điều lệ cũng giúp DN có nguồn vốn dồi dào phục vụ hoạt động kinh doanh.
Tương tự, CTCK Mirae Asset (MAS) cũng là CTCK ngoại ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý II. Theo đó, mảng kinh doanh chủ lực là cho vay margin duy trì tăng trưởng tốt cộng với nguồn thu từ mảng đầu tư giữ đến ngày đáo hạn (HTM) tăng 88% so với cùng kỳ. Đây là yếu tố giúp MAS báo lãi trước thuế tăng 11% lên 239 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế cũng tăng 30% lên 195 tỷ đồng.

Mức độ phân hóa lợi nhuận khi thị trường giảm sâu phần nào cho thấy sự căn cơ trong hướng đi của các CTCK ngoại so với các CTCK nội. Nếu CTCK nội tập trung nguồn lực vào mảng tự doanh, thì các CTCK ngoại lại hướng đến yếu tố chất lượng dịch vụ. Trong ngắn hạn, các CTCK ngoại có thể sẽ bị bỏ rơi về lợi nhuận, nhưng về dài hạn hướng đi của các CTCK ngoại lại tỏ ra hiệu quả hơn, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường không thuận lợi.
Trong quá khứ, nhiều CTCK nội từng nếm “trái đắng” từ mảng tự doanh dẫn đến phá sản hoặc “bán mình” cho CTCK ngoại. Dẫn chứng là ORS trước khi “về tay” TPBank, đã từng bị UBCKNN đình chỉ mảng tự doanh do thua lỗ 2 năm liên tiếp.

Có thể nói, kết quả kinh doanh của các CTCK ngoại chính là “hồi chuông” cảnh tỉnh cho các CTCK nội đang coi trọng mảng tự doanh. Điều đáng nói là mảng tự doanh bị giới đầu tư nghi ngờ về tính minh bạch khi cạnh tranh trực tiếp với khách hàng.
Thực tế, với tiềm lực tài chính hùng hậu, các CTCK ngoại đua nhau tăng vốn lên hàng ngàn tỷ đồng và gây ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ với các CTCK nội trên mọi phương diện, từ chất lượng dịch vụ cho tới số lượng chi nhánh và đặc biệt ở khả năng cung cấp nguồn vốn cho vay margin. Riêng trong quý II vừa qua, có 3 CTCK ngoại xuất hiện trong Top 10 dư nợ và đều là các CTCK của Hàn Quốc.

Dù giá đã tăng trở lại, nhưng NĐT nắm giữ CP CK khó hy vọng “về bờ”, bởi phần lớn mã CP thuộc nhóm ngành này đã giảm trung bình 50% sau đợt điều chỉnh gần đây.

KIM GIANG

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

https://www.saigondautu.com.vn/chung-khoan/thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-kenh-dau-tu-hieu-qua-va-cong-cu-phong-ngua-rui-ro-108113.html

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Thứ Ba, 9/8/2022 08:26

(ĐTTCO) – Ngày 10-8-2017, thị trường chứng khoán phái sinh (TTCK PS) chính thức được khai trương giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội (HNX) với sản phẩm phái sinh đầu tiên được giao dịch trên thị trường là hợp đồng tương lai (HĐTL) trên chỉ số VN30.

Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Năm 2019, TTCK PS có thêm sản phẩm HĐTL trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn 5 năm, và năm 2021 tiếp tục đưa vào giao dịch sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 10 năm.
Đến nay, sau 5 năm đi vào hoạt động, TTCK PS đã hoạt động một cách an toàn, hiệu quả và thông suốt, từng bước tăng trưởng ổn định, quy mô và thanh khoản có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút sự tham gia ngày càng tích cực của các nhà đầu tư (NĐT) trong nước và nước ngoài. Hệ thống các thành viên giao dịch trên TTCK PS cũng phát triển nhanh chóng, từ 7 công ty chứng khoán (CTCK) thành viên khi mới khai trương đến nay đã có 23 CTCK đáp ứng các điều kiện về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu tối thiểu từ 900 tỷ đồng trở lên.

Thị trường phái sinh từng bước phát triển

Theo thống kê, giao dịch sản phẩm HĐTL VN30 có sự tăng trưởng liên tục qua các năm. Nếu như năm 2017, khi sản phẩm HĐTL VN30 mới được đưa vào giao dịch, khối lượng giao dịch bình quân chỉ ở mức 10.954 hợp đồng/phiên, thì trong 7 tháng đầu năm 2022, khối lượng giao dịch HĐTL VN30 đã tăng gấp 21,3 lần, đạt 213.041 hợp đồng/phiên.

Khối lượng giao dịch HĐTL VN30 cao nhất lên tới 506.025 hợp đồng vào ngày 21-6-2022, tương ứng giá trị giao dịch theo danh nghĩa đạt hơn 62.000 tỷ đồng. Khối lượng hợp đồng mở (OI) của sản phẩm HĐTL VN30 cũng liên tục tăng. Tại thời điểm cuối tháng 7-2022, khối lượng OI đạt 40.232 hợp đồng, tăng gấp 5 lần so với thời điểm cuối năm 2017. Mức OI cao nhất lên tới 61.090 hợp đồng vào ngày 14-1-2021.
Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro ảnh 1

Thanh khoản của sản phẩm HĐTL trên chỉ số VN30 đặc biệt tăng mạnh tại những thời điểm chỉ số VN30 giảm mạnh, do ảnh hưởng bởi những thông tin tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hay sự sụt giảm của chứng khoán toàn cầu.

Đối với sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm và 10 năm, khối lượng giao dịch còn ở mức khiêm tốn do các yếu tố đặc thù của sản phẩm. Trong 7 tháng đầu năm 2022, khối lượng giao dịch bình quân đạt 680 hợp đồng/phiên, còn khối lượng hợp đồng mở OI của HĐTL TPCP là 0 hợp đồng.

Giao dịch của NĐT nước ngoài trên TTCK PS tăng lên hàng năm, năm sau thường tăng gấp 2 – 3 lần năm trước. Năm 2017, giao dịch của NĐT nước ngoài chỉ chiếm tỷ trọng giao dịch 0,1%, nhưng 7 tháng đầu năm 2022, số liệu TTCK PS giao dịch của NĐT nước ngoài chiếm 2,2% tổng khối lượng giao dịch trên toàn thị trường.
Khẳng định là kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro

Sau 5 năm hoạt động, TTCK PS đã có sự tăng trưởng vượt các kỳ vọng đặt ra, và trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn thu hút các NĐT trong bối cảnh TTCK cơ sở nhiều biến động. Đặc biệt, khi TTCK cơ sở sụt giảm, cơ hội kiếm lời trên thị trường này không còn, thì NĐT sẽ tìm kiếm lợi nhuận trên TTCK PS, vì thị trường này cho phép họ kiếm lợi ngay cả khi thị trường cơ sở sụt giảm.
Thị trường chứng khoán phái sinh: Kênh đầu tư hiệu quả và công cụ phòng ngừa rủi ro ảnh 2

Bên cạnh vai trò là một kênh đầu tư, TTCK PS còn thể hiện vai trò phòng vệ rủi ro cho TTCK cơ sở. Đặc biệt, khi TTCK cơ sở giảm điểm mạnh, TTCK PS góp phần làm giảm áp lực bán tháo trên TTCK cơ sở, giúp ổn định tâm lý NĐT, giảm quy mô và mức độ sụt giảm trên thị trường cơ sở.

Có thể nói, TTCK PS là giải pháp hữu hiệu để giữ chân NĐT, tránh tình trạng tháo chạy khỏi TTCK cơ sở khi sụt giảm. Dữ liệu thực tế cho thấy, thanh khoản của TTCK PS thường tăng lên trong các giai đoạn TTCK cơ sở có biến động mạnh, điều này có thể thấy rõ trong thời kỳ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Đây cũng chính là phản ứng tự điều chỉnh của thị trường, giúp trấn an và ổn định tâm lý NĐT.

Tiếp tục phát triển theo lộ trình

TTCK PS Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm mạnh mẽ của công chúng đầu tư trong nước và quốc tế, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh liên tục gia tăng. Tính đến cuối tháng 7-2022, đã có 1.054.683 tài khoản giao dịch phái sinh của các NĐT được mở, tăng gấp 423 lần so với năm 2017.

Hoạt động giao dịch vẫn tập trung chủ yếu ở các NĐT cá nhân trong nước, tuy nhiên cơ cấu NĐT đã có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng giao dịch của NĐT cá nhân, tăng tỷ trọng giao dịch của NĐT tổ chức. Nếu như năm 2018, gần 99% giao dịch được thực hiện bởi các NĐT cá nhân thì tỷ trọng này giảm xuống còn khoảng 86% trong những tháng cuối năm 2019 và còn 72,4% trong 7 tháng đầu năm 2022.

Sự quan tâm của công chúng đầu tư với những sản phẩm đầu tiên trên TTCK PS là tiền đề để tiếp tục triển khai các sản phẩm chứng khoán phái sinh tiếp theo như hợp đồng quyền chọn chỉ số cổ phiếu, HĐTL và hợp đồng quyền chọn trên cổ phiếu, từng bước đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường. HNX sẽ tiếp tục nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới theo sự phân công của Sở GDCK Việt Nam theo lộ trình đã được các cơ quan quản lý phê duyệt.

Có thể nói, TTCK PS ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển, trở thành một cấu phần không thể thiếu của TTCK Việt Nam, góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK; hỗ trợ sự phát triển bền vững các TTCK cơ sở; tăng cường vai trò của TTCK trong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, đưa TTCK trở thành kênh huy động vốn an toàn, dài hạn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.

HẢI VÂN

7 tháng, các ngân hàng phát hành gần 105.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp

https://www.saigondautu.com.vn/ngan-hang/7-thang-cac-ngan-hang-phat-hanh-gan-105000-ty-dong-trai-phieu-doanh-nghiep-108138.html

7 tháng, các ngân hàng phát hành gần 105.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp

Thứ Ba, 9/8/2022 09:16

(ĐTTCO) – Trong tháng 7, nhóm ngân hàng thương mại tiếp tục đứng đầu về giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) với giá trị 15.058 tỷ đồng.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành TPDN với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành TPDN với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành.

Theo dữ liệu Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) tổng hợp, trong tháng 7 (tính đến ngày 29-7-2022), có 22 đợt phát hành TPDN riêng lẻ với giá trị 18.661 tỷ đồng.

Nhóm ngân hàng thương mại hiện đứng đầu về giá trị phát hành với giá trị là 15.058 tỷ đồng, lãi suất phát hành trung bình của nhóm này là 5,91%/năm. BIDV phát hành nhiều nhất với 4.494 tỷ đồng, theo sau là MB (3.000 tỷ đồng) và HDBank (2.184 tỷ đồng).

Nhóm các doanh nghiệp tài chính đứng thứ hai, phát hành 2.225 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ với lãi suất trung bình 6,7%/năm. Trong đó, Công ty Tài Chính Cổ Phần Điện Lực chiếm phần lớn với 1.725 tỷ đồng trái phiếu xanh kỳ hạn 10 năm.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 7-2022, có 17 đợt phát hành ra công chúng với giá trị 8.996 tỷ đồng (chiếm 4,5% tổng giá trị phát hành) và 298 đợt phát hành riêng lẻ trị giá 191.279 tỷ đồng (chiếm 95,5% tổng giá trị phát hành).

Giá trị phát hành trái phiếu ra công chúng giảm 6,1% và giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước.

Nhóm ngân hàng đang dẫn đầu về giá trị phát hành với tổng giá trị 104.703 tỷ đồng, tương đương 52,3% tổng giá trị phát hành. Kỳ hạn từ 1-3 năm chiếm phần lớn giá trị phát hành trong nhóm này với 79.998 tỷ đồng, chiếm 76,4%.

Nhóm bất động sản đứng ở vị trí thứ hai với 44.881 tỷ đồng, chiếm 22,4%. Lãi suất phát hành trung bình của nhóm này là 10,2%/năm.

Y.Lam

Cảnh báo rủi ro xuất, nhập khẩu cuối năm do biến động tỷ giá

https://www.saigondautu.com.vn/kinh-te/canh-bao-rui-ro-xuat-nhap-khau-cuoi-nam-do-bien-dong-ty-gia-108141.html

Cảnh báo rủi ro xuất, nhập khẩu cuối năm do biến động tỷ giá

Thứ Ba, 9/8/2022 09:44

(ĐTTCO)- Doanh nghiệp xuất, nhập khẩu luôn cần chủ động ứng phó với biến động tỷ giá để giảm rủi ro trong những tháng cuối năm.

Thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực.

Thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực.

Từ đầu năm nay, thị trường quốc tế diễn biến phức tạp với nhiều biến động khó lường khi căng thẳng Nga – Ukraine ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống kinh tế – tài chính toàn cầu, tác động mạnh đến giá năng lượng và các hàng hóa cơ bản, làm trầm trọng thêm hệ lụy của sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngân hàng trung ương các nước cũng đẩy nhanh quá trình thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất điều hành nhằm kiểm soát áp lực lạm phát tăng cao kỷ lục trên toàn cầu và thị trường tài chính tiền tệ biến động mạnh. Những diễn biến này ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ và tỷ giá đồng Việt Nam.

Công tác điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ tuy gặp nhiều áp lực do thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng với dự trữ ngoại hối được tích lũy nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước khẳng định đủ tiềm lực sẵn sàng can thiệp thị trường khi cần thiết để bình ổn thị trường và tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời hỗ trợ thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất, nhập khẩu luôn cần chủ động ứng phó với biến động tỷ giá để giảm rủi ro trong những tháng cuối năm.

Theo đánh giá của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, mặc dù thị trường quốc tế biến động mạnh nhưng thị trường ngoại tệ trong nước nửa đầu năm nay vẫn hoạt động ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt. Các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, nhất là nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá theo hướng vừa tạo dư địa để tỷ giá diễn biến linh hoạt, hấp thụ các cú sốc bên ngoài, vừa can thiệp thị trường ngoại tệ để hạn chế biến động quá mức của tỷ giá, nhằm góp phần bình ổn thị trường ngoại tệ.

TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đông tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhìn nhận, có một yếu tố tích cực đó là tỷ giá của Việt Nam vẫn ở mức độ ổn định hơn so với giá trị danh nghĩa của nhiều loại tiền tệ khác từ đầu năm đến nay.

“Có nhiều nước đồng nội tệ đã mất giá danh nghĩa từ 3-8%, thậm chí là trên 10%. Tính chung cả năm nay, chúng tôi dự báo tỷ giá của chúng ta có thể sẽ tăng ở mức khoảng 2- 2,3% hoặc cao hơn một chút là ở mức 2,5%”, TS. Cấn Văn Lực nêu ý kiến.

Nền tảng kinh tế vĩ mô có nhiều hỗ trợ tích cực với điều hành tỷ giá của Việt Nam. Đáng chú ý nhất là kết quả thu hút đầu tư nước ngoài với số vốn thực hiện trong 6 tháng đầu năm nay đạt hơn 10 tỷ USD, cao hơn cả cùng kỳ năm 2019, tức là trước giai đoạn dịch Covid-19. Mức giải ngân tích cực này không chỉ ổn định cung ngoại tệ, mà còn thể hiện niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với đà phục hồi kinh tế của nước ta.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lưu ý, tỷ giá trung tâm ổn định trong 6 tháng đầu năm cho thấy điều hành tiền tệ rất linh hoạt. “Nhưng 6 tháng cuối năm ngoái, tỷ giá ở các ngân hàng thương mại giảm, sang đến 6 tháng đầu năm nay đã điều chỉnh tăng, và ở thị trường tự do tăng nhanh, chênh lệch tỷ giá ngân hàng thương mại với thị trường tự do khoảng 600 – 700 đồng.

Đối với xuất, nhập khẩu, điểm tích cực là duy trì thặng dư thương mại dù có sức ép tỷ giá thời gian tới. Tỷ giá Việt Nam có thể ảnh hưởng khả năng xuất khẩu trong thời gian tới”, ông Dương nhận định.

Có thể nói, thách thức xuất, nhập khẩu 6 tháng cuối năm là làm thế nào duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa trong khu vực, vì cơ cấu xuất khẩu tương đối tương đồng. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận định, tỷ giá USD/VND đã tăng từ đầu năm. Đặc biệt tỷ giá tăng mạnh trong tháng 6 là do FED tăng lãi suất và đẩy giá trị của đồng bảng xanh lên.

“Tỷ giá của tiền đồng tăng có lợi cho xuất khẩu và xuất khẩu là một trong những cột trụ quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, tỷ giá tăng sẽ làm tăng giá nhập khẩu và cũng làm gia tăng nhập khẩu lạm phát từ các nước xuất khẩu hàng sang Việt Nam”, Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu phân tích.

Đặc biệt, các chuyên gia cảnh báo, trong giai đoạn ngắn hạn, đồng Việt Nam đang có xu hướng mất giá so với USD nhưng lại mạnh hơn tương đối so với những đồng tiền khác như Yen Nhật hay đồng tiền chung châu Âu – Euro… Do đó, những doanh nghiệp vay nợ nhiều bằng USD sẽ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn do chênh lệch tỷ giá.

Ngược lại, những doanh nghiệp vay nợ nhiều bằng đồng Euro hay đồng Yen, thời gian tới có thể tăng lợi nhuận tài chính do đánh giá lại chênh lệch tỷ giá. Tuy nhiên, những doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu lớn tại Liên minh châu Âu hay Nhật Bản sẽ chịu bất lợi, bởi thu về những đồng tiền đang mất giá mạnh.

canh bao rui ro xuat, nhap khau cuoi nam do bien dong ty gia hinh anh 2
DN cần chủ động có kịch bản ứng phó với biến động của tỷ giá theo các đồng tiền, thích ứng với từng thị trường xuất, nhập khẩu.

Theo chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, mặc dù các doanh nghiệp chủ yếu giao dịch bằng USD và hiện tiền đồng đang mất giá so với USD song lại tăng giá trị so với các đồng tiền khác như Euro. Do đó, các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau và khác biệt giữa xuất khẩu với nhập khẩu sẽ chịu ảnh hưởng khác nhau, thậm chí là ảnh hưởng ngược chiều.

“Tác động của tỷ giá đối với các nhóm doanh nghiệp sẽ khác nhau, như với Hàn Quốc, do tỷ giá Việt Nam tăng so với WON nên giao dịch sẽ khác so với USD. Vì vậy, thông điệp đến với các nhóm doanh nghiệp với mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ phải có kịch bản, phương án khác nhau”, chuyên gia khuyến nghị.

Ngân hàng Nhà nước khẳng định sẽ tiếp tục nỗ lực điều hành đồng bộ thanh khoản đồng Việt Nam, hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá, thị trường ngoại tệ và mặt bằng lãi suất. Theo đó, tỷ giá sẽ được giữ ở mức độ phù hợp, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu nhất quán của Chính phủ, là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Nhưng từ phía doanh nghiệp, cần chủ động có kịch bản ứng phó với biến động của tỷ giá theo các đồng tiền, thích ứng với từng thị trường xuất, nhập khẩu. Đó là giải pháp tích cực và hiệu quả để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tỷ giá có thể xảy ra, khi giao thương quốc tế trong những tháng cuối năm nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều phức tạp và khó lường.

Trong 7 tháng qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã liên tiếp tăng lãi suất điều hành 4 lần và riêng 2 lần liên tiếp tháng 6 và tháng 7, mức tăng lãi suất là 0,75 điểm phần trăm, lớn nhất trong vòng 28 năm qua và dự kiến tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ trong thời gian tới. Đồng USD trên thị trường quốc tế tăng giá mạnh khiến đồng tiền của nhiều nền kinh tế bị mất giá mạnh, đồng thời cũng tác động bất lợi tới cân đối cung cầu ngoại tệ và tâm lý thị trường trong nước, gây áp lực đối với sự ổn định của tỉ giá và thị trường ngoại tệ.

Tỉ giá USD so với đồng Việt Nam không có xu hướng giảm như năm 2021. Thống kê tỷ giá bán ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm cho đến ngày 1/8 cho thấy, 1 USD = 23.400 VND, tăng 1,1% và ước làm tăng dư nợ Chính phủ bằng USD khoảng 5.000 tỷ đồng so với cuối năm 2021. 1 EUR = 24.385 VND, giảm 9,5% và ước làm giảm dư nợ Chính phủ khoảng 17.000 tỷ đồng. 1 Yen Nhật = 180 VND, giảm 13% và ước làm giảm dư nợ Chính phủ khoảng 45.000 tỷ đồng.

Như vậy, chỉ tính riêng biến động tỷ giá của 3 loại đồng tiền chính là USD, Yen Nhật và EUR, dư nợ Chính phủ tính đến cuối năm 2022 ước giảm khoảng 57.000 tỷ, tương đương giảm 2% so với dư nợ cuối 2021. Ngoài ra, hiện nay khối lượng vay vốn trong nước của Chính phủ chiếm 90%, vay vốn nước ngoài chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng năm. Không những vậy, các khoản vay trong nước của Chính phủ có xu hướng tăng nhanh và chiếm vai trò chủ đạo, nợ nước ngoài giảm dần. Từ đó, giúp làm giảm rủi ro về tỷ giá, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

Theo VOV.VN